Giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRƯƠNG VĂN HÒA

Tên đề tài:
“GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐỒNG BẨM,
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học: : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Trần Cương

Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay em đã hoàn thành bài
báo cáo thực tập tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên với đề tài “Giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất
nông nghiệp trên địa bàn xã Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên”.

KCN: Khu công nghiệp
PTBQ: Phát triển bình quân
BQ: Bình quân
ĐVT: Đơn vị tính
SL: Số lượng
CC: Cơ cấu
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
THCN: Trung học chuyên nghiệp
CĐ – ĐH: Cao đẳng – đại học
HTX: Hợp tác xã
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
LD: Liên doanh
GTSX: Giá trị sản xuất
NN: Nông nghiệp
CN – XD: Công nghiệp – xây dựng
TM – DV: Thương mại – dịch vụ
BHYT:
Bảo hiểm y tế

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 2
3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học . 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn. 3

3.1.3. Đánh giá chung về đặc điểm điều kiên tự nhiên – kinh tế xã hội của xã
Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên. 34
3.2. Thực trạng lao động và việc làm trên địa bàn xã Đồng Bẩm. 36
3.2.1. Thực trạng lao động 36
3.2.1.1. Số lượng lao động theo giới tính 36
3.2.1.2. Cơ cấu lao động. 39
3.2.1.3. Chất lượng lao động 40
3.2.2. Tình hình việc làm của nông dân thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp tại
xã Đồng Bẩm. 41
3.2.2.1. Quá trình thu hồi đất nông nghiệp. 41
3.2.2.2 Tình hình việc làm của nông dân thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp.
43
3.3. Thực trạng tạo việc làm cho nông dân thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp
của các hộ điều tra tại xã Đồng Bẩm. 46
3.3.1. Thực trạng tạo việc làm của các hộ điều tra. 46
3.3.2. Các ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến người nông dân. 56
3.3.3. Chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất. 57
3.4. Đánh giá chung về thuận lợi và khó khăn trong tạo việc làm cho người
dân thuộc diện thu hồi đất. 59
3.41. Thuận lợi. 59
3.4.2. Khó khăn 60
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 64
4.1. Định hướng và mục tiêu nhằm ổn định đời sống và tạo việc làm ổn định cho
người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đồng Bẩm 64
4.1.1. Định hướng 64
4.1.1.1. Định hướng ổn định sản xuất 64
4.1.1.2. Định hướng tạo việc làm ổn định 64
4.1.2. Mục tiêu 65
4.1.2.1. Kinh tế 65

nghiệp ở xã Đồng Bẩm 44
Bảng 3.8: Số người trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở nhóm
điều tra 46
Bảng 3.9: Tình hình việc làm của người lao động sau khi bị thu hồi đất ở
nhóm điều tra 47
Bảng 3.10: Cơ cấu lao động có việc làm mới theo giới tính 48
Bảng 3.11: Kết quả giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất theo tuổi.
50
Bảng 3.12: Kết quả giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp theo ngành kinh tế. 51
Bảng 3.13: Kết quả giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông
nghiệp theo thành phần kinh tế ở nhóm điều tra. 53
Bảng 3.14: Số lượng lao động có việc làm mới theo trình độ 54
chuyên môn kỹ thuật 54
Bảng 3.15: Phân tích SWOT đối với người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp . 56
Bảng 3.16: Thực trạng hỗ trợ giải quyết ổn định đời sống từ các cấp chính
quyền và doanh nghiệp đối với các hộ nông dân bị thu hồi đất 58
Bảng 3.17: Chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất 59

