Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Khoa kinh tế và quản lý nguồn nhân lực
Đề tài: Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
trên địa bàn huyện Gia Lâm
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS.NGUYỄN NAM PHƯƠNG.
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THANH THUỶ.
Lớp : KINH TẾ LAO ĐỘNG 47.
Khoa : KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC.
HÀ NỘI - 2009

1
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……………………………………………............4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM.............8
I. Một số khái niệm cơ bản và những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm.............8
1. Một số khái niệm cơ bản..............................................................................8
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm..................................................11
II. Một số mô hình lý thuyết tạo việc làm..........................................................16
1.Mô hình lựa chọn công nghệ phù hợp, khuyến khích giá, tạo việc làm........16
2.Mô hình phát triển của Lewis.....................................................................16
3. Mô hình thu nhập dự kiến về sự di cư nông thôn – thành thị.(Harris-
Todaro)............................................................................................................17
III. Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động...............................................17
1. Đối với xã hội............................................................................................18
2.Đối với doanh nghiệp.................................................................................18
3. Đối với người lao động..............................................................................19
IV. Kinh nghiệm của một số nước châu Á trong vấn đề tạo việc làm cho nông
dân bị thu hồi đất..................................................................................................20
1. Kinh nghiệm của Trung Quốc.....................................................................20
2. Kinh nghiệm của Thái Lan.........................................................................21
3. Kinh nghiệm của Nhật Bản........................................................................22

.............................................................................................................................74
1. Đối với thành phố Hà Nội...........................................................................74
2. Đối với chính quyền địa phương...............................................................76

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ-ĐH : Cao đẳng- Đại học.
CHXHCN : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
CNKT : Công nhân kỹ thuật.
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá.
3
CN-XDCB : Công nghiệp- Xây dựng cơ bản.
HTX : Hợp tác xã.
ILO : International Labor Organization.
KVNN : Khu vực nhà nước.
LĐPT : Lao động phổ thông.
LD : Liên doanh.
THCN : Trung học chuyên nghiệp.
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn.
UBND : Uỷ ban nhân dân.
XKLĐ : Xuất khẩu lao động.
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT Tên Trang
Bảng 1 Diện tích đất của các xã, thị trấn thuộc huyện Gia
Lâm.
25
Bảng 2 Diện tích các loại đất nông nghiệp của huyện Gia 26
4
Lâm.
Bảng 3 Diện tích và số hộ bị thu hồi đất nông nghiệp trên
địa bàn huyện Gia Lâm từ năm 2006 đến 2008.

Hình 1 Cơ cấu việc làm mới theo ngành kinh tế. 44
Hình 2 Số lượng việc làm mới theo thành phần kinh tế 45
Hình 3 Cơ cấu việc làm mới theo trình độ chuyên môn kỹ
thuật.
47
Hình 4 Số lượng việc làm mới theo xã. 49
Hình 5 Phân loại HTX. 59
5
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do yêu cầu phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá và hội nhập
sâu vào nền kinh tế thế giới, việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu đô thị... nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển là một thực tế
khách quan, tuy nhiên, quá trình trên cũng đã và đang làm nảy sinh nhiều
vấn đề kinh tế, xã hội rất bức xúc ở các địa phương, nhất là ở những nơi
phương có tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ra nhanh chóng. Mặt
khác, nước ta là một trong những nước đi đầu về tăng trưởng kinh tế nông
nghiệp, nhất là cây lương thực. Từ một nước phải nhập khẩu 1/3 lương
thực mỗi năm đã vươn lên đứng thứ 2 về xuất khẩu lúa gạo. Với một nước
6
ta nông nghiệp, lấy sản xuất lúa nước làm chính, với hơn 70% số dân sống
ở nông thôn, 23% là hộ nghèo, 57% lực lượng xã hội làm trong ngành nông
nghiệp, thì thành tựu này có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội. Nhưng trước
thách thức về đất đai nông nghiệp ngày càng thu hẹp, vấn đề việc làm của
người nông dân sau khi bị thu hồi đất được coi là vấn đề bức xúc nhất. Đây
cũng là thách thức lớn đối với chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn
nói riêng và phát triển đất nước nói chung.
Gia Lâm, một huyện ngoại thành Hà Nội, có vai trò quan trọng, vừa là
khu vực nông nghiệp, nông thôn, vừa là vành đai xanh, cung cấp thực

- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi
đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm từ năm 2006 đến năm 2008.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM
I. Một số khái niệm cơ bản và những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm.
1. Một số khái niệm cơ bản.
1.1. Việc làm.
- Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và
những điều kiện cần thiết ( vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng
sức lao động đó.
- Tổ chức Lao động quốc tế ( ILO ) đưa ra khái niệm: “Việc làm là những
hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”.
8
- Điều 13, chương II Bộ Luật Lao Động nước CHXHCN Việt Nam có ghi
rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm
đều được thừa nhận là việc làm”.
Theo khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai
điều kiện:
- Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn
mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm.
- Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cám. Điều này chỉ rõ tính
pháp lý của việc làm.
Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm:
- Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
- Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhập
cho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật)
cho công việc đó. Đó có thể là các công việc trong các nhà máy, công sở,
các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, đều được coi là việc làm.
1.2. Thiếu việc làm.
Thiếu việc làm là tình trạng người lao động không có đủ việc làm theo

Cơ chế tạo việc làm: cơ chế 3 bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của người
lao động, nhà nước và người sử dụng lao động sao cho cơ hội việc làm và
mong muốn được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị trường
đúng lúc, đúng chỗ.
10
- Về phía người lao động: muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập
cao, đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức
lao động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ
( từ gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững một
nghề nghiệp nhất định.
- Về phía Nhà nước: tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính
sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo
môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ
phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động.
- Về phía người sử dụng lao động: cần có thông tin về thị trường đầu vào
và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ việc làm mà còn duy trì và phát triển chỗ
làm việc cho người lao động. Do đó, người sử dụng lao động cần có vốn để
mua hoặc thuê nhà xưởng; công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật
liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm. Hơn nữa, để mở rộng quy
mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động còn
cần có kinh nghiệm quản lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của nhà
nước trong lĩnh vực lao động, việc làm. Đồng thời đề ra các quy định phù
hợp, quản lý lao động một cách khoa học và nghệ thuật nhằm đạt được mục
tiêu của tổ chức và nâng cao sự thoả mãn của người lao động, khơi dậy
động lực lao động ở mỗi người.
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm.
1.1. Điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một thành phố, một địa
phương đã có sẵn, ngoài ý muốn chủ quan của con người. Đó có thể là đất
đai, màu mỡ hay không màu mỡ, phù hợp với loại cây trồng nào; hay điều

