Thực trạng và một số biện pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Khánh Hòa - Pdf 13

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thời kỳ hiện nay, thời kỳ hội nhập thời kỳ đất nước đang tiến lên sự nghiệp hóa Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Dân số một vấn đề đang được quan tâm không chỉ ở Việt
Nam mà với các quốc gia trên toàn thế giới. Dân số nảy sinh lên rất nhiều vấn đề trong đó lực
lượng lao động và việc làm là vấn đề bức xúc và cần được giải quyết ngay tại tất cả các quốc gia
trên thế giới không riêng gì đất nước Việt Nam chúng ta.
Tại Việt Nam có tới 80% dân số và 70% lao động sống và làm việc tại nông thôn. Trên
địa bàn cả nước có đến 6 – 7 triệu lao động dư thừa, không có việc làm thường xuyên, trong đó
có 50% lao động có việc làm từ 4 – 5 tháng/năm. Hàng năm lao động cả nước tăng từ 3,4 –
3,5%, trong đó nguồn lao động nông thôn đã tăng nửa triệu. Cùng với sự tăng dân số và quá
trình đô thị hóa ngày càng cao nên đã dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp bình quan trên đầu
người giảm xuống, xảy ra tình trạng đất chật người đông, thiếu việc làm là một điều tất yếu.
Thực trạng này đã và đang là rào cản chính đối với sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân
trí, phát triển nền giáo dục, bên cạnh đó một mối lo không nhỏ đó là phát sinh thêm nhiều tệ nạn
xã hội.
Nhà nước từ lâu đã có chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
chuyển dần lao động nông thôn sang nghề dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp. Do chịu ảnh
hưởng bởi nhiều nguyên nhân vì thế mà quá trình chuyển đổi này đã diễn ra một cách chậm
chạp. Vì vậy thực trạng sử dụng lao động và giải quyết việc làm ở nông thôn cần được quan tâm,
nghiên cứu và tìm ra các biện pháp hữu hiệu để sử dụng nguồn lao động nói chung và nguồn lao
động nông thôn nói riêng một cách hiệu quả, đồng thời các biện pháp đó phải mang tính lâu dài
để phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn.
Mỗi vùng kinh tế có những đặc thù riêng biệt về mọi mặt vì thế việc nghiên cứu phải gắn
sát với sự phát triển của địa bàn nghiên cứu để có thể đưa ra những giải pháp, chính sách hiệu
quả giải quyết việc làm cho lao động mỗi vùng miền.
Khánh Vĩnh là một huyện miền núi thuộc địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Là huyện có địa bàn
khá rộng và phức tạp, địa hình hiểm trở nằm ở đầu nguồn của sông Cái Nha Trang – Khánh Hòa.
Là huyện có diện tích rừng rất lớn, có những tiềm năng du lịch văn hóa lịch sử lâu đời và nền
công nghiệp chế biến lâm sản. Nhiều năm qua mặc dù nền kinh tế có những chuyển biến tích cực
1

5.3. Phạm vi thời gian
Nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động nông thôn tại huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2005
– 2010.
Đề xuất biện pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Khánh Vĩnh giai
đoạn (2011 – 2012).
Đề tài được thực hiện từ tháng 3/2011 đến 5/2011.
3
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ Ở NÔNG THÔN
1.1. Một số khái niệm và đặc điểm liên quan
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về việc làm và thất nghiệp ở nông thôn
1.1.1.1. Việc làm
Bộ luật lao động năm 1994 được bổ sùn sửa đổi năm 2002, 2006, 2007 quy định: “Mọi
hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Như vậy hoạt động việc làm là một hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo
thu nhập hoặc lợi ích cho cá nhân, gia đình người lao động hoặc một cộng đồng nào đó. Với
cách hiểu này đã tạo thuận lợi cho việc tạo việc làm và giải quyết việc làm cho nhiều đối tượng
lao động. Từ đó người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết để tạo việc làm
và tự do thuê mướn lao động theo qui định của pháp luật Nhà nước, để tạo việc làm cho bản thân
mình cũng như việc thuê mướn lao động trong thị trường lao động.
1.1.1.2. Thất nghiệp
Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2002 qui định:
“Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc
làm”.
Như vậy có thể hiểu thất nghiệp là tình trạng không có việc làm, không mang lại thu nhập
cho người lao động còn trong độ tuổi lao động đang muốn tham gia lao động. Một người được
xem là có việc làm nếu người đó sử dụng hầu hết tuần trước đó để làm công việc được trả lương.
Một người được xem là thất nghiệp nếu người đó tạm thời nghỉ việc, đang tìm việc hoặc đang
đợi ngày bắt đầu làm việc mới. Người không thuộc hai diện trên , chẳng hạn là học sinh dài hạn,

