MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là nhu cầu thiết yếu của sự sống,
đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người. Nước có vai trò quan trọng trong
hoạt động của tất cả các ngành, lĩnh vực cũng như mọi vấn đề của đời sống, xã hội.
Nước sạch và vệ sinh môi trường đang là một trong những vấn đề được quan tâm
hàng đầu; nó không chỉ trong phạm vi mỗi quốc gia hay từng khu vực mà nó là một
vấn đề được quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Trong những năm qua, nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn đang là một vấn đề có ý nghĩa được Đảng, Nhà nước,
Chính phủ đặc biệt quan tâm. Vị trí, vai trò và ý nghĩa của các mục tiêu này đã liên
tục được đề cập trong nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước và Chính phủ như: Nghị
quyết Trung ương VIII, Nghị quyết Trung ương IX, Chiến lược toàn diện về tăng
trưởng và xóa đói giảm nghèo, Chiến lược quốc gia về Nước sạch và vệ sinh nông
thôn giai đoạn 2000 đến 2020, và gần đây nhất là Nghị quyết 26-NQ/TƯ Hội nghị
lần thứ 7 BCH T.Ư Đảng khóa X về Nông nghiệp, nông dân và nông thôn. [3]
Tài nguyên nước vô cùng phong phú nhưng không phải vô tận; cùng với các
tác động trong quá trình tồn tại và phát triển do nhu cầu ngày càng tăng của con
người, những sức ép từ các mặt của đời sống xã hội do vậy cần có biện pháp trong
quản lý và sử dụng một cách hợp lý. Nếu không quản lý tốt tài nguyên nước sẽ dẫn
đến cạn kiệt tài nguyên nước, ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại và cả trong tương lai.
Phần lớn diện tích và dân số của Việt Nam tập trung tại khu vực nông thôn
nơi có phạm vi địa bàn rộng lớn, đời sống khó khăn và trình độ dân trí còn lạc hậu.
Nước sinh hoạt nông thôn đang là nhu cầu bức thiết đặt ra trong giai đoạn hiện nay
của quá trình phát triển. Nó có ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ, sâu rộng đến chất
lượng và quá trình phát triển khu vực nông thôn.
Khu vực nông thôn vùng trung du, miền núi phía Bắc mang đầy đủ các đặc
trưng của khu vực nông thôn Việt Nam và có những đặc thù riêng như: địa hình
không bằng phẳng, dân cư phân bố rải rác, trình độ dân trí thấp và kinh tế xã hội
thấp hơn so với mặt bằng chung cả nước. Xã Nam Tiến, huyện Phổ Yên - tỉnh Thái
Nguyên do đặc thù của khu vực, nằm trong vùng dân cư nông thôn trung du miền
1
khu vực huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên nói chung.
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Khái niệm nước sinh hoạt nông thôn
Nước được cung cấp tại khu vực nông thôn đã qua xử lý, sau hệ thống phân
phối, dùng trong sinh hoạt gọi là nước sinh hoạt nông thôn. [13]
1.1.2. Các thông số đánh giá chất lượng các nguồn nước cung cấp cho mục đích
sinh hoạt
1.1.2.1. Các chỉ tiêu về lý học [10]
Độ pH của nước:
Định nghĩa về mặt toán học: pH = -log[H+]. pH là thông số đánh giá chất
lượng nguồn nước, nó quyết định đến tính axit, bazơ cũng như khả năng hòa tan của
các chất tan trong nước, sự thay đổi của pH dẫn tới sự thay đổi thành phần hóa học
của nước (sự kết tủa, sự hòa tan, cân bằng cacbonat,…), các quá trình sinh học
trong nước. pH dưới 7 là có tính axit và độ pH trên 7 có tính bazơ. pH được xác
định bằng máy đo pH hoặc bằng phương pháp chuẩn độ.
Nhiệt độ (0C):
Nhiệt độ của nước có ảnh hưởng đến độ pH, đến các quá trình hóa học và sinh
học xảy ra trong nước. Nhiệt độ phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xung quanh,
vào thời gian trong ngày, vào mùa trong năm… Nhiệt độ cần được xác định tại chỗ
(tại nơi lấy mẫu).
Độ màu của nước:
Nước nguyên chất không có màu. Màu sắc gây nên bởi các tạp chất trong
nước (thường là do chất hữu cơ: chất mùn hữu cơ, acid humic; một số ion như
sắt…; một số loài thủy sinh vật). Độ màu thường được xác định bằng phương pháp
so màu với các dung dịch chuẩn là Clorophantinat Coban. Đơn vị Pt – Co.