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biểu đồ 3.1. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của xã Đồng Bẩm 34
Biểu đồ 3.2: Sự thay đổi số lượng lao động trong độ tuổi theo ngành kinh tế
xã Đồng Bẩm qua 3 năm 2011 - 2013 38
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu lao động xã Đồng Bẩm năm 2011 39
Biểu đồ 3.4: Cơ cấu lao động xã Đồng Bẩm năm 2013 39
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu diện tích các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn
xã Đồng Bẩm theo các xóm 43
Biểu đồ 3.6: Cơ cấu lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp có việc làm
mới và chưa có việc làm 45

với chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng và phát triển đất
nước nói chung.
Đồng Bẩm là một xã ngoại thành thành phố Thái Nguyên, có vai trò
quan trọng, vừa là khu vực nông nghiệp, nông thôn, vừa là vành đai xanh,
cung cấp thực phẩm cho thành phố. Nhưng với sự phát triển của thành phố,
cùng với quá trình đô thị hoá nông thôn, diện tích đất nông nghiệp của xã
cũng đang phải nhường chỗ cho các khu đô thị, trường đại học. Người nông
dân quanh năm chỉ bám với đồng ruộng, hoạt động lúc nông nhàn của họ
cũng gắn liền với cánh đồng. Việc sản xuất lại phụ thuộc phần lớn vào tự
nhiên. Mặt khác, người nông dân thường rất dễ bị tổn thương trước sự chi
phối khắc nghiệt của thị trường. Giờ mất đất, mất tư liệu sản xuất, nông dân
không có việc làm, cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Quá trình trực tiếp thực tế
tại các xóm có đất nông nghiệp bị thu hồi ở xã Đồng Bẩm, tôi nhận thấy được
những khó khăn, bất cập trong đời sống và mưu sinh của người dân sau khi bị
thu hồi đất nông nghiệp. Trong khi đó, việc quy định về hỗ trợ chuyển đổi
nghề và tạo việc làm cho đối tượng bị thu hồi đất nông nghiệp trong chính
2
sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn
tỉnh lại chưa được chú trọng.
Với một xã còn gặp nhiều khó khăn như Đồng Bẩm, tạo việc làm cho
nông dân mất đất là một bài toán không dễ giải. Chính vì vậy, sau một thời
gian tìm hiểu về thực trạng việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi đất
ở xã Đồng Bẩm, tôi đã quyết định chọn đề tài: “ Giải pháp tạo việc làm cho
người dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đồng Bẩm, thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung

4. Đóng góp mới của đề tài
- Đề tài phân tích được thực trạng về giải quyết việc làm cho người dân
vùng thu hồi đất nông nghiệp.
- Đề tài đề xuất được các giải pháp để giải quyết việc làm cho người
dân vùng thu hồi đất nông nghiệp.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận. Nội dung chính của đề tài bao gồm 4
chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng việc làm và tạo việc làm cho nông dân thuộc
diện thu hồi đất nông nghiệp tại xã Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên.
Chương 4: Một số giải pháp tạo việc làm cho nông dân thuộc diện thu
hồi đất nông nghiệp.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Thu hồi đất và tác động của nó đến việc làm của người lao động
1.1.1.1. Khái niệm thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại
quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai [9].

quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hổ trợ, tái định cư khi
nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất.
- Thông tư số 06/2007/TT-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày
25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ.
- Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ về quy định
bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hổ trợ và tái
định cư.
1.1.1.2. Mục tiêu thu hồi đất
Thu hồi đất nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô
thị hóa.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần
thứ VIII đề ra mục tiêu đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp. Với xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp
truyền thống, với 80% dân cư sống ở nông thôn, và trên 70% lực lượng
lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, muốn trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại hóa như mục tiêu đề ra, thì con đường duy
nhất là chúng ta phải đẩy nhanh sự nghiệp CNH – HĐH. CNH-HĐH trong
thực tiễn bao giờ cũng đi liền với quá trình đô thị hóa, quá trình nâng cấp,
phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và các công trình phục vụ lợi ích công
cộng, lợi ích quốc gia. Về thực chất, đây là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế
theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, cơ cấu lại việc phân bổ
dân cư theo hướng tăng nhanh khối lượng dân cư sống ở khu vực đô thị và
giảm số lượng và tỷ lệ dân cư sống ở khu vực nông thôn. Để làm được công
việc đó, tất yếu là phải phân bố lại các nguồn lực phát triển kinh tế, trong đó
trước hết là nguồn nhân lực, đất đai và lao động. Phải chuyển một bộ phận
đất đai, trước hết là đất nông nghiệp sang phục vụ cho việc xây dựng các
người bị thu hồi đất. Vì vậy, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm hiện
đang là vấn đề bức xúc ở nhiều vùng chuyển đổi đất. Điều đó đòi hỏi việc
giải quyết việc làm cho những người lao động vùng thu hồi đất là một trong
những vấn đề cấp thiết.
7
1.1.2. Nội dung giải quyết việc làm cho
người
lao động vùng thu hồi đất
1.1.2.1. Một số khái niệm
a. Lao động
Lao động sản xuất là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo
ra các loại sản phẩm vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội. Do vậy, lao động
có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định đến sự phát
triển của đất nước [8].
Quá trình lao động là quá trình kết hợp giữa 3 yếu tố của sản xuất, đó
là: Sức lao động - đối tượng lao động - tư liệu lao động, mà trước hết là giữa
con người với tư liệu lao động.
Trong lao động một người có thể sử dụng một hay nhiều công cụ lao
động, có thể vận hành điều khiển một hay nhiều thiết bị mà mỗi loại thiết bị
có một mức độ hiện đại khác nhau
Mối quan hệ giữa tư liệu lao động và sức lao động bao gồm:Yêu cầu
của máy móc thiết bị với trình độ kỹ năng của người lao động.Yêu cầu điều
khiển và công suất thiết bị với thể lực con người.Tính chất đặc điểm của thiết
bị tác động về tâm sinh lý của người lao động. Số lượng công cụ thiết bị so với số
lượng lao động các loại.
Mối quan hệ giữa con người với đối tượng lao động: ở đây cũng có
những mối quan hệ tương tự như trên, đặc biệt là mối quan hệ giữa kỹ năng,

- Lao động thường xuyên
- Lao động tạm thời
+ Phân loại theo trình độ được đào tạo:
- Lao động trình độ cao đẳng, đại học, đại học trở lên
- Lao động trình độ trung cấp
- Lao động trình độ sơ cấp
- Lao động phổ thông
+ Phân loại theo ngành nghề gồm có:
- Lao động nông nghiệp
- Lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
- Lao động dịch vụ
c. Việc làm
- Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và
những điều kiện cần thiết ( vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng
sức lao động đó [8].
9
- Tổ chức Lao động quốc tế ( ILO ) đưa ra khái niệm: “Việc làm là
những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”.
- Điều 13, chương II Bộ Luật Lao Động nước CHXHCN Việt Nam có
ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật
cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
Theo khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn
hai điều kiện:
- Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao
động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và
nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm.
- Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cám. Điều này chỉ rõ

Ở Việt Nam, bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã quy định:
“Người thất nghiệp là những người đủ từ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc
nhưng không việc làm trong tuần lễ điều tra, và tính đến thời điểm điều tra có
đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với
lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâu hoặc trong tuần lễ
trước điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn làm thêm nhưng
không tìm được việc.
f. Tạo việc làm
Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất;
số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để
kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động. [8]
Cơ chế tạo việc làm: cơ chế 3 bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của
người lao động, nhà nước và người sử dụng lao động sao cho cơ hội việc làm
và mong muốn được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị trường đúng
lúc, đúng chỗ.
- Về phía người lao động: muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu
nhập cao, đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển
sức lao động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài
trợ ( từ gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững một
nghề nghiệp nhất định.
- Về phía Nhà nước: tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ,
chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động,
tạo môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ
phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động.
11
- Về phía người sử dụng lao động: cần có thông tin về thị trường đầu
vào và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ việc làm mà còn duy trì và phát triển

thêm việc làm và cải thiện điều kiện làm việc cho người LĐ.
12
- Hoạt động của hệ thống dịch vụ việc làm
Hoạt động của hệ thống dịch vụ việc làm có vai trò rất quan trọng trong
việc kết nối giữa nhu cầu tuyển dụng lao động của DN và người lao động [14].
b. Về phía cầu việc làm
Cầu việc làm bắt nguồn từ đòi hỏi của sản xuất, sự phát triển của nền
kinh tế. Sản xuất càng tăng, qui mô ngày càng mở rộng thì cầu lao động
càng lớn, do đó khả năng tạo việc làm ngày càng tăng.
Mô hình lý thuyết thu nhập dự kiến về sự di cư nông thôn – thành
thị (Harris- Todaro) đã nêu rõ quá trình đô thị hoá diễn ra đồng thời với quá
trình Công nghiệp hóa.
Cầu việc làm đối với cá nhân: Muốn có được việc làm thì về phía cầu
việc làm đối với cá nhân cần phải có trình độ tay nghề tương ứng với yêu
cầu; có năng lực để làm việc (có sức khỏe tốt, có trình độ văn hóa, có ý thức
làm việc ) và nắm được thông tin về thị trường việc làm
Cầu việc làm đối với tổ chức: Cầu việc làm đối với tổ chức là một yếu
tố quan trọng quyết định số lượng việc làm, yêu cầu chuyên môn trình độ của
người lao động cần tuyển dụng.
Cung và cầu việc làm là hai yếu tố của tạo việc làm. Sự cân bằng của 2
yếu tố này phản ánh mức độ tạo việc làm cho người lao động trong một nền
kinh tế [14].
1.1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho nông dân thuộc diện
thu hồi đất nông nghiệp
a. Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một thành phố, một
địa phương đã có sẵn, ngoài ý muốn chủ quan của con người. Đó có thể là đất

yếu phải mở rộng, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng chủng
loại hàng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm; thay đổi cơ cấu ngành nghề.
Nghĩa là số lượng việc làm được tạo ra nhiều hơn, phát triển đa dạng hơn.
- Mức sinh tăng hay giảm cũng ảnh hưởng đến tạo việc làm. Mức sinh
cao, số trẻ em mới được sinh ra nhiều, nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt là của trẻ
em tăng lên. Các khoản chi phí cho giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ và
nhiều lĩnh vực hoạt động khác đều tăng, các dịch vụ khác ăn theo cũng phát
triển hơn, cơ cấu việc làm thay đổi, Nghĩa là cùng với mức sinh tăng lên,
nhiều việc làm mới được tạo ra, quy mô, cơ cấu việc làm đa dạng hơn. Còn
mức sinh giảm nghĩa là số người già đông hơn, vì nhiều lý do mà họ phải gia
nhập trở lại thị trường lao động, áp lực về việc làm tăng lên, tạo việc làm cho
người già trở nên nan giải.
14
- Mức chết: Sự biến đổi của mức chết cũng tác động đến vấn đề tạo
việc làm. Mức chết tăng lên, nhất là mức chết của dân cư trong độ tuổi lao
động cao dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực, nhiều chỗ việc làm
không có người đảm nhận. Hơn nữa khi mức chết tăng cao, số người chết
trung bình hàng năm nhiều lên, dịch vụ phục vụ tang lễ và nhiều hoạt động
khác đi kèm cũng thay đổi, cơ cấu việc làm cũng biến đổi theo. Mức chết
giảm xuống, nhất là mức chết của dân số trong độ tuổi lao động giảm, cung
lao động tăng lên tương đối, nhu cầu và áp lực việc làm tăng theo. Mức chết
giảm xuống, dân số có xu hướng già hoá, số người giá đông hơn, tuổi thọ
trung bình trong dân cư tăng lên, việc làm cho người già, các dịch vụ chăm
sóc người già cũng tăng theo.
- Di dân: làm cho quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số ở vùng
đi và vùng đến thay đổi. Di dân thường xảy ra đối với những người đang
trong độ tuổi lao động sẽ dẫn đến cung lao động ở vùng đến tăng lên, ở vùng

người có trình độ thấp, không đáp ứng được yêu cầu của những công việc đòi
hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Do đó, người lao động muốn kiếm
được việc làm và nhất là việc làm có thu nhập cao phù hợp cần phải có các
thông tin thị trường lao động, biết các cơ hội việc làm và đặc biệt là đầu tư
vào vốn con người cả về thể lực và trí lực. Mỗi người lao động cần tuỳ thuộc
vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, tranh thủ các nguồn tài trợ để
tham gia giáo dục, đào tạo, phát triển sức lao động nhằm nâng cao kiến thức,
nhận thức, kinh nghiệm. Đó cũng chính là điều kiện cần thiết để duy trì việc
làm, tạo cơ hội việc làm có thu nhập, nâng cao vị thế bản thân mỗi người lao
động [15].
d. Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước
Cơ chế chính sách của chính phủ quốc gia, của chính quyền địa
phương, các quy định của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố quan trọng tạo
việc làm cho người lao động. Trong mỗi thời kỳ khác nhau, chính phủ sẽ đề ra
những chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải
thiện đời sống, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm của ngành này hay ngành
khác, tạo môi trường để người sử dụng lao động và người lao động gặp nhau.
Chẳng hạn, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần làm thay đổi cơ cấu
kinh tế, do đó cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, theo vùng cũng thay đổi.
Đảng ta đã xác định phương hướng cơ bản là: “Nhà nước cùng toàn dân
ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế xã
hội. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân mọi nhà đầu tư mở
mang ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động. Mọi công dân đều được
tự do hành nghề, thuê mướn lao động theo pháp luật. Phát triển dịch vụ việc
làm, tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư
16
trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh, quốc phòng. Mở rộng

hoá nâng lên 1,5% thì nhu cầu sử dụng đất tăng lên 1%. Từ năm 2000 đến
17
năm 2005, diện tích đất canh tác của Trung Quốc bị thu hồi đã lên đến 7,3
triệu ha. Do ruộng đất bị thu hồi thì hàng năm có hàng triệu nông dân Trung
Quốc mất đất, thất nghiệp; trung bình mỗi năm tăng thêm từ 2,5 đến 3 triệu
người. Theo tính toán cứ 2 mẫu đất bị thu hồi thì có 3 người nông dân thất
thiệp. Vì vậy, sau khi bị thu hồi đất, vấn đề giải quyết việc làm cho người
nông dân trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
- Tích cực phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp sẽ tạo điều kiện
cho người nông dân có việc làm là chính sách lâu dài mà Trung Quốc đang
tập trung giải quyết. Các địa phương ở Trung Quốc đã có nhiều cách làm khác
nhau để giải quyết vấn đề này như:
- Thành lập quỹ đào tạo, bồi dưỡng nghề cho những nông dân bị thu
hồi đất; khuyến khích các đơn vị ưu tiên sắp xếp công ăn việc làm cho người
nông dân bị thu hồi đất; khuyến khích nông dân lập nghiệp, tạo điều kiện cho
các hộ nông dân bị thu hồi đất vào thành phố mở doanh nghiệp và được
hưởng các chính sách ưu đãi như các đối tượng thất nghiệp ở thành phố.
- Áp dụng chính sách hỗ trợ bảo hiểm xã hội cho người nông dân bị
thu hồi đất. Tất cả các đơn vị tuyển dụng người nông dân bị thu hồi đất vào
làm việc phải ký hợp đồng lao động cho những người này từ 3 năm trở lên,
mức lương hàng tháng không thấp hơn 120% mức lương tối thiểu của địa
phương [12].
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Thái Lan
Trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan đang
giảm dần do tốc độ công nghiệp hoá, sự mở rộng các khu công nghiệp, giải
trí, khu đô thị, kém theo hiện tượng lơ là trong việc áp dụng các kỹ thuật canh
tác mới theo phương châm bền vững khiến đất canh tác bị rửa trôi, xói mòn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status