đai và công cụ cầm tay, dễ dàng sử dụng, học hỏi và chia sẻ. Vì thế mà khả năng thu hút lao
động cao, tuy nhiều sản phẩm được làm ra với chất lượng thấp, mẫu mã không mát mắt người
tiêu dùng, năng suất lao động thấp từ đó đã làm cho thu nhập bình quân của lao động tại các
vùng nông thôn thấp, dẫn đến tỷ lệ đói nghèo cao so với khu vực thành thị.
1.1.1.4. Phân loại việc làm và thất nghiệp ở nông thôn
a. Phân loại việc làm ở nông thôn
Căn cứ theo thời gian thực hiện công việc, việc làm được chia thành 3 loại:
5
Việc làm ổn định và việc làm tạm thời: Căn cứ vào số thời gian có việc làm thường
xuyên trong một năm.
Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: Căn cứ vào số giờ thực hiện
công việc trong tuần.
Việc làm chính và việc làm phụ: Căn cứ vào khối lượng thời gian hoặc mức độ thu
nhập trong việc thực hiện công việc nào đó.
b. Phân loại thất nghiệp ở nông thôn
Căn cứ vào thời gian mà thất nghiệp được phân chia thành các loại như sau:
Thất nghiệp dài hạn là thất nghiệp liên tục từ 12 thnags trở lên tính từ ngày có dăng ký
thất nghiệp hoặc thời điểm điều tra trở về trước.
Thất nghiệp ngắn hạn là thất nghiệp dưới 12 tháng trở xuống tính từ thời điểm đăng
ký thất nghiệp hoặc thời điểm điều tra trở về trước.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm về lao động nông thôn
1.1.2.1. Khái niệm về lao động nông thôn
Lao động là hoạt động có ý thức của con người, đó là quá trình con người sử dụng công
cụ lao động tác động lên đối tượng lao động cải biến nó tạo ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu
của mình và xã hội.
Lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra của cả vật chất
của những người lao động nông thôn. Do đó lao động nông thôn bao gồm: Lao động trong các
ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ nông thôn…
1.1.2.2. Đặc điểm của lao động nông thôn
Cơ cấu lao động làm nông nghiệp chiếm đến 90 % lao động nông thôn do đó mà đặc điểm của

chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Cơ cấu kinh tế thể hiện mối tương quan giữa các thành
phần, các nhân tố đó. Trong bất kỳ một nền kinh tế quốc dân nào, người ta cũng có thể định tính
hoặc định lượng được mức độ phát triển của CCKT. Các mối quan hệ này một mặt biểu tượng
sự tương quan về mặt số lượng, mặt khác nó biểu hiện mối quan hệ hữu cơ của chúng về mặt
chất lượng và được xác lập trong điều kiện cụ thể với những giai đoạn phát triển nhất định, phù
hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi nền kinh tế.
7
CCKT không chỉ giới hạn về các mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành có tính chất cố định
mà luôn luôn vận động, thay đổi để phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong từng
thời kỳ, nhằm mục tiêu phát triển, tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Để CCKT phát huy hiệu quả thì cần phải có một quá trình, một thời gian nhất định. Thời
gian ấy dài hay ngắn phải tuỳ thuộc vào đặc thù riêng của từng loại CCKT.
Tuy nhiên trạng thái của các điều kiện tự nhiên, xã hội luôn luôn vận động không ngừng.
Do vậy việc duy trì quá lâu một CCKT sẽ làm giảm đi tính hiệu quả do bản thân cơ cấu mang
lại. Điều đó đòi hỏi những nhà quản lý phải có tầm nhìn chiến lược, cập nhập thông tin phục vụ
cho việc hoạch định những chính sách mới và có những điều chỉnh phù hợp kịp thời với yêu cầu
của tình hình mới.
Mặt khác sự thay đổi đột ngột và nhanh chóng sẽ gây ra những tác động tiêu cực, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Cần phải thấy rõ rằng cơ
cấu kinh tế không phải là một mục tiêu được đặt ra do sự nhận thức của chủ quan, mà phải hiểu
đó là một phương tiện để đưa nền kinh tế đặt được sự tăng trưởng ổn định, bền vững. Từ đó phải
có những xem xét đánh giá dựa vào mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế xã hội mà CCKT đó mang lại
như thế nào. Điều này cần thiết cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước, riêng các vùng, các
doanh nghiệp, trong đó có tồn tại cơ cấu kinh tế nông thôn.
1.1.3.2. Cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu kinh tế nông thôn (CCKTNT) là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong khu vực
nông thôn. Nó là cấu trúc hữu cơ các bộ phận kinh tế trong khu vực nông thôn trong quá trình
phát triển, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và
có liên quan chặt chẽ về mặt chất, chúng có tác động qua lại lẫn nhau, trong không gian và thời
gian, phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, tạo thành một hệ thống kinh tế nông

nuôi có hiệu quả kinh tế cao được phát triển và mở rộng, mở mang nhiều ngành nghề,
dần dần đưa kỹ thuật và công nghệ mới vào nông thôn, mở rộng và phát triển các loại
hình tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ nông thôn.
CCKTNT được hình thành và vận động trên cơ sở điều kiện tự nhiên và mức độ lợi
dụng, khai thác cải thiện điều kiện tự nhiên (độ ẩm, ánh sáng, lượng mưa… tức là
những nguồn lực của đầu vào được ban phát bởi tạo hoá). Cơ cấu kinh tế nông thôn,
trong đó có cơ cấu nông nghiệp hướng tới sự chuyển dịch nhằm khai thác tối ưu và
9
cải thiện điều kiện tự nhiên để có lợi cho con người nhất. Đặc trưng cơ bản của
CCKTNT là tác động hàng loạt của các quy luật tự nhiên, kinh tế - xã hội đến phát
triển toàn diện của nông thôn. Qúa trình xác lập và biến đổi CCKTNT như thế nào là
phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, những điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên
nhất định chứ không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của con người. Con người chỉ có
thể nhận thức để tác động thúc đẩy hoặc hạn chế quá trình hình thành và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng có hiệu quả cao theo mục tiêu xác định.
Vì vậy, CCKTNT phản ánh tính quy luật chung của quá trình phát triển kinh tế - xã hội và
được biểu hiện cụ thể trong từng thời gian, không gian khác nhau. Chuyển dịch CCKTNT phải
là một quá trình vận động và có tính quy luật, mọi sự nóng vội hoặc bảo thủ trì trệ trong quá
trình chuyển dịch nó đều gây phương hại đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Vấn đề là
phải biết bắt đầu tư đâu và với những giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn như thế
nào để tác động vào nó sẽ tạo ra phản ứng dây chuyền cho tất cả các yếu tố trong toàn bộ hệ
thống cơ cấu kinh tế nông thôn cùng phát triển, góp phần vào sự tăng trưởng, của nền kinh tế
quốc dân. CCKT mang tính ổn định tương đối trong từng điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
tuy nhiên, xét cả quá trình, nó không cố định, luôn vận động mang tính tất yếu khách quan. Vì
vậy, chuyển dịch CCKT là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối quan hệ của hệ thống kinh
tế theo một chủ đích và định hướng nhất định, nghĩa là đưa hệ thống kinh tế đến các trạng thái
phát triển tối ưu, đạt được hiệu quả tổng hợp mong muốn thông qua các tác động điều khiển có ý
thức, hướng đích của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách
quan.
1.2.1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

về lương thực trong điều kiện trình độ công nghệ và năng suất lao động thấp. Từ đó
mọi yếu tố về nguồn lực tự nhiên và lao động đều phải tập trung vào sản xuất trồng
trọt. Sự biến đổi của khoa học và công nghệ đã tạo điều kiện nâng cao năng suất lao
động và năng suất đất đai. Do đó đã cho phép chuyển bớt các yếu tố nguồn lực cho sự
phát triển của các ngành khác, trong đó có các ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi, phát
triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có nghĩa là sản xuất sản phẩm đển
bán chứ không phải chỉ để tiêu dùng cho bản thân và gia đình họ. Vì vậy, sản xuất ra
loại hàng hoá gì? Số lượng bao nhiêu? Cơ cấu chủng loại thế nào? điều đó không phụ
11
thuộc vào người sản xuất mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ và khả năng tiêu thụ của
thị trường, do sự chi phối của thị trường, đó là mối quan hệ: thị trường - sản xuất hàng
hoá - thị trường. Như vậy, xác lập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng sản xuất hàng hoá trước hết phải từ thị trường và vì thị trường, lấy thị trường
làm căn cứ và xuất phát điểm. Xem đây là giải pháp quan trọng nhất để chuyển dịch
CCKT nông nghiệp, nông thôn.
Chuyển dịch CCKTNT từ nông nghiệp thuần tuý sang phát triển nông nghiệp, lâm
nghiệp và chăn nuôi. là sự chuyển dịch CCKTNT từ nông nghiệp là chủ yếu sang kết
hợp nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi chuyển chúng thành những ngành sản xuất
hàng hoá ở nông thôn.
Chuyển dịch CCKT nông thôn từ thuần nông sang phát triển nông thôn tổng hợp. Các
nhân tố tác động lớn đến chuyển dịch CCKTNT từ thuần nông sang phát triển nông
thôn tổng hợp, bao gồm các ngành nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ nông thôn. Sự phát triển của nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi một mặt
đã cho phép chuyển một số nguồn lực của các ngành này cho sự phát triển công
nghiệp và dịch vụ, mặt khác tạo ra những yếu tố về thị trường đòi hỏi phải có sự phát
triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Sự phát triển này
làm cho CCKT có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng
dần tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Trên cơ sở đó,
lao động cũng sẽ chuyển dịch từ trồng trọt sang chăn nuôi, từ sản xuất nông nghiệp
sang làm dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và chuyển lao động thủ

phẩm với tốc độ nhanh, khuyến khích phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản, ,
khuyến khích nông dân sản xuất các loại sản phẩm phù hợp.
1.2.3.4. Nhà nước trong việc tạo việc làm
Định hướng phát triển kinh tế của nhà nước có vai trò to lớn thúc đẩy quá trình chuyển
dịch CCKTNT. Nhà nước tác động vào nông thôn trước hết thông qua hệ thống định hướng,
điều tiết nền kinh tế theo mục tiêu xác định trong từng thời kỳ. Chính sách kinh tế có vai trò
quan trọng tác động trực tiếp vào môi trường sản xuất kinh doanh ở nông thôn.
1.2.3.5. Điều kiện kinh tế – xã hội
Đây là một tiền đề quan trọng hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN TẠI HUYỆN
KHÁNH VĨNH
2.1. Tổng quan về đơn vị thực tập
2.1.1. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Khánh Vĩnh
2.1.1.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Phòng LĐ – TB&XH huyện Khánh
Vĩnh
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Khánh Vĩnh được tách ra từ Phòng Nội
vụ - Lao động Thương binh và Xã hội huyện Khánh Vĩnh đi vào hoạt động từ ngày 15 tháng 04
năm 2008. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân
dân huyện, tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về
các lĩnh vực như: lao động; việc làm; dạy nghề; tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
thất nghiệp; an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; phòng,
chống tệ nạn xã hội; bình đẳng giới; xoá đói giảm nghèo.
2.1.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hoạt động An sinh xã hội
Khánh Vĩnh là huyện miền núi, địa hình đồi núi rộng và phức tạp, trên địa bàn có nhiều
dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc có nền văn hoá riêng, lối sống riêng, phong tục tập quán khác
nhau, đời sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào nương rãy, trồng trọt và chăn nuôi, kinh tế
phát triển chưa theo kịp các huyện đồng bằng nên có phần ảnh hưởng đến an sinh xã hội.
a. Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng LĐ – TB&XH
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân

huyện.
Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ
phục vụ công tác quản lý Nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực lao động, người có
công và xã hội.
Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ
được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Lao động – Thương binh và Xã
hội.
Tất cả cán bộ, công chức, người lao động của Phòng trong phạm vi nhiệm vụ được giao
phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ, tôn trọng, phục vụ nhân
15
dân, đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, chấp hành kỷ luật lao động, chính sách pháp luật
của Nhà nước.
Hàng tuần cơ quan tổ chức họp để đánh giá công việc làm trong tuần và triển khai công
việc tuần tiếp theo.
Hàng tuần, tháng, quý, 06 tháng, năm Phòng tổ chức sơ kết để rút kinh nghiệm trong
công tác sắp đến. Ngoài ra, hàng quý còn giao ban giữa Phòng và cán bộ Thương binh và Xã hội
các xã, thị trấn.
Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, thống kê gửi về Sở Lao động – Thương binh Xã hội và
trình UBND đúng thời gian quy định.
b. Hệ thống tổ chức, bộ máy của Phòng Lao động- TB&XH
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Khánh Vĩnh gồm có Trưởng Phòng và
02 phó trưởng phòng (Hiện tại thời điểm 2006 - 2010 mới chỉ có 01 Phó trưởng Phòng).
Trưởng phòng phụ trách chung và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Phòng
trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và trước pháp luật về toàn bộ hoạt
động, công tác của Phòng.
Khi Trưởng phòng đi vắng thì uỷ quyền cho Phó phòng điều hành các công việc của
Phòng.
Tất cả quy định của Trưởng Phòng yêu cầu cán bộ công chức và người lao động phải thi
hành nghiêm túc.
Phó trưởng phòng là người giúp Trưởng phòng, chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng và

Giám đốc
Phan Viết Châu
40 cháu
2.1.1.3. Đội ngũ cán bộ, công chức và người lao động tại Phòng Lao động – TB&XH
Tính đến thời điểm 01/8/2010 toàn bộ Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội có tất cả
có 11 cán bộ công chức và người lao động.
BẢNG TỔNG HỢP CÁN BỘ CÔNG CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG
CỦA PHÒNG LAO ĐỘNG – TB&XH HUYỆN KHÁNH VĨNH
STT Họ và tên
Giới tính
Nam Nữ
Chức vụ
Trình độ
chuyên môn
Hệ số
lương
Thời gian
công tác
01 Lê Bình 1957
Trưởng
phòng
Đại học XD
Đảng
4.98 15 năm
02 Văn Tấn Việt 1953 P.T. phòng 4.98 20 năm
03 Phạm Thị Bình 1966 Kế toán
Trung cấp kế
toán
3.86 14 năm
04 Hàng Bảo Long 1964 Cán bộ

