ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGUYÊN
: Chính quy
Chuyên ngành :
Khoa :
: K42 -
: 2010 - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo
tại các trường Đại học. Đây là thời gian giúp cho mỗi sinh viên làm quen
với công tác nghiên cứu khoa học, củng cố những kiến thức lý thuyết và
vận dụng những kiến thức đó vào thực tế. Thực tập tốt nghiệp là kết quả
của quá trình tiếp thu kiến thức thực tế, qua đó giúp cho sinh viên tích lũy
kinh nghiệm để phục vụ cho quá trình công tác sau này.
Để đạt được mục tiêu trên, được sự nhất trí của khoa Quản Lý Tài
Nguyên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên
cứu đề tài:
,,
Đề hoàn thành đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
các thầy, cô giáo trong khoa , đặc biệt là cô giáo hướng dẫn: Th.s Nguyễn
Thị Huệ, UBND xã Thịnh Đức và bà con nhân dân trong xã đã tạo điều
kiện cho em trong quá trình thực hiện khóa luận. Em xin được bày tỏ
lòng biết ơn tới tất cả sự giúp đỡ quý báu đó.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức bản thân còn hạn
chế. Vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự
chỉ bảo của các thầy, cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Thái nguyên,
Sinh viên
Hội đồng nhân dân
9
HĐH
Hiện đại hóa
10
UBND
Ủy ban nhân dân
Bảng 2.1: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt 9
Bảng 3.1: Phương pháp phân tích các chỉ tiêu trong phòng thí ngiệm 28
Bảng 4.1. Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân 39
Bảng 4.2. Thống kê chất lượng nguồn nước sử dụng từ phiếu điều tra của
Hình 4.4. Lưu lượng nước máy sử dụng 45
Hình 4.5. Hệ thống xử lý sắt trong nước giếng ngầm 55
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1. Mục tiêu của đề tài 2
1.2.2. Yêu cầu của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin 26
3.4.3. Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm 26
3.4.4.Phương pháp so sánh, đối chiếu 28
3.4.5. Phương pháp khảo sát thực địa 28
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội xã Thịnh Đức,thành phố Thái Nguyên
29
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
4.1.1.1. Vị trí địa lý 29
4.1.1.2. Địa hình, địa mạo 29
4.1.1.3. Khí hậu 30
4.1.1.4. Thủy văn 30
4.1.1.5. Các nguồn tài nguyên 31
4.1.1.6. Cảnh quan môi trường 32
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 32
4.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế 32
4.1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 33
4.1.2.3. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 33
4.1.2.4. Dân số, lao động và thu nhập 34 4.1.2.5. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 35
4.1.2.6. Những thuận lợi và hạn chế của xã Thịnh Đức 37
4.2. Nguồn nước và tình hình sử dụng nước sinh hoạt của xã Thịnh Đức,thành
phố Thái Nguyên 38
4.2.1. Nguồn nước của xã Thịnh Đức,thành phố Thái Nguyên 38
4.2.2. Tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Thịnh Đức, thành
phố Thái Nguyên. 45
4.2.3.Các nguồn có khả năng gây ô nhiễm tới nguồn nước trên địa bàn xã
Thịnh Đức,thành phố Thái Nguyên……………………………………45
biệt là những vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và
những cộng đồng dân cư nông thôn vùng xa vùng sâu và thường là nghèo
nhất đã bị tụt hậu .Tình trạng thiếu nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng
ngày là nguyên nhân chủ yếu gây ra những hậu quả nặng nề về sức khỏe
đối với đời sống con người.
Nước uống an toàn và vệ sinh đầy đủ là yếu tố quyết định để giảm nghèo,
để phát triển bền vững và để đạt được bất kỳ mọi mục tiêu phát triển
thiên niên kỷ. Nước sạch là sự sống, cuộc sống của chúng ta phụ thuộc
vào việc chúng ta bảo vệ chất lượng nước của chúng ta như thế nào.?
Nước sạch nông thôn là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng được Đảng
và Nhà nước, Chính phủ đặc biệt quan tâm, góp phần rất lớn vào mục tiêu
cải thiện điều kiện sống và sức khỏe của người dân nông thôn, đẩy nhanh
tốc độ xóa đói giảm nghèo và từng bước hiện đại hóa nông thôn.
Thịnh Đức là một xã thuộc Thành phố Thái Nguyên đây là phạm vi
nghiên cứu quy hoạch trọng điểm của thành phố với các dự án đã và đang
2
được thực hiện.Xã có diện tích tự nhiên 1.708,231 ha(17,1 km²) với dân
số khoảng hơn 8 nghìn người, mật độ dân cư đạt 478,2 người/ km²).