3
Độ đục:
lượng chất rắn huyền phù (SS) ở 550
0
C cho đến khi khối lượng không đổi (thường
được qui định trong một khoảng thời gian nhất định). Hàm lượng các chất rắn hòa
tan dễ bay hơi (VDS) là lượng mất đi khi nung lượng chất rắn hòa tan (DS) ở 550
0
C
cho đến khi khối lượng không đổi (thường được qui định trong một khoảng thời
gian nhất định).
4
1.1.2.2. Các chỉ tiêu về hóa học
Độ kiềm toàn phần:
Là tổng hàm lượng các ion HCO
3
, CO
3
2-
, OH
-
có trong nước. Độ kiềm trong
nước tự nhiên thường gây nên bởi các muối của acid yếu, đặc biệt các muối
carbonat và bicarbonat
Độ cứng của nước:
Là tổng hàm lượng của các ion Ca
2+
và Mg
2+
. Độ cứng của nước gây nên bởi
các ion đa hóa trị có mặt trong nước. Chúng phản ứng với một số anion tạo thành
kết tủa. Các ion hóa trị 1 không gây nên độ cứng của nước.
thực ximăng. Đơn vị mg/l.
− Các hợp chất Sulfat: Ion SO42- có trong nước do khoáng chất hoặc có
nguồn gốc hữu cơ. Với hàm lượng lớn hơn 250 mg/l gây tổn hại cho sức khỏa con
người. Ở điều kiện yếm khí, SO
4
2-
phản ứng với chất hữu cơ tạo thành khí H
2
S có
độc tính cao. Đơn vị mg/l.
1.1.2.3. Các chỉ tiêu về sinh học
Coliform:
Là chỉ số cho biết số lượng các vi khuẩn gây bệnh đường ruột trong mẫu
nước. Không phải tất cả các vi khuẩn coliform đều gây hại. Tuy nhiên, sự hiện
diện của vi khuẩn coliform trong nước cho thấy các sinh vật gây bệnh khác có
thể tồn tại trong đó.
E.coli:
Là chỉ số cho biết số lượng các vi khuẩn gây bệnh đường ruột trong mẫu
nước. Sự có mặt của E.Coli trong nước chứng tỏ nguồn nước đã bị ô nhiễm bởi
phân rác, chất thải của người và động vật và như vậy cũng có khả năng tồn tại các
loại vi trùng gây bệnh khác. Số lượng E.Coli nhiều hay ít tùy thuộc mức độ nhiễm
bẩn của nguồn nước. Đặc tính của khuẩn E.Coli là khả năng tồn tại cao hơn các loại
vi khuẩn, vi trùng gây bệnh khác nên nếu sau khi xử lý nước, nếu trong nước không
còn phát hiện thấy E.Coli thì điều đó chứng tỏ các loại vi trùng gây bệnh khác đã bị
tiêu diệt hết. Việc xác định số lượng E.Coli thường đơn giản và nhanh chóng nên
loại vi khuẩn này thường được chọn làm vi khuẩn đặc trưng trong việc xác định
mức độ nhiễm bẩn do vi trùng gây bệnh trong nước. Đơn vị VK/100ml
1.1.3. Tiêu chuẩn nước nguồn
Để đánh giá chất lượng nước sông, nước ngầm…. Bộ Tài Nguyên và Môi
Trường đã đưa ra các quy chuẩn quy định giá trị giới hạn các thông số chất lượng
2
) (tính theo N) mg/l 0.01 0.02 0.04 0.05
10 Nitrat (NO
3
) (tính theo N) mg/l 2 5 10 15
11 Asen (As) mg/l 0.01 0.02 0.05 0.1
12 Chì (Pb) mg/l 0.02 0.02 0.05 0.05
13 Đồng (Cu) mg/l 0.1 0.2 0.5 1
14 Kẽm (Zn) mg/l 0.5 1 1.5 2
15 Sắt (Fe) mg/l 0.5 1 1.5 2
16 Thủy ngân (Hg) mg/l 0.001 0.001 0.001 0.002
17 E. Coli
MPN
/100 ml
20 50 100 200
18 Coliform
MPN
/100 ml
2500 5000 7500 10000
(Nguồn: Ban soạn thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước Bộ Tài
Nguyên và Môi Trường, ban hành ngày 31/12/2008)[6]
Ghi chú: Việc phân hạng nguồn nước mặt nhằm đánh giá và kiểm soát chất lượng
nước, phục vụ cho các mục đích sử dụng nước khác nhau:
A1 – Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt và các mục đích khác như
loại A2, B1 và B2.
A2 – Dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng phải áp dụng công nghệ xử lý
phù hợp; bảo tồn dạng thực vật thủy sinh, hoặc các mục đích sử dụng như loại B1,B2.
B1 – Dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác
có yêu cầu chất lượng nước tương tự hoặc các mục đích sử dụng như loại B2.
7
11 Asen (As) mg/l 0.05
12 Chì (Pb) mg/l 0.01
13 Crom VI (Cr
6+
) mg/l 0.05
14 Đồng (Cu) mg/l 1
15 Kẽm (Zn) mg/l 3
16 Mangan (Mn) mg/l 0.5
17 Thủy ngân (Hg) mg/l 0.001
18 Sắt (Fe) mg/l 5
19 E. Coli MPN/100ml Không phát hiện thấy
20 Coliform MPN/100ml 3
(Nguồn: Ban soạn thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước Bộ Tài
Nguyên và Môi Trường, ban hành ngày 31/12/2008)[7]
1.1.4. Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt ăn uống
Nước sạch có thể được hiểu là nước trong, không màu, không mùi, không vị,
không chứa các độc chất và vi khuẩn gây bệnh. Tỉ lệ các chất độc hại và vi khuẩn
không quá mức độ cho phép của mỗi quốc gia.
Ô nhiễm nước là sự biến đổi các thành phần của nước khác biệt với trạng thái
ban đầu. Đó là sự biến đổi các chất lý, hóa, sinh vật và sự có mặt của chúng trong
nước làm cho nước trở nên độc hại…
Sự nguy hại đến sức khỏe con người do uống nước trực tiếp, sử dụng nước
trong sinh hoạt vệ sinh cá nhân.
8
Việc xây dựng tiêu chuẩn giúp cho các nhà chức trách và các nhà điều hành
đạt được các tiêu chuẩn về chất lượng nước đáp ứng sự mong đợi của người sử
dụng và các nguyên tắc phát triển bền vững.
Phạm vi mà các tiêu chuẩn nêu ra sẽ bao gồm việc đánh giá chất lượng và các
chỉ số hoạt động đo lường kết quả dịch vụ, do đó góp phần quản lý và điều hành
việc đánh giá dịch vụ một cách tốt hơn. Các tiêu chuẩn sẽ góp phần bảo tồn nước
17 E.coli hoặc Coliform chịu nhiệt Con/100ml 0
(Nguồn: Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo thông tư số: 04/2009/TT - BYT ngày 17
tháng 6 năm 2009)[6]
Bảng 1.4. QCVN 02: 2009/BYT_Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước sinh hoạt
9
TT Tên chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Giới hạn tối đa cho
phép
I II
1 Màu sắc(*) TCU 15 15
2 Mùi vị(*) -
Không có
mùi vị lạ
Không có
mùi vị lạ
3 Độ đục(*) NTU 5 5
4 Clo dư mg/l 0,3-0,5 -
5 pH(*) - 6,0 - 8,5 6,0 - 8,5
6 Hàm lượng Amoni(*) mg/l 3 3
7
Hàm lượng Sắt tổng số (Fe2
+ +
Fe3
+
)(*)
mg/l 0,5 0,5
10
chủ yếu ở dạng keo.
− Có hàm lượng chất hữu cơ cao.
− Có sự hiện diện của nhiều loại tảo.
− Chứa nhiều vi sinh vật.
Do tính chất nước nguồn nhiễm nhiều tạp chất hữu cơ từ nhiều thành phần,
tạo nên độ đục không ổn định, vì vậy công nghệ xử lý nước cần chú trọng giai đoạn
tiền xử lý: phản ứng + lắng ngay từ đầu qui trình, nhằm phá hủy các liên kết hóa
học, tạo cặn hữu ích. Sau đó, giai đoạn khử trùng là bắt buộc trước khi cung cấp
nước cho sinh hoạt. [12]
a) Các công trình thu nước mặt
Thường đó là công trình thu nước sông, phải được đặt ở đầu nguồn nước,
phía trên khu dân cư và khu công nghiệp theo chiều chảy của sông. Vị trí hợp lý
nhất là nơi bờ sông và lòng sông ổn định có điều kiện địa chất công trình tốt, có đủ
độ sâu cần thiết để lấy nước trực tiếp từ sông không phải dẫn đi xa. Thường công
trình thu được bố trí ở phía lõm của bờ sông, tuy nhiên phía lõm thường bị xói lở
nên cần phải gia cố bờ. [10]
Công trình thu nước sông thường chia ra các loại sau đây:
− Công trình thu nước bờ sông
− Công trình thu nước lòng sông
− Công trình thu nước hình đấu
Công trình thu nước bờ sông:
Áp dụng khi bờ dốc, nước ở bờ sâu và thường xây dựng chung với trạm cấp I
nên còn gọi là công trình thu nước loại kết hợp. Khi điều kiện địa chất ở bờ xấu thì
trạm bơm cấp I đặt tách rời ở xa bờ và gọi là công trình thu nước phân ly.
Công trình thu nước bờ sông chia ra nhiều gian để đảm bảo cấp nước liên tục
khi thau rửa, sửa chữa. Mỗi gian chia ra ngăn thu, ngăn hút. Nước từ sông vào ngăn
thu qua các cửa thu nước: cửa phía trên thu nước mưa lũ, cửa phía dưới thu nước
mùa khô. Ngăn thu còn gọi là ngăn lắng vì ở đây một phần các hạt cặn, cát, phù sa
11
định dưới đáy sông bằng hệ thống cọc gỗ hoặc bê tông.
Ở chỗ bố trí họng thu phải có phao cờ báo hiệu để tránh cho tàu bè đi lại
không va chạm vào.
b) Một số sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý nước mặt [10]
Một số sơ đồ dây chuyền xử lý nước mặt với hàm lượng cặn ≤ 2500 mg/l
Sơ đồ 1:
Với hàm lượng cặn nhỏ hơn 2500 mg/l thì nước từ trạm bơm cấp I được dẫn
trực tiếp qua bể trộn, tại đây cho thêm chất keo tụ và chất kiềm hóa hòa trộn đều
vào nước. Nước được tiếp tục dẫn qua bể phản ứng kết hợp bể lắng, các bông cặn
hình thành tại ngăn phản ứng sẽ được lắng tại ngăn lắng. Sau khi qua bể lắng nước
được lắng một phần rồi tiếp tục dẫn qua bể lọc nhanh. Tại đây nước được lọc sạch
các cặn bẩn và vi khuẩn có trong nước. Sau đó châm thêm chất khử trùng rồi dẫn
qua bể chứa nước sạch để phân phối đến các nơi sử dụng.
Sơ đồ 2:
Nước từ trạm bơm cấp I được dẫn trực tiếp qua bể trộn, tại đây cho thêm chất
keo tụ và chất kiềm hóa hòa trộn đều vào nước. Nước được tiếp tục dẫn qua bể lọc
13
Chất keo tụ Chất khử trùng
Từ trạm bơm
Cấp I tới
Chất kiềm hóa
Bể trộn
Bể phản
ứng
Bể lọc
nhanh
Bể chứa
nước sạch
Bể
Chất kiềm hóa
Bể
trộn
Bể
phản
ứng
Bể lọc
nhanh
Bể
chứa
nước
sạch
Bể
lắng
Bể
lắng
sơ
bộ
Từ nguồn đến
Chất khử trùng Chất keo tụ
Chất kiềm hóa
Bể
trộn
Bể
công suất lớn hơn hoặc trang bị thêm các máy bơm bổ sung; có hệ số hữu ích và hệ
số sử dụng thiết bị lớn nhất với chỉ tiêu chi phí năng lượng điện là bé nhất.
Các trạm bơm có thể phân ra: trạm bơm cấp I, cấp II, tăng áp, tuần hoàn, đặt
nổi, nửa nổi, nửa ngầm hoặc ngầm; trục ngang, trục đứng, kiểu thủ công, tự động
hoặc từ xa,…
Trạm bơm cấp I đưa nước lên công trình làm sạch được tính theo lưu lượng
giờ trung bình trong những ngày dùng nước lớn nhất. Chế độ công tác của trạm
bơm cấp II phụ thuộc vào biểu đồ tiêu thụ nước. Việc bơm nước có thể tiến hành
điều hòa trong ngày hoặc theo từng cấp; nếu bơm theo cấp thì dung tích đài nước và
áp lực toàn phần của bơm sẽ giảm.
Việc lựa chọn lại số lượng máy bơm làm việc cũng như dự trữ phải tính toán
có xét đến sự hoạt động đồng thời giữa các máy bơm, ống dẫn và mạng ống phân
phối để đảm bảo chế độ làm việc của trạm bơm được lựa chọn trên cơ sở phân tích
15
đồ thị dùng nước và sự hoạt động đồng thời cả máy bơm, ống dẫn và mạng phân
phối. Nên chọn các máy bơm cùng loại để dễ quản lý và giảm số bơm dự trữ.
Các trạm bơm cấp I lấy nước mặt thường đặt sâu dưới đất để giảm chiều cao
hút của bơm. Số lượng bơm công tác trong trạm cấp I không nhỏ hơn hai, mỗi bơm
nên có một ống hút riêng. Các trạm bơm câp II thường đặt trên mặt đất, có dạng
hình chữ nhật vì có nhiều máy bơm, các đường ống hút có thể nối thông với nhau
qua các khóa.
1.1.5.2. Công nghệ xử lý nước ngầm
Nước ngầm tồn tại trong các lỗ hổng và các khe nứt của đất đá, được tạo
thành trong giai đoạn trầm tích đất đá hoặc do sự thẩm thấu, thấm của nguồn nước
mặt, nước mưa.
Đối với hệ thống cấp nước cộng đồng thì nguồn nước ngầm luôn là nguồn
nước được ưa thích. Bởi vì, các nguồn nước mặt thường bị ô nhiễm và lưu lượng
khai thác phải phụ thuộc vào sự biến động theo mùa. Nguồn nước ngầm ít chịu ảnh
hưởng bởi các tác động của con người.
Có rất nhiều phương pháp để xử lý nước ngầm, tùy thuộc vào nhiều yếu tố:
tra nước chảy, lấy cặn và thông hơi. Ống thu nước thường chế tạo bằng sành hoặc
bê tông có lỗ d = 8mm hoặc khe với kích thước 10 – 100mm. Ngoài ra có thể xếp
đá dăm, đá tảng thành hành lang thu nước, xung quanh có lớp bọc bằng đá dăm,
cuội, sỏi để ngăn cát chui vào.
Giếng khoan:
17
Giếng khoan là công trình thu nước ngầm mạch sâu với công suất lớn từ 5 –
500 l/s, sâu vài chục đến vài trăm mét, có đường kính 100 – 600mm.
Giếng khoan có thể là giếng hoàn chỉnh (khoan đến lớp đất cách nước);
giếng không hoàn chỉnh (khoan đến lưng chừng lớp đất chứa nước); giếng có áp và
giếng không có áp…
Khi cần thu lượng nước lớn người ta dùng một nhóm giếng khoan. Trong
trường hợp này các giếng sẽ bị ảnh hưởng lẫn nhau khi làm việc đồng thời.
Hình 1.3: Cấu tạo giếng khoan
Chú thích:
- Cửa giếng 3, 6 - Liên kết 5 - Ống lắng
- Ống vách 4 - Ống lọc
− Cửa giếng hay miệng giếng: Dùng để theo dõi, kiểm tra sự làm việc của
giếng. Trên của giếng là động cơ và ống đẩy đưa nước tới công trình xử lý, ngoài ra
còn có nhà bao che, bảo vệ.
− Thân giếng (còn gọi là ống vách): là các ống thép không gỉ nối với nhau
bằng mặt bích, ren hoặc hàn. Ngoài ra còn dùng ống bê tông cốt thép nối với nhau
bằng ống lồng. Ống vách có nhiệm vụ chống nhiễm bẩn và chống sụt lở giếng. Bên
trong ống vách ở phía trên là các guồng bơm nối với động cơ điện bằng trục đứng.
Có thể dùng tổ máy bơm và động cơ nhúng chìm.
− Ống lọc: hay còn gọi là bộ phận lọc của giếng khoan: đặt trực tiếp trong
đất chứa nước để thu nước vào giếng và ngắn không cho bùn cát chui vào giếng.
18
Giếng khoan thường có các bộ phận chính sau đây:
tác dụng oxy hóa
Fe và Mg, nếu cần
Hòa trộn, kết bông và
lắng đọng: trung hòa
lượng vôi cao để làm
mềm nước, oxy hóa loại
Fe và Mg
Châm Acid fluosilicic để
flo hóa nước
Khử độ cứng kết tủa rối và oxy
hóa loại Fe và Mg
Châm Chlor: để hình thành chlor
dư tự do trong hệ thống phân phối (khử trùng) Châm chlorrine để khử sự phát triển
của vi khuẩn sắt của đường ống và khử ban đầu
Hình 1.6. Sơ đồ quy trình xử lý nước giếng đào[11]
20
Nguồn
giếng cạn)
nhất là trong mùa mưa, chất lượng nước tương đối sạch. Nhược điểm của việc khai
thác nước mưa là lượng mưa thường phân bố không đều, mưa tập trung chủ yếu vào
mùa mưa. Việc thu hứng nước mưa tập trung ở một diện tích rộng cũng rất khó.
Nước mưa được xem như một nguồn cung cấp nước sinh hoạt ăn uống chính ở các
21
Nguồn
(giếng sâu)
Làm thoáng
bằng khay
Bể tiếp xúc
hoặc bể tốn
lưu
Lọc cát
vùng nông thôn, hoang mạc, rừng núi, hải đảo. Tuy nhiên, khi có hệ thống nước
đường ống thì nguồn nước mưa chỉ được xem như một nguồn cung cấp phụ.
Thu hứng nước mưa từ mái nhà:
Nước mưa thường được thu hứng từ mái nhà, đặc biệt là các mai lợp bằng
tole tráng kẽm, tole nhựa dạng lượn sóng, mái bằng bê-tông, mái ngói bằng đất
nung hoặc bằng fibro xi-măng hoặc mái lá, mái lợp giấy dầu. Tốt nhất là các mái
nhà bằng kim loại, mái ngói. Mái lợp bằng lá tranh, lá dừa nước, rơm rạ có thể bị
nhiễm khuẩn, rêu mốc, chuột bọ.
Không nên:
- Dùng sơn chống thấm, chống rỉ trên mái tole kim loại vì nó có thể gây độc
cho nước (nhiễm độc chì trong sơn, nước có mùi lạ).
- Sử dụng mái xi-măng amiăng để hứng nước mưa vì sợi amiăng bị bào mòn
(nước mưa có tích acid) có thể gây độc cho phổi.
- Hứng nước mưa vào đầu mùa vì trên mái nhà có nhiều bụi, phân chim, lá
- Luật bảo vệ môi trường 2005, ban hành ngày 29/11/2005 có hiệu lực ngày
01/07/2006.
- Luật Tài nguyên nước (số 08/1998/QH10) được Quốc hội thông qua ngày
20/5/1998 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1999;
- Nghị định số 179/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/12/1999 Quy định
việc thi hành Luật Tài nguyên nước và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/1/2000;
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi
trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Quyết định 104/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến
năm 2020.
- Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ
Về tín dụng thực hiện chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn.
23
- Quyết định số 51/2008/QĐ-BNN ngày 14/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Ban hành Bộ chỉ số theo dõi và đánh giá Nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn.
- Quyết định số 1775/QĐ-BNN-TL ngày 12/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Về việc triển khai thực hiện Bộ chỉ số theo dõi và
đánh giá Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên toàn quốc.
- Công văn số 162/BNN-TCTL ngày 19 tháng 01 năm 2011. Về việc hướng
dẫn triển khai kế hoạch Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn 2011.
- Quyết định số 17/2006/QĐ-BTNMT ngày 12/10/2006 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy định về việc cấp phép hành nghề khoan
nước dưới đất.
- Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về
việc ban hành tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch.
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2011 Quy định về đánh giá
Tổng sản lượng nước trên thế giới gồm: 97,5% nước biển (mặn) và chỉ 2,5%
nước ngọt. Trong 2,5% nước ngọt chỉ có 0,4% nước mặt gồm sông ngòi, ao hồ và
hơi nước trong không khí, 30,1% nước ngầm, và phần còn lại là những tảng băng
trải rộng ở Bắc và Nam cực. Trong 0,4% nước mặt đó, có 67,4% nước ao hồ, 1,6%
sông ngòi, 12,2% nước đã thấm vào đất, 9,5% hơi nước trong không khí, và phần
còn lại gồm các vùng đất ngập nước. [17]
Theo ước tính, có 70% lượng nước trên thế giới được sử dụng cho nông
nghiệp, 20% cho kỹ nghệ, và 10% cho sinh hoạt gia đình.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 1,2 tỉ người trên thế giới không được sử dụng
nước sạch, 2,6 tỉ người thiếu nước do các cơ sở dịch vụ cung cấp và số này đang gia
tăng. LHQ ước tính có 2,6 tỉ người tại 48 quốc gia sẽ sống trong điều kiện căng
thẳng và khan hiếm nước vào năm 2025. [22]
Mỗi năm 1,6 triệu dân trên thế giới chết do thiếu nước sạch. Trung bình mỗi
ngày, một người dân ở Bắc Mỹ, chủ yếu là Canada và Hoa Kỳ dùng từ 600 đến 800
25