Đinh Thị Tưởng: Mẹ, dì nấu ăn, chăm sóc các cháu
Nguyễn Thị Thiện: Mẹ, dì nấu ăn, chăm sóc các cháu
Nguyễn Văn Cảnh: Bảo vệ Nhà tình thương
Giới: Nam 06; nữ 05
Tuổi đời: Từ 27 đến 57
Tuổi nghề: Từ 3 năm trở lên đến 20 năm
Trình độ chuyên môn: 02 đại học; 03 trung cấp ; 02 Cao đẳng
Nhận xét
Với số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, Công chức , người lao động đang làm việc
tại Phòng chưa đạt được những yêu cầu cấp trên đặt ra vì:
− Phòng Lao động – TB&XH huyện là một phòng liên quan nhiều đến các vấn đề chính
sách, an sinh xã hội công việc nhiều hơn so với các Phòng ban khác nên với số lượng
đội ngũ cán bộ, Công chức, người lao động hiện tại của Phòng quá tải hơn so với
công việc và thời gian quy định của Nhà nước. Công tác cán bộ ở Phòng được thực
hiện đúng theo quy trình, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, từng bước xây dựng
đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ. Quy
hoạch cán bộ cơ bản đảm bảo về số lượng, tiêu chuẩn, cơ cấu, được bổ sung, điều
chỉnh hàng năm, làm cơ sở cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí từng bước hạn chế
sự hụt hẫng trong công tác cán bộ.
19
− Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ được coi trọng, trình độ của cán bộ, đảng viên về các
mặt được nâng lên, từng bước tiếp cận về tiêu chuẩn quy định của các chức danh,
trong đó đặc biệt chú ý đến cán bộ là nữ và người dân tộc thiểu số.
− Phòng Lao động – TB&XH có cán bộ là đại học nhưng chuyên môn thì chưa phù hợp.
2.1.1.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật của Phòng Lao động – TB&XH
Điều kiện làm việc:
− Về phòng ốc:
+ 01 Nhà cấp 3.
+ Gồm có 04 phòng làm việc, 01 phòng họp.
=> Nhìn chung về phòng và điều kiện làm việc tương đối ổn định.

trợ.
2.1.1.7. Những thuận lợi và khó khăn
a. Thuận lợi
Phòng Lao động - TBXH có con dấu và sử dụng tài khoản riêng nên thường chủ
động rút các khoản tiền ở kho bạc Nhà nước về để chi trả cho các đối tượng đúng thời
gia quy định.
b. Khó khăn
Khánh Vĩnh là huyện miền núi, đa số cán bộ cấp xã chưa đủ chuẩn về trình độ
nên việc Phòng Lao động – TB&XH triển khai các Văn bản, Nghị định của cấp trên đưa
xuống tuyến xã cán bộ cấp xã triển khai còn chậm làm ảnh hưởng đến các quyền lợi của
người dân.
Mức lương của cán bộ Phòng Lao động – TB&XH hơi thấp nên không thu hút
được sự nhiệt tình của cán bộ.
Hiện tại số lượng công việc của Phòng Lao động – TB&XH rất nhiều hơn so với
các Phòng ban khác, nhưng cán bộ biên chế thiếu (3 biên chế, 7 hợp đồng).
Giám đốc Nhà tình thương huyện là cán bộ hợp đồng, không có chuyên môn để
quản lý và điều hành, hiện tại Nhà tình thương chưa có cán bộ y tế để chăm sóc sức
khoẻ cho các cháu, các mẹ, dì chưa tận tâm trong việc chăm sóc các cháu.
21
2.1.1.8. Kiến nghị
Đề nghị cấp trên thường xuyên mở các lớp đào tạo chuyên môn về ngành Công
tác Xã hội.
Đề nghị cấp huyện, cấp xã luôn quan tâm đến cán bộ tạo điều kiện để họ tham gia
vào các khoá học chuyên môn, phục vụ công tác tốt hơn.
Đề nghị tăng mức lương cho cán bộ Phòng Lao động – TB&XH để đảm bảo cuộc
sống và nhiệt tình trong công tác.
2.1.2. Đặc điểm địa bàn huyện Khánh Vĩnh
2.1.2.1. Điều kiện tự nhiên
a. Đặc điểm địa hình
Khánh Vĩnh là huyện miền núi thuộc tỉnh Khánh Hòa, cách trung tâm thành phố Nha

