1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất sớm nhất trong lịch sử phát
triển của nhân loại, từ bao đời nay nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng
trong nền kinh tế nhằm đảm bảo nhu cầu sống của con người. Hiện nay các
nước đang phát triển dựa vào nông nghiệp trong nước để cung cấp lương thực
thực phẩm cho tiêu dùng, nó tạo nên sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát
triển. Nông nghiệp đóng vai trò cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cung
cấp ngoại tệ cho nền kinh tế, cung cấp vốn cho các ngành kinh tế khác, làm
phát triển thị trường nội địa… Đối với Việt Nam thì nông nghiệp là ngành
kinh tế quan trọng, nước ta lấy nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu, hàng
năm tỉ lệ ròng của ngành nông nghiệp vào tổng sản phẩm xã hội là khá cao và
có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy đất nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng
và là vấn đề cốt lõi trong mỗi quan hệ kinh tế.
Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng.
Đất đai được coi là tư liệu sản xuất bởi nó không chỉ là đối tượng lao động mà
còn là tư liệu lao động. Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng trong sản xuất
nông nghiệp. Trong quá trình phát triển xã hội, gắn liền mở rộng hoạt động
sản xuất công nghiệp, dịch vụ… đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, đất đai giờ
đây không chỉ sử dụng vào trồng trọt, chăn nuôi mà còn được sử dụng ngày
càng nhiều để phát triển đa dạng các ngành nghề. Quá trình phát triển kinh tế
- xã hội sẽ kéo theo việc chuyển dịch đất nông nghiệp sang các ngành khác,
diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong tương lai sẽ có xu hướng thu hẹp. Đô
thị hoá phản ánh tiến bộ xã hội, nhưng bên cạnh những mặt tích cực mà nó
mang lại cũng tồn tại những bất cập nếu như trong công tác quy hoạch, kế
hoạch quản lý sử dụng thiếu hợp lý sẽ gây ảnh hưởng đến đời sống xã hội, tài
nguyên đất đai, cảnh quan môi trường làm suy giảm chất lượng của quá trình
đô thị hoá.
Đất nước ta đang phấn đấu để trở thành một đất nước phát triển, quá
đô thị hóa tại xã Cao Ngạn.
1.3. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
- Ý nghĩa trong việc học tập và nghiên cứu khoa học: Là cơ hội cho bản
thân củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường, đồng thời là cơ hội cho
bản thân trực tiếp đi vào thực tế và tiếp cận với vấn đề đô thị hóa.
2
3
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Tìm ra những mặt tích cực và hạn
chế của quá trình đô thị hóa tác động đến vấn đề sử dụng đất nông nghiệp, từ
đó đề xuất ra những giải pháp thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tế của địa
phương góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hóa trong thời gian tới.
1.4. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá đươc điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Cao Ngạn.
- Đánh giá được ảnh hưởng của đô thị hóa đến biến động đất nông
nghiệp tại xã Cao Ngạn.
- Đánh giá được ảnh hưởng của đô thị hóa đến đời sống của hộ nông
dân bị mất đất nông nghiệp.
- Đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo đời sống của hộ nông dân mất đất
nông nghiệp, tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong quá trình đô thị
hóa tại xã Cao Ngạn.
- Số liệu thu thập phải chính xác.
- Đánh giá một cách khách quan.
- Các biện pháp đưa ra phải có tính khả thi, phù hợp với thực tế của
địa phương.
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Căn cứ pháp lý
2.1.1. Các văn bản trung ương
- Kế hoạch số 67/KH - UBND ngày 18 tháng 5 năm 2010 của UBND
thành phố Thái Nguyên về việc triển khai thực hiện công tác lập QHSD đất
đến năm 2020 và KHSD đất 5 năm (2011 - 2015) thành phố Thái Nguyên và
các xã, xã thuộc thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Cơ sở lý luận khoa học
2.2.1. Cơ sở lý luận về đô thị
2.2.1.1. Khái niệm về đô thị
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và
hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp.
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống
và làm việc theo kiểu thành thị.
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông
nghiệp, cơ sơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm
chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước,
của một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện (Vũ Thị Bình và cs, 2008)[1].
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao
động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở tích hợp, là trung tâm tổng hợp
hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước, của cả một miền đô thị, của một đô thị, một huyện hoặc một đô thị
trong huyện.
2.2.1.2. Phân loại và phân cấp quản lý đô thị
Phân loại đô thị thực hiện theo nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07
tháng 05 năm 2009:
- Đô thị được phân thành 6 loại gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I,
đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V.
- Tiêu chuẩn cơ bản để một đơn vị hành chính được phân loại là đô thị:
+ Có chức năng đô thị: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên
ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là trung tâm
của vùng trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước, hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
phân tán. Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập chung các loại hình xí nghiệp thành
khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở
rộng và đa dạng hoá. Tập chung sản xuất kéo theo tập chung dân cư, trước hết
là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị.
6
7
- Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng
với tăng quy mô dân cư đô thị. Những nhu cầu về nhà ở, y tế, sinh hoạt… là
những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường. chức năng
xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính
những nhu cầu phục vụ cho quá trình sinh sống và phát triển của con người
nên phải thay đổi.
- Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giải trí và giáo
dục cao. Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng,
các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn.
- Chức năng quản lý: Tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào
mục đích kinh tế xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân
tộc, vừa nâng cao, khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến
những nhu cầu chính đáng của cá nhân. Do đó, nhà nước phải có pháp luật và
quy chế quản lý về đô thị.
2.2.1.4. Vai trò của đô thị trong quá trình phát trển kinh tế - xã hội
Đô thị đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá,
xã hội.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và
sản xuất phát triển tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hoá nhanh chóng. Đô
thị tối ưu hoá việc sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận
chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị trường linh hoạt có năng suất cao. Các đô thị
tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa
các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn. Đô thị có vai trò to
hoạt động của dân cư từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất
công nghiệp hoặc dịch vụ. Từ đó diễn ra sự chuyển dịch các điểm dân cư
nông thôn sang các điểm dân cư đô thị với quy mô khác nhau. Đô thị hóa là
sự phản ánh những chuyển biến sâu sắc trong cơ cấu kinh tế và trong đời sống
xã hội. Quá trình đô thị hóa gắn liền với sự hình thành và phát triển công
nghiệp, là người bạn đồng hành với quá trình công nghiệp hóa, giữa công
nghiệp hóa và đô thị hóa có mối quan hệ nhân quả khăng khít với nhau.
Ngoài ra đô thị hoá có thể được hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp:
Theo nghĩa rộng: Đô thị hóa là quá trình lịch sử nâng cao vai trò của đô
thị trong sự vận động phát triển của xã hội. Quá trình này bao gồm những
thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân
cư, trong cơ cấu lao động và nghề nghiệp, trong cơ dân số, trong lối sống, văn
8
9
hóa, trong tổ chức không gian môi trường sống của cộng đồng. Đô thị hóa là
quá trình kinh tế - xã hội, nhân khẩu và địa lý đa dạng dựa trên các hình thức
phân công lao động xã hội và phân công lao động theo lãnh thổ đã hình thành
trong lịch sử.
Theo nghĩa hẹp: Đô thị hóa là sự phát triển hệ thống thành phố và nâng
cao vai trò của nó trong đời sống kinh tế - xã hội cũng như tăng tỷ trọng của
dân số đô thị. Đó cũng là sự tập trung dân cư trong các thành phố lớn và cực
lớn cũng như sự phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong toàn bộ mạnh lưới
các điểm dân cư.
Như vậy, đô thị hóa là một bộ phận quan trọng của các quá trình phát
triển kinh tế - xã hội . Nó được thể hiện thông qua quá trình chuyển dịch các
hoạt động của dân cư từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất
công nghiệp hoặc dịch vụ. Từ đó diễn ra sự chuyển dịch các điểm dân cư
nông thôn sang các điểm dân cư đô thị với quy mô khác nhau. Đô thị hóa là
sự phản ánh những chuyển biến sâu sắc trong cơ cấu kinh tế và trong đời sống
xã hội. Quá trình đô thị hóa gắn liền với sự hình thành và phát triển công
2.2.2.2. Tính tất yếu của đô thị hóa
Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi
chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp qua nền kinh tế công nghiệp bằng con
đường công nghiệp hoá thì đều gắn liền với đô thị hoá.