Xuất phát từ thực trạng chung của việc sử dụng nước sinh hoạt của
người dân tại các vùng nông thôn, để đánh giá chất lượng nước đang sử
dụng trên địa bàn xã, tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm, qua đó đưa
ra một số giải pháp để khắc phục những nguy cơ ô nhiễm, đáp ứng nhu
cầu sử dụng nước sạch tại nông thôn
Nhằm góp phần cải thiện đời sống, nâng cao sức khỏe và bảo vệ môi
trường cho người dân địa phương, đề tài “
-Thái Nguyên”
được thực hiện sẽ góp phần làm rõ hơn về hiện trạng sử dụng nước sinh
hoạt của người dân xã Thịnh Đức, từ đó tìm ra giải pháp và nâng cao hiệu
quả chất lượng nước sinh hoạt, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường và
c tin
- Đánh giá được thực trạng môi trường nước sinh hoạt trên địa bàn xã.
- Cảnh báo được những nguy cơ gây ô nhiễm,những ảnh hưởng xung
quanh tới nguồn nước,từ đó có những giải pháp cụ thể để khắc phục.
- Nâng cao chất lượng nước sinh hoạt phục vụ cho nhu cầu đời sống
hằng ngày của người dân trong địa bàn xã.
4
2.1
2.1.1
a. Vai trò của nước với sức khỏe con người:
Nước rất cần cho hoạt động sống của con người cũng như các loài
sinh vật. Nước chiếm 75% trọng lượng của trẻ sơ sinh, 55% đến 60% cơ
thể nam trưởng thành, 50% cơ thể nữ trưởng thành. Nước cần thiết cho sự
tăng trưởng và duy trì cơ thể bởi nó liên quan tới nhiều quá trình sinh
hoạt quan trọng. Muốn tiêu hóa, hấp thu sử dụng tốt lương thực, thực
phẩm, cần có nước.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy con người có thể nhịn ăn
trong năm tuần, nhưng nhịn uống nước không quá năm ngày và nhịn thở
không quá năm phút. Khi đói trong một thời gian dài, cơ thể sẽ tiêu thụ
hết một lượng glycogen, toàn bộ mỡ dự trữ, một nửa lượng protein để
duy trì sự sống. Nhưng nếu cơ thể chỉ cần mất hơn 10% nước là đã nguy
hiểm tới tính mạng và mất tới 20 - 22% nước sẽ dẫn tới tử vong.
b. Vai trò của nước đối với nền kinh tế quốc dân:
Cũng như không khí và ánh sáng, nước không thể thiếu được trong
đời sống con người. Trong quá trình hình thành sự sống trên Trái Đất thì
nước và môi trường nước đóng vai trò quan trọng. Nước tham gia vào vai
trò tái sinh thế giới hữu cơ (tham gia vào quá trình quang hợp). Trong quá
tuần hoàn hay có thể nói nước là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy nguồn
nước không phải là không cạn kiệt, việc cung cấp nước ngọt và nước sạch
trên thế giới đang từng bước giảm đi. Nhu cầu nước ngày càng gia tăng
cùng với sự gia tăng dân số. Cùng với đó, sự gia tăng dân số cũng khiến
cho nguồn nước ngày càng suy giảm về chất lượng, do các hoạt động
công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt tại các khu dân cư đã làm suy
giảm nguồn nước. Đây là vấn đề không chỉ của riêng một quốc gia nào,
6
do đó bảo vệ tài nguyên nước là một vấn đề toàn cầu để có thể sử dụng tài
nguyên này một cách hiệu quả và bền vững.
Quá trình CNH - HĐH ở Việt Nam đã và đang làm cho nguồn
nước mặt cũng như nước ngầm bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng, làm ảnh
hưởng rất lớn tới đời sống, sản xuất của nhân dân.
Nói tóm lại, nước có một vai trò to lớn, vô cùng quan trọng. Nguồn
nước mặt và nước ngầm đang bị suy giảm cả về trữ lượng và chất lượng.
Chính vì vậy, bảo vệ tài nguyên nước là rất cần thiết, là trách nhiệm của
mỗi quốc gia và toàn nhân loại.
* Tài nguyên nước: là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc
có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong
các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi
trường. Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt.
* Nước mặt: là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất
ngập nước. Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và
chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất.
