TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI XÃ SƠN LÔI,
HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Giáo viên hướng dẫn : Ths. Nguyễn Thị Thu Quỳnh
Người thực hiện : Nguyễn Văn Học
Chuyên ngành : Kinh Tế
Lớp : KTB – K55
Niên khóa : 2010 – 2014
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn
gốc. Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề tài này tại địa
phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương nơi thực hiện để
tài.
Sinh viên
Nguyễn Văn Học
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo
Nguyễn Thị Thu Quỳnh, đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô
Xuất phát từ những vấn đề này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp tạo
việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại xã Sơn Lôi – Bình
Xuyên – Vĩnh Phúc ”.
Đề tài này được thực hiện nhằm phân tích sự thay đổi về việc làm của hộ
nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên,
tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tạo ra nhiều việc làm mới
cho người nông dân. Để đạt mục tiêu chung này, đề tài cần đạt được những mục
tiêu cụ thể sau: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp tạo việc
làm của các hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất; (2) Tình hiểu thực trạng việc
làm, đánh giá hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu
hồi đất trên địa bàn xã Sơn Lôi; (3) Phân tích những thuân lợi, khó khăn, cơ hội,
thách thức của người nông dân sau khi bị thu hồi đất và trong quá trình tìm kiếm
việc làm mới; (4) Đề xuất một số giải pháp tạo việc làm hiệu quả cho người nông
dân bị thu hồi đất góp phần ổn định kinh tế xã hội trên địa bàn xã Sơn Lôi – Bình
Xuyên – Vĩnh Phúc.
Đề tài sử dụng phương pháp chọn điểm nghiên cứu, thực hiện nghiên cứu
tại xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là xã có diện tích đất
nông nghiệp bị thu hồi lớn và điển hình cho quá trình ĐTH, CNH – HĐH tại
iii
huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương
pháp thu thập số liệu thứ cấp từ sách báo, tạp chí, Báo cáo của xã/huyện, Báo cáo
tốt nghiệp của các khóa trước, internet,… Thu thập số liệu sơ cấp bằng cách điều
tra, phỏng vấn trực tiếp chủ hộ dựa trên các câu hỏi điều tra đã được chuẩn bị
sẵn, các câu hỏi xung quanh chủ đề kinh tế hộ, việc làm, và thay đổi việc làm của
người nông dân. Nhằm xác định thực trạng việc làm tại xã. Sau đó tiến hành xử
lý số liệu và phân tích số liệu bằng các phương pháp thống kê mô tả, so sánh…
để đưa ra những đánh giá chung về vấn việc làm của người nông dân trong xã
hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp cho phù hợp.
Khóa luận tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan tới thu hồi đất và
vấn đề việc làm của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất, giúp ta hiểu rõ được các
- Thực trạng về đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp: Từ năm 2010 đến 2012 xã đã tổ chức dạy nghề và giải quyết cho 461
lao động thuộc diện bị thu hồi đất, chiếm 40,23% số lao động được giải quyết
việc làm, được đào tạo các ngành nghề như: may công nghiệp, nấu ăn, cơ khí,
hàn, sửa chữa xe máy, điện dân dụng.
- Thực trạng hỗ trợ vốn cho người lao động bị thu hồi đất: Xã đã tạo việc
làm cho 386/1146 lao động có diện tích đất bị thu hồi được giải quyết việc làm.
Xã cũng đã trích ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho 306 hộ gặp khó khắn trong việc
chuyển đổi nghề sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp
- Thực trạng phát triển ngành nghề của hộ nông dân bị thu hồi đất: Đã có sự
chuyển dịch cơ cấu trong các ngành kinh tế của các lao động sau khi bị thu hồi
đất. Số lao động được giải quyết ở các ngành nghề lĩnh vực là: CN-XD là 528
người, chiếm 46,07%; khu vực nông thôn có 340 người chiếm 29,67%; khu vực
DV là 278 người chiếm 24,26%.