Trong lịch sử cận đại, đô thị hoá trước hết là hệ quả trực tiếp của quá
trình công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa và sau này là kết quả của quá trình cơ
cấu lại các nền kinh tế theo hướng hiện đại hoá (tăng tỷ trọng các ngành công
nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối
lượng GDP). Nhìn chung, từ góc độ kinh tế, đô thị hoá là một xu hướng tất
yếu của sự phát triển.
Do vậy, đô thị hoá là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm,
tình hình chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn
cầu và không thể đảo ngược của sự phát triển xã hội. ĐTH là hệ quả của sức
mạnh công nghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới.
2.2.2.3. Quan điểm của đô thị hóa
Theo tiến sĩ Guoming Wen, đô thị hoá là một quá trình chuyển đổi
mang tính lịch sử tư liệu sản xuất và lối sống của con người từ nông thôn vào
thành phố. Thường quá trình này được nhìn nhận như là sự di cư của nông
dân nông thôn đến các đô thị và quá trình tiếp tục của bản thân các đô thị.
10
11
Ông cũng cho rằng, trong thực tế đô thị hoá là một quá trình phức tạp hơn
nhiều. Bởi tiến trình này đã bộc lộ không ít dấu hiệu của tình trạng quá nóng
và những vấn đề tiềm ẩn, như áp lực gia tăng đối với việc làm và an ninh xã
hội, tình trạng bong bóng xà phong trong lĩnh vực bất động sản buộc Chính
phủ Trung Quốc phải hãm phanh xu hướng này thông qua việc xem xét một
cách cẩn trọng và từng bước kiểm soát đối với quá trình đô thị hoá. (Gayl D.
Ness và cs, 2005)[13].
TS Toshio Kuroda (Nhật Bản) cho rằng đô thị hoá trên tổng số dân cư
trú ở thành phố hoặc dựa trên quan điểm về các vùng có mật độ dân cư đông.
nhập của một địa phương, thường quá trình ĐTH tăng sẽ kéo theo sự gia tăng
của tỷ trọng thu nhập các ngành nghề phi nông nghiệp trong tổng thu nhập.
2.2.3. Quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa
Quá trình đô thị hoá tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, tác động
tới hoạt động sản xuất, công ăn việc làm, giá cả, thu nhập, văn hoá đô thị
hoá tác động nhiều đất đai, đất dùng để xây dựng công trình đường giao
thông, xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, xây dựng trường học, trung tâm y
tế, đô thị hoá đặc biệt làm đất nông nghiệp bị suy giảm và chuyển qua những
mục đích khác. Nhà nước vừa thực hiện chức năng là đại diện chủ sở hữu
toàn dân về đất đai, vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, đồng thời với
bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước còn có nhiệm vụ rất quan
trọng là phục vụ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân. Do đó quản lý
nhà nước về đất đai của quá trình ĐTH không chỉ nhằm mục tiêu phát triển đô
thị mà còn đảm bảo đáp ứng nhu cầu đời sống của người dân. Mặt khác trong
quá trình ĐTH, quan hệ đất đai có nhiều biến động mạnh về cả quyền chi
phối, quyền quản lý và quyền sử dụng, do chức năng đặc biệt quan trọng của
đô thị là chức năng về kinh tế tác động. Vì vậy, trong quá trình ĐTH vấn đề
tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về đất đai là xuất phát từ nhân tố khách
quan do thực tiễn phát triển của đất nước đặt ra.
Dân số đô thị tăng lên đột biến, làn sóng nhập cư ồ ạt khiến cho các
thành phố trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông, mất
trật tự xã hội, gây khó khăn cho chính quyền, đối với Việt Nam và một số
nước trên thế giới thì dân số là cơ sở để phân loại đô thị trong công tác quản
lý và xác định quy mô đất đai của đô thị. Ở các nước phát triển, tốc độ tăng
trưởng dân số đô thị do nhập cư từ nông thôn không đáng kể, còn ở các nước
đang phát triển thì tỷ lệ này là chủ yếu, mà lý do chính là sức hấp dẫn từ sự
chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn, nguồn lao động này là sản
12
13
phẩm nền sản xuất giản đơn, nên công việc họ khi nhập cư chủ yếu là làm
định về tỷ lệ dân đô thị và nông thôn) mà chỉ còn phát triển về chất, nên quy
ước đó là thời điểm kết thúc của quá trình đô thị hóa.