* Nước ngầm :hay còn gọi là nước dưới đất, là nước ngọt được
chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá. Nó cũng có thể là nước chứa
trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm. Đôi khi người ta
còn phân biệt nước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi.
dụng còn lại đa phần ở các khu vực chưa có điều kiện người dân tự
khoan giếng , đào giếng để có nguồn nước sinh hoạt hàng ngày. Rất nhiều
trường hợp nước máy thành phố vẫn chưa đảm bảo hoặc nước giếng
khoan chưa qua xử lý sẽ không thể sử dụng được.
Có thể nói tùy từng vùng miền, khu vực mà nguồn nước giếng khoan,
giếng khơi có những đặc tính nhiễm các chất kim loại nặng, tạp chất hữu
cơ khác nhau. Tuy nhiên sự phân chia này cũng chỉ có tính tương đối, vì
ngay trong một khu vực tùy từng độ sâu, tùy tầng nước ngầm khai thác
mà chất lượng nguồn nước sinh hoạt cũng khác nhau.
8
* Khái niệm về nước sạch
Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nước trong, không màu
- Nước không có mùi vị lạ, không có tạp chất
- Nước không có chứa các chất tan có hại
- Nước không có mầm gây bệnh.
Các nguồn nước tự nhiên hoặc qua xử lý đạt các mức theo tiêu
chuẩn nước sạch cho sinh hoạt và ăn uống đều là các nguồn nước sạch.
Bao gồm:
- Nước sạch cơ bản: Là nguồn nước có điều kiện đảm bảo chất
lượng nước sạch và được kiểm tra theo dõi chất lượng thường xuyên.
- Nước sạch quy ước: Gồm các nguồn nước sau đây (Theo hướng
dẫn của Ban chỉ đạo Quốc gia về Cung cấp nước sạch và Vệ sinh môi
trường):
+ Nước máy hoặc nước cấp từ các trạm bơm nước
+ Nước giếng khoan có chất lượng tốt và ổn định
+ Nước mưa hứng và trữ sạch
+ Nước mặt (Nước sông, rạch, ao, hồ, suối) có xử lý lắng trong và
tiệt trùng (Trần Hồng Hà và cộng sự, 2006) .
5
5
4
Clo dư
mg/l
Trong khoảng
0,3 – 0,5
-
5
pH (*)
-
Trong khoảng
6,0 – 8,5
Trong khoảng
6,0 - 8,5
6
Hàm lượng Amoni
(*)
mg/l
3
3
7
Hàm lượng sắt tổng
số (Fe
2
+ + Fe
3
+) (*)
mg/l
0.5
0.05
13
Coliform tổng số
VK/100ml
50
150
14
E.coli hoặc coliform
chịu nhiệt
VK/100ml
0
20
(Nguồn: Quy chuẩn Việt Nam 02/2009 BYT)
10
Ghi chú:
- (*) Là chỉ tiêu cảm quan.
- Giới hạn tối đa cho phép I: Áp dụng đối với các cơ sở cung cấp
nước.
- Giới hạn tối đa cho phép II: Áp dụng đối với các hình thức khai
thác nước của cá nhân, hộ gia đình (các hình thức cấp nước bằng đường
ống chỉ qua xử lý đơn giản như giếng khoan, giếng đào, bể mưa, đường
ống tự chảy).
2.2
- Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
- Luật tài nguyên nước năm 2012.
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP Sửa đổi bổ sung nghị định
ăn uống ban hành ngày 17/6/2009 (thay thế Tiêu chuẩn Vệ sinh nước ăn
uống ban hành kèm theo Quyết định 1329/2002/QĐ-BYT ngày
18/4/2002) (Bộ Y tế, 2009) .
- Các quy định, quyết định của địa phương.
2
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh
hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không
qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát
triển. Đây là thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại
Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ
đô Thụy Điển ngày 5/9.Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh
hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng. Một nửa số bệnh nhân nằm
viện ở các nước đang phát triển là do không được tiếp cận những điều
kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đến
12
nước.Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho
hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm.Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO) cảnh báo
trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan
hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước.Theo
ước tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) ở Việt Nam có
khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch và khoảng 20
triệu (59%) chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh.Hàng năm, 4.000 trẻ em tử vong
vì nước bẩn và vệ sinh kém.Đây là con số được Quỹ Nhi đồng Liên Hợp
Quốc UNICEF công bố.