Khánh Vĩnh là một trong hai huyện miền nũi của tỉnh Khánh Hòa có một mạng lưới thủy
văn đa dạng, hệ thống sông ngòi dày đặc và phân bố không đồng đều trên địa bàn, với 1 con
sông lớn là sông Cái chảy từ địa phận 6 xã của huyện. Hệ thống sông ngòi có mức chảy ổn định
nhưng mùa mưa, nước tại các con sông suối dâng cao đã tạo không ít khó khăn cho các hoạt
động kinh tế của huyện, hệ thống công trình cầu cống chưa đảm bảo nên vẫn xảy ra hiện trạng
các vùng bị chia cắt trong mùa mưa hàng năm.
c. Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản tại huyện Khánh Vĩnh được nhận định là nguồn tài nguyên quan trọng cho sự
phát triển công nghiệp khai thác và chế biến. Khoáng sản gồm các loại như: Thiếc, cao lanh…
song nói đến Khánh Vĩnh thì phải nói đến các loại gỗ quý hiếm, tổng trữ lượng rừng của huyện
lên đến 10 triệu m
3
, trong đó có 9 triệu m
3
tập trung ở rừng rậm và rừng trung bình.
2.1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Đất đai
Từ xưa tới nay đất luôn là nguồn lực quan trọng trong việc hát triển kinh tê – xã hội của
mỗi quốc gia. Qua thống kê đo đạc địa chính, huyện Khánh Vĩnh có tổng diện tích đất tự nhiên
là 116714,37ha (01/01/2009), trong đó đất lâm nghiệp chiếm 57937,12ha; đất nông nghiệp là
36700,55ha. Sau đây là bảng tình hình đất đai huyện Khánh Vĩnh:
Bảng 1: Tình hình đất đai huyện Khánh Vĩnh
Đơn vị tính: Ha
Chỉ tiêu
Năm
2007 2009
Tổng diện tích đất tự nhiên 116714,37 116714,37
I. Đất Nông nghiệp 24480,42 36700,55
23
1. Đất trồng cây hàng năm

5759,13
13027,00
III. Đất phi nông nghiệp 2368,22 2574,83
IV. Đất chưa sử dụng
1. Đất bằng chưa sử dụng
2. Đất đồi núi chưa sử dụng
35678,72
3063,13
32615,59
16931,72
847,11
16084,6
V. Đất chuyên dùng 1350,88 2570,15
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Khánh Vĩnh)
Theo bảng thống kê trên cho thấy đất đai đã được sử dụng vào các hoạt động kinh tế một
cách hiệu quả hơn và diện tích đất chưa sử dụng giảm đáng kể (năm 2007 là 35678,72ha nhưng
đến năm 2009 chỉ còn 16931,72ha).
Đất nông nghiệp chỉ chiếm một phần diện tích đất tự nhiên ( năm 2009 là 36700,55ha so
với diện tích đất tự nhiên là 116714,37ha), trong đó diện tích cây trồng lâu năm tăng khá nhanh
so cới đất trồng cây hang năm và chiếm 28686,07ha năm 2009. Tuy nhiên trong đất trồng cây
hang năm chủ yếu là lúa nhưng đến 2009 diện tích lúa nước đã giảm đáng kể từ 3150,25ha năm
2007 xuống còn 1186,00ha năm 2009. Đối với các loại đất trồng cây nông nghiệp khác lại chiếm
diện tích rất nhỏ cho thấy địa bàn huyện thích hợp đối với việc trồng cây lâu năm hơn.
Quá trình đô thị hóa diễn ra ngày một nahn và mạnh mè đã làm quy mô đất ở và đất
chuyên dung tăng lên. Trong những năm gần đây việc trồng rừng phần nào đã thay thế được diện
tích bị phá, từ đó làm cho đất lâm nghiệp đã tăng lên trong tổng diện tích đất tự nhiên.
Như vậy, huyện Khánh Vĩnh có tổng diện tích đất tự nhiên là 116714,37ha và bình quân
đầu người có diện tích là 3,35ha/người. Có đến 72,2% là diện tích đất lâm nghiệp và đang có xu
hướng tăng nhanh. Trong khi đó đo thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra đã làm dieenjt ích đất
24

33650
29161
17,43
17,96
50,4
II. Tổng số hộ
- Hộ người dân tộc
Hộ
Hộ
6685
5025
7590
5335
III. Nguồn lao động
1. Lao động nữ
2. Lao động ở nông thôn
Người
Người
Người
14027
7213,5
13810
18121
9160,5
16170
IV. Một số chỉ tiêu
1. Khẩu/Hộ
2. Lao động/Hộ
3. Lao động Nông nghiệp/Hộ nông
nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status