13
14
Bảng 2.1. Dự báo sự phát triển của đô thị thế giới
so với tổng dân số (theo A.Zimm)
Năm 1800 1850 1900 1950 1980 2000 2100
% 3,2 6,9 14 29,4 46,2 51 90
Cùng với sự tăng trưởng dân số đô thị nói chung, quy mô dân số, số
lượng của các đô thị cũng tăng lên, đô thị khổng lồ với hàng chục triệu
dân xuất hiện ngày càng nhiều trên thế giới (chủ yếu là ở các nước đang
phát triển).
Do thời điểm bắt đầu và tốc độ phát triển của công nghiệp hóa khác
nhau, nên sự phát triển của đô thị hóa hiện nay cũng khác nhau giữa các quốc
gia trên thế giới. Trong khi ở các nước phát triển, đô thị hóa tập trung vào
phát triển về chất thì ở các nước đang phát triển lại chủ yếu phát triển về
lượng. Theo các tài liệu thống kê, tỷ lệ đô thị hóa của một số nước phát triển
và đang phát triển hiện nay như sau (số liệu năm 1995):
Các nước phát triển: Bỉ: 95%, Ôxtrâylia: 86% , Đức: 94%, Đan Mạch:
84%, Anh: 91%, Niu Dilân: 84%, Tây Ban Nha: 91%, Thụy Điển: 84%, Ai
len: 90%, Nhật Bản: 78%
Các nước đang phát triển trong khu vực (năm 2000):
Trung Quốc: 25,1% , Indônexia: 36,5%, Philipin: 40%, Mianma: 28,2%, Thái
Lan: 25,9%, Malaixia: 50,1%.
Năm 1950 tổng dân số thế giới là 2.503 triệu người trong đó dân số đô thị
là 735 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa là 29,36%. Năm 1975 tổng dân số thế
giới là 4.078 triệu người trong đó dân số đô thị là 1.561 triệu người, tỷ lệ
đô thị hóa là 38,28%.
Năm 2000 tổng dân số thế giới là 6.129 triệu người trong đó dân số đô thị
là 2.953 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa là 48,18%. Năm 2008 dân số đô thị của thế
ha đất đô thị, nhưng hiện nay, diện tích đất đô thị chỉ có 105.000 ha, bằng 1/4
so với yêu cầu (Bộ Ngoại giao, 2008)[2].
Trước tình hình đô thị hoá như hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt
với nhiều vấn đề. Di dân từ nông thôn sang thành thị khiến cho mật độ dân cư
tăng cao, sẽ có it cơ hội việc làm cho người lao động, từ đó nảy sinh những
tiêu cực trong xã hội. Theo thống kê của Quỹ dân số Liên hợp quốc
15
16
(UNFPA), người di dân nông thôn chiếm 1/3 dân số của TP Hồ Chí Minh
và 1/10 dân số của Hà Nội. Nhà ở không đáp ứng đủ nhu cầu cho người
dân, không tìm kiếm được việc làm khiến cho chênh lệch giàu nghèo trở
nên rõ rệt, đô thị hoá khiến cho môi trường bị huỷ hoại nghiêm trọng,
diện tích đất nông nghiệp suy giảm thay thế vào đó là các khu công
nghiệp, dự án, đường giao thông…
Đô thị hoá là con đường để phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia,
đô thị hoá mang lại thu nhập cao hơn cho người dân, điều kiện sống, lao
động, học tập trở nên tốt hơn. Bên cạnh đó cũng mang lại những mặt tiêu cực,
vấn đề đặt ra là cần những chiến lược cụ thể, hiệu quả của nhà nước để phát
huy nhiều nhất những lợi ích của quá trình đô thị hoá, đồng thời phải giảm
thiểu tối đa những tác động tiêu cực của nó, để hướng tới mục tiêu phát triển
bền vững.
2.3.3. Các công trình nghiên cứu về đô thị hoá trên thế giới và Việt Nam
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các hình thái đô thị và quá trình
ĐTH trên thế giới và khu vực.