- Thực trạng XKLĐ: số lao động đi XKLĐ chỉ có 72 người, chiếm 6,28%
số lao động bị thu hồi đất được giải quyết việc làm của toàn xã.
- Thực trạng về thông tin thị trường lao động: Tại xã Sơn Lôi, trong giai
đoạn 2010 – 2012, mới chỉ mở được 1 sàn giao dịch việc làm, số lượng doanh
nghiệp tham gia còn quá ít, chỉ có 5 doanh nghiệp tham gia. Do đó số lao động
được tiếp nhận vào các doanh nghiệp qua sàn giao dịch việc làm còn ít. Theo
v
thống kê của xã thì năm 2010 có 25 lao động, năm 2011 là 36 lao động đến năm
2012 thì đã có 166 lao động có việc làm thông qua sàn giao dịch.
- Thực trạng động viên, giúp đỡ người bị thu hồi đất tự tạo việc làm: xã đã
tạo điều kiện cho 1146 lao động có việc làm và việc làm tạm thời trong các lĩnh
vực kinh tế của xã. Trong đó, 885 lao động chuyển nghề tiểu thủ công nghiệp và
làm việc trong các nhà máy; 138 lao động nghề thợ xây; 15 lao động thực hiện
kinh doanh Nhà hàng, nhà nghỉ; 108 lao động chuyển sang kinh doanh, buôn bán
nhỏ.
• Từ thực trang trên rút ra những thuận lơi và khó khăn, cơ hội cùng thách thức
PHẦN II 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
2.1.1 Đặc điểm nông dân và việc làm đối với người nông dân 5
2.1.2 Đất đai và vai của đất đai đối với người nông dân 6
2.1.3 Thu hồi đất và tác động của nó đến vấn đề việc làm của người Nông Dân10
2.1.4 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đât 12
2.1.5 Giải pháp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất 16
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 24
vii
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước châu Á trong vấn đề tạo việc làm cho nông
dân bị thu hồi đất 24
2.2.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất ở nước
ta 26
PHẦN III 32
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU\ 32
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 39
3.2.Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.1. Phương pháp chọn địa bàn và đối tượng nghiên cứu 44
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 45
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu 46
3.2.4 Phương pháp phân tích, số liệu 46
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 46
PHẦN IV 48
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
4.1 Thực trạng công tác thu hồi đất nông nghiệp tại xã Sơn Lôi 49
4.2. Thực trạng lao động, việc làm của các hộ nông dân trên địa bàn xã Sơn Lôi
52
Bảng 3.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị đống góp của các ngành qua các năm
2010, 2011 39
Bảng 3.3 Tình hình dân số, lao động, việc làm trên địa bàn xã Sơn Lôi năm 2011
42
Bảng 3.4 Thống kê các nhà văn hóa thôn trên địa bàn Xã 44
Bảng 4.1 Tình hình thu hồi đất của Xã tính đến năm 2012 49
Bảng 4.2 Tình hình việc làm của người lao động năm 2010 52
Bảng 4.3 Số người trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất nông nghiệp cần giải
quyết phân theo giới tính năm 2010 53
Bảng 4.4 Thống kê số hộ và số nhân khẩu của xã tính đến tháng 5/2011 54
Bảng 4.5 Kết quả giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất 56
nông nghiệp ở xã Sơn Lôi 56
Bảng 4.6 Tổng hợp kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng chuyển
đổi mục đích sử dụng đất xã Sơn Lôi 58
Bảng 4.7 Thời gian hỗ trợ kinh phí và mức kinh phí hỗ trợ dạy nghề 60
Bảng 4.8 Cơ cấu lao động bị thu hồi đất qua đào tạo, học nghề có việc làm tính
đến năm 2012 61
Bảng 4.9 Kết quả giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi dất nông nghiệp ở
xã Sơn Lôi theo ngành kinh tế 65
Bảng 4.10 Tình hình xuất khẩu lao động của xã giai đoạn 2010-2012 66