12
- Mức sinh tăng hay giảm cũng ảnh hưởng đến tạo việc làm. Mức sinh cao,
số trẻ em mới được sinh ra nhiều, nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt là của trẻ em
tăng lên. Các khoản chi phí cho giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ và nhiều
lĩnh vực hoạt động khác đều tăng, các dịch vụ khác ăn theo cũng phát triển
hơn, cơ cấu việc làm thay đổi..Nghĩa là cùng với mức sinh tăng lên, nhiều
việc làm mới được tạo ra, quy mô, cơ cấu việc làm đa dạng hơn. Còn mức
sinh giảm nghĩa là số người già đông hơn, vì nhiều lý do mà họ phải gia
nhập trở lại thị trường lao động, áp lực về việc làm tăng lên, tạo việc làm
cho người già trở nên nan giải.
- Mức chết: sự biến đổi của mức chết cũng tác động đến vấn đề tạo việc
làm. Mức chết tăng lên, nhất là mức chết của dân cư trong độ tuổi lao động
cao dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực, nhiều chỗ việc làm không
có người đảm nhận. Hơn nữa khi mức chết tăng cao, số người chết trung
bình hàng năm nhiều lên, dịch vụ phục vụ tang lễ và nhiều hoạt động khác
đi kèm cũng thay đổi, cơ cấu việc làm cũng biến đổi theo. Mức chết giảm
xuống, nhất là mức chết của dân số trong độ tuổi lao động giảm, cung lao
động tăng lên tương đối, nhu cầu và áp lực việc làm tăng theo. Mức chết
giảm xuống, dân số có xu hướng già hoá, số người giá đông hơn, tuổi thọ
trung bình trong dân cư tăng lên....việc làm cho người già, các dịch vụ
chăm sóc người già cũng tăng theo.
- Di dân làm cho quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số ở vùng đi
và vùng đến thay đổi. Di dân thường xảy ra đối với những người đang
trong độ tuổi lao động sẽ dẫn đến cung lao động ở vùng đến tăng lên, ở
vùng đi giảm xuống. Cơ cấu dân số cũng thay đổi: ở vùng đến cơ cấu dân
số thường trẻ hơn, ở vùng đi cơ cấu dân số già đi. Từ đó dẫn đến nhu cầu
tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ sẽ thay đổi. Vùng đến nhu cầu tiêu dùng tăng
13
lên đòi hỏi phải mở rộng sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm. Nhiều ngành
nghề mới ra đời, tạo ra ra nhiều chỗ làm mới.

1.4. Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước.
Cơ chế chính sách của chính phủ quốc gia, của chính quyền địa phương,
các quy định của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố quan trọng tạo việc
làm cho người lao động. Trong mỗi thời kỳ khác nhau, chính phủ sẽ đề ra
những chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải
thiện đời sống, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm của ngành này hay ngành
khác, tạo môi trường để người sử dụng lao động và người lao động gặp
nhau. Chẳng hạn, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần làm thay
đổi cơ cấu kinh tế, do đó cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, theo vùng
cũng thay đổi.
Đảng ta đã xác định phương hướng cơ bản là: “ Nhà nước cùng toàn dân
ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế
xã hội. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân mọi nhà đầu tư
mở mang ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động. Mọi công dân đều
được tự do hành nghề, thuê mướn lao động theo pháp luật. Phát triển dịch
vụ việc làm, tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước,
tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh, quốc
phòng. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động”.
Trong Bộ luật lao động của nước ta quy định: “Người lao động có quyền
làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ chỗ nào mà pháp
luật không cấm”(khoản 1, điều 16). Điều 13 ghi rõ: “Giải quyết việc làm,
bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là
trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội”.
15
II. Một số mô hình lý thuyết tạo việc làm.
1.Mô hình lựa chọn công nghệ phù hợp, khuyến khích giá, tạo việc làm.
Quan điểm cơ bản của mô hình khuyến khích giá cho rằng để sản xuất ra
một mức sản lượng mong muốn, các nhà sản xuất đứng trước hai lựa chọn
lớn: một là có nhiều mức giá khác nhau để mua vốn, lao động, nguyên vật
liệu...phải lựa chọn mức giá sao cho chi phí sản xuất là thấp nhất. Hai là để

cấp lao động dư thừa ở khu vực nông thôn trở nên cạn kiệt.
3. Mô hình thu nhập dự kiến về sự di cư nông thôn – thành thị.(Harris-
Todaro)
Quá trình đô thị hoá diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hoá. Do
đó, di dân từ nông thôn ra thành thị là xu hướng tất yếu khách quan của các
nước trong quá trình phát triển. Những người di cư so sánh mức thu nhập
dự kiến có được trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị với mức
thu nhập trung bình đang có ở nông thôn. Quyết định di cư sẽ được thực
hiện nếu thu nhập dự kiến cao hơn thu nhập thực tế. Thu nhập dự kiến thu
được của người lao động di chuyển tuỳ thuộc vào khả năng có thể kiếm
việc làm ở thành thị, mức lương ở thành thị, độ tuổi di cư. Todaro đề xuất
chính phủ giảm mức lương ở thành thị, xoá bỏ những méo mó về giá cả
của các nhân tố sản xuất, tăng cường việc làm ở nông thôn, áp dụng công
nghệ và chính sách phù hợp.
III. Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động.
Tạo việc làm có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế. Vì sự phát
triển kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng các nguồn lực như tài nguyên,
vốn, lao động, công nghệ, trong đó việc sử dụng lao động có vai trò quan
17
trọng và quyết định tới sự phát triển. Tạo việc làm cho người lao động nói
chung và người nông dân bị thu hồi đất nói riêng có vai trò quan trọng
không chỉ đối với xã hội mà còn đối với doanh nghiệp và bản thân người
lao động. Cụ thể là:
1. Đối với xã hội.
Công nghiệp hoá là xu hướng tất yếu của các quốc gia muốn nhanh chóng
thoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, mức sống
thấp sang nền kinh tế công nghiệp, năng suất cao. Trong quá trình đó sẽ
dẫn dến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, và kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao
động. Hoạt động sản xuất mới ra đời, hoạt động sản xuất cũ mất đi, thất
nghiệp phát sinh. Cho nên, tạo việc làm cho người lao động là cần thiết

của người nông dân. Với nông dân, có đất coi như là đã sống vì ít nhất họ
cũng đủ cơm ăn từ những thửa ruộng của mình. Giờ đây, khi đất canh tác
của người nông dân bị quy hoạch làm khu công nghiệp khu đô thị làm cho
nông dân rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi. Ngoài việc
cày cấy ra, họ không biết làm gì. Không nghề nghiệp, không trình độ.
Người thì bỏ đi làm ăn xa, lao động trẻ bỏ đi cầu thực nơi xa, chỉ còn phụ
nữa, người già, trẻ nhỏ ở lại. Trong khi, họ là những người thường rất dễ bị
tổn thương trước sự chi phối của quy luật thị trường. Cùng với tâm lý lo sợ
rủi ro, lối tư duy “ăn chắc, mặc bền”, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún càng làm
cho cơ hội tìm kiếm việc làm của người nông dân càng trở nên khó khăn.
Tình cảnh “ nghèo thì nghèo thêm, giàu thì giàu hơn” đang là tác nhân
chính khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa người giàu và người
19
nghèo, giữa nông thôn và thành thị. Do đó, tạo việc làm cho nông dân là rất
cần thiết, nhất là những nông dân bị mất đất canh tác. Nông dân là cái nền
của xã hội. Xã hội sẽ không yên nếu cái nền không yên. Mọi sự phát triển,
mọi bước đi sẽ trở nên chông chênh. Không thể đền bù với mức giá thấp
như hiện nay rồi bỏ mặc nông dân trong vòng xoáy của thất nghiệp. Điều
này liên quan đến một loạt các chính sách về giáo dục, đào tạo, đặc biệt đối
với thanh niên, bởi đây là lực lượng nòng cốt, là xương sống để phát triển
kinh tế nông thôn, duy trì bản sắc dân tộc. Nông thôn đang mất đi một lực
lượng lao động quan trọng, khiến cho sự phát triển kinh tế khu vực này bị
kìm hãm. Nếu đẩy mạnh công nghiệp hoá và đô thị hoá không gắn liền với
quyền lợi và công ăn việc làm của người dân nông thôn thì sẽ tạo ra sự mất
ổn định tại nông thôn và làm chậm tiến trình công nghiệp hoá. Việc làm
cho nông dân, hướng đi để phát triển nông thôn bền vững.
IV. Kinh nghiệm của một số nước châu Á trong vấn đề tạo việc làm cho
nông dân bị thu hồi đất.
1. Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Theo quy luật phát triển của xã hội, công nghiệp hoá và đô thị hoá là sự