Từ cuối thế kỷ XIX, Cerda - kỹ sư người Catalan vẽ quy hoạch thành
phố Barcelone đặt ra thuật ngữ “Urbanization”. Ông tin rằng ĐTH là một kế
hoạch và tồn tại nhiều nguyên lý cơ bản chi phối sự kiến thiết đô thị. Ông
cũng ý thức về tầm quan trọng của việc quản lý thành phố một cách toàn diện
với sự huy động kế hoạch về lĩnh vực của quản lý đô thị (Bassan, Michel,
2001)[12]. Trong nửa đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu khoa học đã có
học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2007). Chương
trình này đã cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc
hoạch định những chính sách đóng góp cho quá trình đô thị hoá của đất nước.
Đại diện Ngân hàng thế giới cũng đã giới thiệu “Báo cáo đánh giá đô
thị hoá tại Việt Nam”, đây là một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về quá
trình đô thị hoá tại Việt Nam với các đại diện ban ngành và báo chí (2012).
Báo cáo nhấn mạnh, đô thị hoá là động lực phát triển kinh tế xã hội. Gần như
tất cả các nước trên thế giới đều phải trải qua đô thị hoá ít nhất 50% trước khi
đạt mức thu nhập trung bình. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi đô
thị hoá từ sơ khai sang giai đoạn cao hơn với tốc độ nhanh. Tuy nhiên, báo
cáo cũng nêu ra những thách thức, tồn tại trong quá trình đô thị hoá, như vấn
đề ùn tắc giao thông ô nhiễm môi trường đã tác động tiêu cực đến sự phát
17
18
triển ở Việt Nam. Người dân tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như nước sạch
và vệ sinh môi trường vẫn ở mức thấp. Hệ thống quy hoạch đô thị của Việt
Nam vẫn chủ yếu dựa trên những nguyên tắc thiết kế, chứ chưa hỗ trợ cho
việc phát huy chức năng của thị trường nhà đất và chuyển động đô thị.
Qua những nghiên cứu trong và ngoài nước ta có thể thấy được sự quan
tâm của các nhà nhiên cứu đối với đô thị hoá ngày càng được nâng cao. Mong
rằng sẽ có nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng về vấn đề này, để đô thị hoá
không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới hướng tới mục tiêu bền vững, giúp
bảo vệ và phát triển môi trường sống của toàn nhân loại trong tương lai.
18
19
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề về lý luận và về thực tiễn về đô thị, đô thị hóa và ảnh
+ Ảnh hưởng của ĐTH tới biến động đất đai của hộ.
+ Ảnh hưởng của ĐTH tới nghề nghiệp của hộ.
+ Ảnh hưởng của ĐTH tới thu nhập của hộ.
+ Tình hình sử dụng tiền bồi thường đất đai của hộ.
* Đánh giá sự ảnh hưởng của ĐTH tới đời sống kinh tế - xã hội của các
hộ thông qua câu hỏi định tính
* Tìm hiểu và đánh giá kế hoạch của hộ trong tương lai
3.3.3.3. Đánh giá chung tác động của đô thị hóa
3.3.4. Đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo đời sống của hộ nông dân mất đất
nông nghiệp, tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong quá trình đô thị
hóa tại xã Cao Ngạn
- Định hướng phát triển ĐTH trên địa bàn xã Cao ngạn tới năm 2020.
- Những giải pháp chủ yếu hạn chế mất đât nông nghiệp và đảm bảo
đời sống kinh tế hộ nông dân bị mất đất nông nghiệp trong khu vực đô thị hoá
- Một số giải pháp cơ bản tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối
với đất đai trong quá trình đô thị hoá tại xã Cao Ngạn.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu thông tin
3.4.1.1. Tài liệu thứ cấp (tài liệu đã được công bố)
Bao gồm :
- Các sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được xuất bản,
các tài liệu trên internet, các văn kiện nghị quyết của trung ương và địa
phương
- Tài liệu, số liệu được công bố của sở tài nguyên và Môi trường Tỉnh
Thái Nguyên, phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Thái Nguyên,
phòng địa chính UBND xã Cao Ngạn, và một số ban ngành có liên quan
20
21
3.4.1.2. Tài liệu sơ cấp
- Số liệu sơ cấp thu thập qua phỏng vấn hộ nông dân có đất bị thu hồi
- Phía Bắc giáp xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ.
- Phía Tây giáp xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương.
- Phía Đông giáp thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ.
- Phía Nam giáp phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên.
4.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Cao Ngạn là một xã nằm về phía Đông Bắc thành phố Thái Nguyên.
Địa hình chủ yếu là đồi núi xen lẫn với đồng bằng.
Nằm ven sông Cầu là con sông chính của tỉnh và gần như chia Thái
Nguyên ra thành hai nửa bằng nhau theo chiều Bắc Nam.
Hướng dốc chính của địa hình : Bắc - Nam.
Độ cao trung bình +1,6m đến 4,0m.
Đây là vùng có vị trí địa lý tương đối thuận lợi cho việc phát triển công
nghiệp, bố trí cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp.
4.1.1.3. Khí hậu, thời tiết
Theo số liệu quan trắc của Trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên cho
thấy xã Cao Ngạn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia
làm 4 mùa; Xuân - Hạ - Thu - Đông, song chủ yếu là 2 mùa chính; Mùa mưa
và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau, cụ thể:
22
23
+ Mùa hè: Nóng ẩm, mưa nhiều được kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10.
+ Mùa đông: Lạnh, khô hanh thường kéo dài từ tháng 11 năm trước đến
tháng 3 năm sau.
Chế độ nhiệt: Hàng năm có nhiệt độ trung bình là 25°C. Chênh lệch giữa
các tháng nóng nhất (tháng 6: 35.0
0
C) và tháng lạnh nhất (tháng 1: 10.0
0
C).
Tính đến hết năm 2009 dân số toàn xã là 6.827 khẩu và 1.784 hộ. Trên
địa bàn xã có một làng nghề làm bún bánh truyền thống ở Gò Chè. Nhân dân
trong xã đoàn kết, cần cù chịu khó.
* Cảnh quan môi trường
Xã Cao Ngạn thuộc địa phận Thành phố Thái Nguyên, nằm trong khu
vực miền núi phía đông bắc Việt Nam mang đặc trưng của vùng ven đô, các
rừng cây dần được thay thế bởi những toà nhà, các nhà máy, đường giao
thông…do tác động tiêu cực của việc sản xuất công nghiệp và sự thiếu ý thức
của một số người dân trên địa bàn đã gây ra tình trạng nguồn nước trên sông
Cầu bị ô nhiễm nghiêm trọng và lượng nước có xu hướng suy giảm qua các
năm, việc chặt phá cây rừng gây nên tình trạng xói mòn, rửa trôi ảnh hưởng
tới diện tích đất dùng cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, do còn thiếu sự
đầu tư trong vấn đề bảo vệ môi trường nên trên địa bàn xã còn nhiều vấn đề
cần giải quyết, tiêu biểu là việc nhà máy xi măng, nhà máy sản xuất vật liệu
xây dựng chưa có những biện pháp xử lý rác thải, khí thải hiệu quả để bảo vệ
môi trường. đây là những vấn đề bức thiết rất cần sự quan tâm của các cấp có
thẩm quyền và sự hợp tác của lãnh đạo các nhà máy.
4.1.1.6. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi
trường liên quan đến sử dụng đất đai
Nằm ở phía Bắc thành phố Thái Nguyên, xã Cao Ngạn có vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội chung của thành phố, quá trình
phát triển đô thị đã diễn ra mạnh mẽ, trên địa bàn xã được đầu tư xây dựng
nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức, công trình công cộng do vậy đang dần dần
mang dáng vóc của một đô thị. Cao Ngạn là xã ven đô đang trong quá trình
phát triển do vậy hạ tầng cơ sở kỹ thuật phát triển vẫn còn thiếu đồng bộ, còn
hạn chế về nhiều mặt.
Mật độ dân số trên địa bàn xã tập trung đông ở một khu vực, đặc biệt là
sinh viên của các trường đại học, trung cấp ở các tỉnh tập chung về học tập và
sự tăng nhanh về các phương tiện giao thông cũng như ảnh hưởng của nước
thải, khí thải, khói, bụi, tiếng ồn trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã gây
2011 7039 1,65
(Nguồn: UBND xã Cao Ngạn, 2011)
25