Bảng 4.11 Thực trạng số lao động được giải quyết việc làm thông qua thị trường
lao động qua các năm 2010 – 2012 67
x
DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ HỘP
Hộp số 4.2 Ý kiến về chất lượng nguồn lao động 55
Hộp số 4.3 Ý kiến của người nông dân về thực trạng đào tạo nghề 62
Hộp số 4.4 Muốn làm trong công ty, nhà máy, doanh nghiệp 65
Hộp số 4.5 Ý kiến cán bộ về việc XKLĐ 66
Đồ thị 4.1 Số lao động qua đào tạo được giải quyết việc làm giai đoạn 2010-
2012 57
UBND Ủy ban nhân dân
XKLĐ Xuất khẩu lao động
xii
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và trong quá trình
công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước. Do yêu cầu phát triển kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
sâu vào nền kinh tế thế giới, việc xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế, khu đô
thị, thương mại nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển là một thực tế khách quan
của các đô thị Việt Nam.Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị
hóa tất yếu phải thu hồi một số diện tích đất nông nghiệp, đất ở để xây dựng khu
công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu đô thị (KĐT), các kết cấu hạ tầng.
Những năm qua , công tác thu hồi đất đã ảnh hưởng đến đời sống của người
nông dân mất đất và cả nông dân vùng có đất bị thu hồi, trên nhiều mặt. Việc thu
hồi đất đã làm cho không ít người nông dân mất đất canh tác, gặp khó khăn
trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, không có việc làm, thu nhập bấp bênh. Do số
tiền đền bù và hỗ trợ thấp, hơn nữa một bộ phận nông dân không biết sừ dụng
hợp lý số tiền đền bù, nên sau khi tiêu hết không còn nguồn thu nhập, đời sống
không ổn định, thậm chí rơi vào nghèo nàn. Đặc biệt nó còn ảnh hưởng rất nhiều
đến vấn đề việc làm của người dân bị thu hồi đất. Nông dân mất đất không có
việc làm, thiếu việc làm, không phải từ nguyên nhân chính khi thu hồi đất xây
dựng KCN, KTĐ mà do trình độ chuyên môn kỹ thuật của người nông dân
không đáp ứng được nhu cầu của các KCN, KCX. Có một số người không có
việc làm đã sa đà vào con đường kiến tiên phi pháp hoặc tệ nạn xã hội Để thực
hiện có hiệu quả việc thu hồi đất, đồng thời vẫn bảo đảm được việc làm cho
nông dân, các Tỉnh phải thiết lập và quản lý quỹ hỗ trợ đào tạo, phát triển các
mô hình, liên kết chặt chẽ với các cơ sở đào tạo nghề, xây dựng và đổi mới
1
xã chưa đem lại hiệu quả cao và thực sự đây vẫn là một vấn đề bức thiết của
công tác GPMB cần được chính quyền địa phương cùng các cơ quan chức năng
quan tâm giải quyết. Sau một thời gian tìm hiểu về thực trạng công ăn việc làm
của người nông dân sau khi bị thu hồi đất ở xã Sơn Lôi – Bình Xuyên – Vĩnh
Phúc, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
nông nghiệp tại xã Sơn Lôi – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc ” nhằm góp phần giải
quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất tại xã Sơn Lôi.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng việc làm của hộ nông dân trên địa bàn xã sau khi bị thu
hồi đất. Phân tích những thuận lợi và khó khăn, cơ hội cùng thách thức của
người nông dân sau khi bị thu hồi đất trong quá trình tìm kiếm việc làm mới. Từ
đó đề xuất các giải pháp tạo việc làm hiệu quả cho người nông dân bị thu hồi đất
nông nghiệp góp phần ổn định kinh tế xã hội trên địa bàn xã Sơn Lôi – Bình
Xuyên – Vĩnh Phúc.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp tạo việc
làm của các hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất.
(2) Tình hiểu thực trạng việc làm, đánh giá hiệu quả công tác giải quyết
việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn xã Sơn Lôi.
(3) Phân tích những thuân lợi, khó khăn; cơ hội, thách thức của người
nông dân sau khi bị thu hồi đất và trong quá trình tìm kiếm việc làm mới.
3
(4) Đề xuất một số giải pháp tạo việc làm hiệu quả cho người nông dân bị
thu hồi đất góp phần ổn định kinh tế xã hội trên địa bàn xã Sơn Lôi – Bình
Xuyên – Vĩnh Phúc.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu :
Tình hình việc làm và giải pháp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi
đất nông nghiệp tại xã Sơn Lôi – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc.
quốc gia.Nhìn chung, nông dân là những người nghèo, bị phụ thuộc vào các tầng
lớp trên.Ở các quốc gia vùng châu thổ các sông lớn ở Đông Nam Á, người nông
dân lao động nặng nhọc nhưng hiệu quả công việc và năng suất lao động thấp. Ở
5
các nước phương Tây, trung nông là tầng lớp quan trọng, tầng lớp tiểu nông
ngày các ít đi. Ở Mỹ, chủ trang trại có sự hợp đồng với các công ty vật tư, hóa
chất, cơ khí và sử dụng các nhân công tạm thời. Các chủ trang trại chiếm 10%
dân cơ nhưng nông dân làm ra hai phần sản lượng nông nghiệp của Mỹ.
b, Việc làm đối với người nông dân
Việc làm đối với người lao động nói chung và người nông dân nói riêng là
hết sức quan trọng. Có việc làm sẽ tạo cơ hội để người nông dân có thu nhập, tạo
ra của cải, đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình đồng thời đóng góp cho
sự phát triển của xã hội. Đối với mỗi quốc gia, giải quyết tốt vấn đề việc làm sẽ
tạo điều kiện và cơ sở để triển khai các chính sách xã hội khác nhau như văn hóa,
y tế, giáo dục góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội.
2.1.2 Đất đai và vai của đất đai đối với người nông dân
2.1.2.1 Khái niệm về đất
Trên thế giới có rất nhiều khái niệm nói về đất đai , ở mỗi thời giai đoạn,
thời kì lại có một khái niệm mang tính đặc trưng riêng cho từng giai đoạn, thời kì
đó. Dưới đây làm một số khái niệm về đất đai của các nhà khoa học, nhà kinh tế
học ở nhưng thời kì khác nhau:
- Đô-cu-trai-ep (1886): “ Đất là một thể thiên nhiên được hình thành do sự
tác động tổng hợp của 5 yếu tố: khí hậu, sinh vật, đá mẹ, địa hình và tuổi địa
phương”.
- Wiliam: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm
cho cây trồng”
- Các Mác: “Đất là một tư liệu sản xuất đặc biệt, vừa là đối tượng lao
động, vừa là sản phẩm lao động sản xuất của con người”.
6
Từ các khái niệm trên ta có khái niệm hoàn chỉnh về đất như sau: “ Đất
trong đất cũng không đồng nhất. Đất đai được phân bổ trên một diện rộng và cố
định ở từng nơi nhất định. Do vị trí cố định và gắn liền với các điều kiện tự nhiên
(thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước, cây trồng, ) và các điều kiện kinh tế như
kết cấu hạ tầng, kinh tế, công nghiệp trên các vùng và các khu vực nên tính chất
của đất có khác nhau. Vì vậy việc sử dụng đất đai vào các quá trình sản xuất của
mỗi ngành kinh tế cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng tính chất của đất cho phù hợp.
Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng đất đai phải phù hợp với các điều kiện
tự nhiên, kinh tế và chất lượng ruộng đất của từng vùng để mang lại hiệu quả
kinh tế cao. Để kích thích việc sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, Nhà nước
đề ra những chính sách đầu tư, thuế, cho phù hợp với điều kiện đất đai ở các
vùng trong nước.
- Trong nông nghiệp, nếu sử dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuất của nó
không ngừng được nâng lên. Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự
phát triển của lực lượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với việc thực
hiện phương thức thâm canh và chế độ canh tác hợp lý. Sức sản xuất của đất đai
biểu hiện tập trung ở độ phì nhiêu của đất đai. Vì vậy cần phải thực hiện các biện
pháp hữu hiệu để nâng cao độ phì nhiêu của đất đai, cho phép năng suất đất đai
tăng lên.
2.1.2.4 Vai của đất đai đối với người nông dân
- Vai trò của đất đai:
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động. Trong quá trình lao
động con người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ
8
cho con người, vì vậy đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời vừa là sản
phẩm lao động của con người.
Đất đai giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, là tài nguyên quốc gia vô cùng
quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Sự khẳng định vai trò của đất đai như trên là hoàn toàn có cơ sở. Đất đai là
liệu cho công nghiệp và hàng nông sản xuất khẩu.
Ngoài vai trò đối với sản xuất nông nghiệp còn là nơi ở. Từ khi con người
sinh ra và đến lúc qua đời cũng phải cần đất để chôn cất, yên nghỉ vĩnh viễn.
2.1.3 Thu hồi đất và tác động của nó đến vấn đề việc làm của người Nông
Dân
2.1.3.1 Khái niệm thu hồi đất
Theo Khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai2003 : “ Thu hồi đất là việc Nhà nước ra
quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho
tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường thị trấn quản lý theo quy định của luật này.
2.1.3.2 Sự cần thiết phải thu hồi đất
Cùng với quá trình CNH – HĐH, ĐTH là con đường phát triển của mọi
quốc gia trên thế giới. Thực tiễn cho thấy ĐTH là hệ quả trực tiếp của quá trình
CNH – HĐH, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang
phương thức sản xuất công nghiệp, dịch vụ. Trong quá trình ĐTH, tiến trình
phát triển xã hội có sự thay đổi cơ bản, đó là phát triển ĐT kèm theo sự thu hẹp
10
xã hội nông thôn, là sự hình thành các KCN thay thế cho đất canh tác nông
nghiệp. Để tạo quỹ đất phục vụ quá trình đô thị hóa, việc thực hiện thu hồi đất,
giải phóng mặt bằng cho xây dựng các KCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia là việc tất yếu.
2.1.3.3 Tác động của thu hồi đất đến việc làm của người Nông Dân
a, Tác động tích cực của việc thu hồi đất đến việc làm đối với nông dân ở vùng
bị thu hồi đất
Một bộ phận nông dân chuyển sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nâng
cao mức thu nhập, cải thiện cuộc sống. Nông dân còn có thể có việc làm trong
các loại hình thương mại nhỏ, dịch vụ sinh hoạt, phục vụ xây dựng, y tế, vui chơi
giải trí… Các nguồn thu khác mà nông dân có được khi phát triển công nghiệp
và đô thị như phí bồi thường đất, tiền chuyển nhượng thổ cư….
Khi xây dựng các KCN, KĐT Nhà nước đã đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao
thông, thông tin, trường học, bệnh viện và các loại hình dịch vụ khác… Nhờ đó
nghiệp. Một phần vì với phần lớn người lao động bị thu hồi đất quen với nghề
nông. Mất đất canh tác đồng nghĩa với việc họ mất nơi lao động hoạt động sản
xuất. Những lao động này thường quen với việc thuần nông, không có tay nghề,
không có trình độ. Để kiếm được việc làm, họ cần phải cạnh tranh với số lượng
lao động được đào tạo bởi các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề khá nhiều.
Biết được sự bất lợi của mình thế nhưng nhiều lao động lại không cố gắng khắc
phục những yếu kém, mà trở nên buông xuôi, không muốn nỗ lực trong việc
nâng cao trình độ kiến thức với mong muốn tìm được công việc mới tốt hơn.
12