trí, khu đô thị, kém theo hiện tượng lơ là trong việc áp dụng các kỹ thuật
canh tác mới theo phương châm bền vững khiến đất canh tác bị rửa trôi, xói
mòn hoặc nhiễm mặn. Điều đó khiến người nông dân không mặn mà với
nghề nông, bỏ lại ruộng vườn đến những thành phố lớn kiếm việc, tạo áp
lực việc làm tại các thành phố lớn. Vậy Thái Lan đã giải quyết vấn đề này
như thế nào?
21
- Bên cạnh những chính sách khuyến khích và hỗ trợ nông dân thì vấn
đề liên quan đến “tính mềm” như đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức
của người nông dân được coi trọng hướng đến. Nhiều trường đại học,
cao đẳng, trung học và các khoá học tại chỗ về kỹ thuật canh tác,
chuyển giao công nghệ được mở rộng với nhiều ưu đãi nhằm thu hút
và nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông thôn.
- Tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giảm rủi ro trong
sản xuất nông nghiệp cho người nông dân, xoá bỏ thuế nông nghiệp.
- Triển khai chương trình điện khí hoá nông thôn, xây dựng hệ thống
thuỷ lợi bảo đảm tưới tiêu.
- Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cải tạo đất trồng, cải tạo những
vùng đất thoái hoá, khô cằn nâng cao độ màu mỡ cho đất. Điều này
giúp tăng diện tích đất canh tác cho nông dân, góp phần sử dụng hiệu
quả quỹ đất.
3. Kinh nghiệm của Nhật Bản.
Với diện tích đất canh tác có hạn, dân số đông, đơn vị sản xuất nông
nghiệp chính tại Nhật Bản vẫn là những hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính
chất của một nền văn hoá lúa nước. Nhật Bản đã có một số biện pháp phát
triển khôn khéo và có hiệu quả sau:
- Nhật Bản đã chú trọng phát triển, xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng,
hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc.
- Phân bổ các ngành công nghiệp chế biến dùng sản phẩm của nông
nghiệp làm nguyên liệu trên địa bàn nông thôn.

giao lưu kinh tế, thương mại, trao đổi, giao lưu văn hoá với các vùng lân
cận.
- Đất đai: Theo số liệu thống kê của bộ Tài nguyên và Môi trường năm
2005, tổng diện tích tự nhiên của huyện Gia Lâm là 11472,98 ha. Trong đó,
diện tích đất nông nghiệp là 6437,60 ha bao gồm đất sản xuất nông nghiệp
(6165,57 ha), đất lâm nghiệp (51,34 ha), đất nuôi trồng thuỷ sản (171,93
ha), đất nông nghiệp khác ( 48,76 ha); diện tích đất phi nông nghiệp là
4853,67 ha; diện tích đất chưa sử dụng là 187,71 ha.
Bảng 1 . Diện tích đất của các xã, thị trấn thuộc huyện Gia Lâm.
STT Đơn vị
Diện tích đất ( ha )
Đất nông
nghiệp
Đất phi
nông
nghiệp
Đất
chưa
sử
dụng Tổng
1 Thị trấn Yên Viên 0 100,43 1,22 101,65
2 Xã Yên Thường 574,02 285,20 2,93 862,15
24
3 Xã Yên Viên 140,19 206,19 14,70 361,08
4 Xã Ninh Hiệp 263,42 225,09 0,35 488,86
5 Xã Đình Xuyên 183,14 128,09 3,28 314,51
6 Xã Dương Hà 135,14 130,47 1,81 267,42
7 Xã Phù Đổng 687,02 394,60 84,03 1165,65
8 Xã Trung Mầu 222,97 205,23 0 428,20
9 Xã Lệ Chi 437,79 366,99 5,33 810,11

6017,08
4095,61
79,26
1842,21
1.2.Đất trồng cây lâu năm 148,48
25

Trích đoạn Đặc điểm kinh tế, xã hội Cơ cấu việc làm mới Hiệu quả của tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện trong thời gian tới Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo nghề
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status