Giám đốc Điều hành UNICEF, bà Ann M. Veneman cho biết:
“Trên thế giới, cứ 15 giây lại có một trẻ em tử vong bởi các bệnh do nước
không sạch gây ra và nước không sạch là thủ phạm của hầu hết các bệnh
và nạn suy dinh dưỡng. Một trẻ em lớn lên trong những điều kiện như thế
Ô nhiễm nước mặt khu đô thị: các con sông chính ở Việt Nam đều đã bị ô
nhiễm. Ví dụ như sông Thị Vải, là con sông ô nhiễm nặng nhất trong hệ
thống sông Đồng Nai, có một đoạn sông chết dài trên 10km. Giá trị đo
thường xuyên dưới 0.5mg/l, giá trị thấp nhất ở khu cảng Vedan ( 0.04
mg/l) Với giá trị gần bằng 0 như vậy, các loài sinh vật không còn khả
năng sinh sống.
Thực trạng ô nhiễm nước dưới đất: Hiện nay nguồn nước dưới đất ở Việt
Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề như bị nhiễm mặn, nhiễm
thuốc trừ sâu, các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có
quy hoạch đã làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp. Hiện tượng này ở
các khu vực đồng bằng bắc bộ và đồng bằng song Cửu Long. Khai thác
nước quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn ở các vùng ven
biển. Nước dưới đất bị ô nhiễm do việc chon lấp gia cầm bị dịch bệnh
không đúng quy cách.
Thực trạng ô nhiễm nước biển: Nước biển Việt Nam đã bị ô nhiễm bởi
chất rắn lơ lửng (đồng bằng song Cửu Long và sông Hồng), nitrat, nitrit,
colifom ( chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long), dầu và kim loại kẽm…
14
Nguồn nước Thái Nguyên rất phong phú bao gồm nước mặt và
nước ngầm. Nước tự nhiên có chất lượng khá tốt, trữ lượng nước hàng
năm ở Thái Nguyên khoảng 6,4 tỷ m
3
/năm. trong đó sử dụng cho nông
nghiệp là 0,8 - 1 tỷ m
3
/năm chiếm 15,6%, dùng trong công nghiệp là 350
- 500 triệu m
3
Mật độ lưới sống biến đổi trong phạm vi từ 0,7 đến 1,2km/km
2
. Hệ số tập
trung nước của lưu vực đạt 2.1; thuộc loại lớn trên miền Bắc. Các nhánh
sông chính phân bố tương đối đều dọc theo dòng chính, nhưng các sông
nhánh tương đối lớn đều nằm phía hữu ngạn lưu vực, như các sông: Đu,
15
Công, Cà Lô, Trong toàn khu vực có 68 sông suối có độ dài từ 19km
trở lên với tổng chiều dài 1.600km, trong đó có 13 sông độ dài 15km trở
lên và 20 sông suối có diện tích lưu vực lớn hơn 100km
2
.
Trên dọc sông Cầu có hàng chục cơ sở sản xuất, các đô thị, sử
dụng nước trên sông trong sinh hoạt sản xuất, đồng thời xả thải nước thải
vào đây. Trong những năm qua, gần đây rừng đầu nguồn bị phá hủy,
dòng chảy sông suối đầu nguồn có xu hướng bị cạn kiệt. Lượng nước sử
dụng ngày càng tăng lên. Để khai thác nguồn nước trong khu vực đã xây
dựng một hồ chứa lớn và nhiều hồ chứa, đập nhỏ. Hồ Núi Cốc trên sông
Công được xây dựng từ năm 1972 và hoàn thành vào năm 1978, có dung
tích 178,5.10
6
m
3
. Hồ Núi Cốc có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho vùng
hạ lưu sông Công và cấp bổ sung cho sông Cầu, phục vụ cho sinh hoạt và
sản xuất công nghiệp của thành phố Thái Nguyên, các khu công nghiệp
sông Công, Gò Đầm và tưới cho 20.000ha ruộng ở hai tỉnh Bắc Giang và
Bắc Ninh. Tuy tổng lượng nước toàn năm của sông Cầu khá lớn so với
tổng nhu cầu dùng nước, nhưng do dòng chảy phân phối không đều trong
thuật hoặc bằng nhiều nguyên nhân khác nhau trong nước ngầm đã có sự
xuất hiện vi khuẩn E.Coli. Mức độ này không quá lớn, nhưng để sử dụng
cho ăn uống thì ngoài việc phải xử lý tách cặn, khử sắt, cần thiết phải
khử trùng nước (Sở khoa học và công nghệ tỉnh Thái Nguyên, 2013) .
Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo
nhưng cũng có thể bị cạn kiệt tùy vào tốc độ khai thác của con người và
khả năng tái tạo của môi trường. Ngày nay, sử dụng nước cho mọi hoạt
động đã trở nên phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng khai thác nguồn tài
nguyên này gây ra những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài
nguyên nước.
a,
Khi con người bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần
phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn.
Lúc đầu cư dân còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng,
cho dù có gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư