ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Đỗ Thị Kim Quý ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN VĂN TUẤN
CNH, HĐH và đô thị hóa ở Việt Nam
9
1.2. Khái quát sự thay đổi về chính sách thu hồi, bồi thường đất nông
nghiệp và hỗ trợ, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho người có đất
nông nghiệp bị thu hồi từ khi có Luật đất đai 1993 đến nay
11
1.2.1. Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ
chuyển đổi nghề, tạo việc làm ở Việt Nam qua các thời kỳ
11
1.2.2. Chính sách dạy nghề, học nghề, giải quyết việc làm khi thu hồi
đất nông nghiệp
17
1.3. Nội dung chính sách hiện hành của Chính phủ về hỗ trợ chuyển
đổi nghề, tạo việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp.
23
Chƣơng 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI
NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG KHI THU
HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở QUẬN LÊ CHÂN
26
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu
26
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
26
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
27
2.1.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất
30
2.2 Phương hướng phát triển kinh tế và nhu cầu chuyển đổi nghề, tạo
việc làm trên địa bàn quận Lê Chân giai đoạn 2011-2015
62
3.2. Đề xuất một số giải pháp
64
3.2.1. Giải pháp về cơ chế chính sách
65
3.2.2.Giải pháp quy hoạch (đất dịch vụ tạo tiền điều kiện về việc làm)
67
3.2.3. Giải pháp tài chính tín dụng (huy động các nguồn vay vốn để
đầu tư sản xuất kinh doanh tạo việc làm)
68
3.2.4 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước các cơ sở dạy
nghề
68
3.2.5 Giải pháp phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp và nghề truyền
71
4
thống trên địa bàn quận
3.2.6 Một số giải pháp khác
74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
78-79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
80-81 5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tình hình thu hồi đất ở một số địa phương trên cả nước…………… 10
Bảng 2.1: Giá trị SX các ngành của quận Lê Chân năm 2011 33
Bảng 2.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận Lê Chân qua các năm 33
Bảng2.3: Diện tích và cơ cấu các loại đất của quận Lê Chân năm 2011 …… 36
Bảng2.4: Diện tích và cơ cấu đất nông nghiệp quận Lê Chân năm 2011 …… 37
Bảng2.5: Biến động các loại đất của quận Lê Chân giai đoạn 2006-2011… 38
Bảng2.6: Một số dự án đầu tư trọng điểm trên địa bàn quận …… 42
Bảng2.7:Tình hình thu hồi đất GPMB tại một số dự án trên địa bàn quận 45
Bảng2.8:Tình hình việc làm của lao động trong diện bị thu hồi đất 49
Bảng2.9:Việc làm trước và sau khi diễn ra việc thu hồi đất của lao động 53
Bảng2.10:Tổng hợp các hộ mất đất từ ngày 01/01/2010-30/9/2011 55
Bảng2.11:Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho các hộ mất đất trên 30% 57
Bảng2.12:Tình hình hỗ trợ đền bù và thực trạng đời sống của các hộ 58
Bảng2.13:Tỷ lệ người lao động rợ giúp sau khi thu hồi đất 59
Bảng2.14:Kết quả đăng ký dạy nghề năm 2011 tai quận 61
Bảng2.15:Khu vực làm việc trước và sau khi diễn ra việc thu hồi đất 64
Bảng2.16:Tình hình tuyển dụng lao động nông nghiệp trên địa bàn quận 65
Bảng2.17:Mục đích sử dụng tiền đền bù khi thu hồi đất của các hộ gia đình 67
PHIẾU ĐIỀU TRA
Phát phiếu điều tra 100 phiếu tới các hộ dân nhưng thu về được 55 phiếu
Dự án PTGT phát 33 phiếu thu về 16 phiếu
Mương An Kim Hải phát 20 phiếu thu về 10 phiếu
Làng Việt Kiều phát 47 phiếu thu về 29 phiếu
GPMB
Giải phóng mặt bằng
7
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
nào? Nhà nước đã có những chính sách, giải pháp gì để hỗ trợ chuyển đổi nghề và
tạo việc làm cho người dân bị mất đất? Về những điểm này, đề tài luận văn sẽ tậ p
trung đi sâu nghiên cứu, phân tích và lý giải. Để từ đó đưa ra các giải pháp và đề
8
nghị phù hợp nhằm tạo việc làm, giúp cho việc chuyển đổi việc làm đạt hiệu quả
cao tại quận Lê Chân.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc
làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Lê Chân giai đoạn
2007-2012.
- Đề xuất các giải pháp nhằ m nâng cao hiệu quả chuyể n đổ i nghề và tạ o việ c
làm cho lao động thuộ c diệ n thu hồ i đấ t nông nghiệ p ở quận Lê Chân.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan một số vấn đề về thu hồi đất nông nghiệp và các chính sách giải
quyết việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
- Điề u tra, khảo sát làm r thực trạ ng việc làm của lao động trong các gia đình
có đất nông nghiệp bị thu hồi và tình hình thực hiện chính sách chuyển đổi nghề, tạo
việc làm trên địa bàn quận Lê Chân.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần cải thiện đời sống, việc làm cho người có
đất nông nghiệp bị thu hồi
4. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác chuyển đổi nghề, tạo việc làm
cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn quận Lê Chân trong giai đoạn
2007 – 2012 và tập trung vào 03 dự án nghiên cứu điểm (Dự án phát triển giao thông
đô thị trên địa bàn phường Vĩnh Niệm, Dự án Cải tạo Kênh An Kim Hải trên địa bàn
phường Nghĩa Xá, Dự án Xây dựng Làng Việt Kiều trên địa bàn phường Niệm
Nghĩa).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
CHƢƠNG 1
10
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO
NGƢỜI CÓ ĐẤT NÔNG NGHIỆP KHI THU HỒI
1.1. Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, đô
thị hóa ở Việt Nam
1.1.1. Công nghiệp hoá, đô thị hoá và sự cần thiết phải thu hồi đất
a. Một số khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam 1996 thì “Bồi thường là đền bù
những tổn hại đã gây ra, trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao. Như vậy, bồi
thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt
hại vì hành vi của chủ thể khác” [1].
Theo Luật Đất đai năm 2003, các khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được định nghĩa như sau:
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
CNH - HĐH và đô thị hoá là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế
giới. Trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển nhanh, thì CNH - HĐH và đô thị
hoá là con đường giúp cho các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước
đi trước.
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy,
CNH - HĐH và đô thị hoá là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản
xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương
thức sản xuất mới, hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế - xã hội nông
thôn. Trong nền kinh tế hiện đại, CNH - HĐH và đô thị hoá có sự gắn bó chặt chẽ với
nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.
Trong quá trình CNH - HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơ
bản đó là: Phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi căn bản
xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp. Hiện tượng đô thị hoá được xem như là một
trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại ngày nay. Cùng
với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá được xem như một khía cạnh quan trọng của
sự vận động đi lên của xã hội. Đô thị hoá là một quá trình lịch sử trong đó nổi lên một
vấn đề kinh tế - xã hội là nâng cao vai trò của đô thị trong sự phát triển mọi mặt của xã
hội. Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là
12
trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp - xã hội, kết cấu dân số, trong lối
sống, văn hoá [12].
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con
người, sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh
hưởng đến cân bằng sinh thái do tài nguyên đất bị khai thác để xây dựng đô thị, giảm
diện tích cây xanh và mặt nước, bùng nổ giao thông cơ giới. Cùng với đó là sự gia tăng
khối lượng khai thác và sử dụng nguồn nước sạch, mức độ ô nhiễm các chất thải công
nghiệp và sinh hoạt ngày càng một lớn. Ngoài ra, sự gia tăng dòng người di dân từ
nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi
trường,…
Việc thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển nền
kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn từ năm 1996, khi nền kinh tế
nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
đã xác định r: Đẩy mạnh CNH - HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,…tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại [19].
Cùng với CNH - HĐH nền kinh tế, nhiệm vụ xây dựng đồng bộ và từng bước
hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng được đặt ra một cách cấp thiết. Tiến trình CNH -
HĐH ở nước ta từ những năm 1990 được gắn liền với đô thị hoá cả về chiều rộng và
chiều sâu. Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam thời kỳ 1996 - 2020 xác định mục
tiêu phát triển đô thị cả nước đến năm 2020 là: Xây dựng tương đối hoàn chỉnh đô thị
cả nước, có kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật hiện đại, có môi trường đô thị trong sạch,
được phân bổ phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước,… phấn đấu đến năm 2020, dân số
đô thị chiếm khoảng 45% dân số cả nước [13].
Việc thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây gắn với sự
chuyển đổi mục đích sử dụng sang các loại đất phi nông nghiệp. Nhờ đó đã xây dựng
được nhiều KCN, các cụm công nghiệp, mở rộng và xây dựng mới các khu đô thị, hệ
thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin
liên lạc, trường học, bệnh viện,… hoàn thiện và phát triển các cơ sở dịch vụ như khách
sạn, nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm dịch vụ, du lịch; mở rộng và
xây dựng mới các khu vui chơi giải trí, công viên, cây xanh,… chính điều đó làm cho
quá trình CNH - HĐH có bước tiến đáng kể, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ hơn.
14
Tóm lại, nếu CNH - HĐH và đô thị hoá là tất yếu khách quan đối với nước ta
thì việc thu hồi đất để phục vụ cho quá trình này là vấn đề có ý nghĩa quan trọng. Vì
vậy, trong quá trình CNH - HĐH, bất cứ nước nào cũng phải chuyển đổi một số lượng
đất đai từ mục đích nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp để phục vụ cho việc
thì vấn đề này càng trở nên bức thiết vì họ là những người có trình độ chuyên môn
thấp, khả năng tìm việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp thường thấp hơn so với các đối
tượng khác.
Trong quá trình đô thị hóa, nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các
công trình đô thị phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH. Do đó, hàng nghìn hộ nông dân
kéo theo hàng vạn nhân khẩu nông nghiệp mất tư liệu sản xuất dẫn tới mất việc làm,
cuộc sống và thu nhập của họ gặp không ít khó khăn. Một bộ phận nông dân có kiến
thức, có trình độ đã chủ động mở mang các ngành nghề, dịch vụ, phát triển tiểu thủ
công nghiệp… tạo việc làm và có cuộc sống ổn định. Song bên cạnh đó còn rất nhiều
hộ còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế do họ không bắt kịp với cơ chế thị
trường, trình độ thấp, không có nghề, hay tuổi đời cao…họ gặp phải nhiều khó khăn
trong việc tìm và tạo việc làm mới. Do hạn chế về văn hóa và nhận thức, nếu như lực
lượng này không được tạo việc làm, không có thu nhập để trang trải cuộc sống, cộng
với việc có nhiều thời gian rảnh rỗi thì họ dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào các hoạt động phi
pháp như trộm cắp, cướp giật, ma túy, cờ bạc…Vì vậy, tạo việc làm cho những lao
động này cũng chính là biện pháp làm giảm tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo trật tự an
ninh xã hội, môi trường sống xã hội sẽ trở nên tốt hơn.
Như vậy, vấn đề tạo việc làm cho người lao động nói chung, cho người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng là vô cùng cần thiết vì nó không chỉ làm cho
nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, mà còn góp phần làm ổn định xã hội, giảm thất
nghiệp và các tệ nạn xã hội, đồng thời cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động
theo đúng hướng đó là tăng tỉ trọng lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỉ
trọng lao động trong ngành nông nghiệp.
1.1.3. Khái quát chung về thực trạng thu hồi đất nông nghiệp phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở Việt Nam
Thực tiễn ở nước ta trong những năm qua cho thấy, CNH - HĐH và đô thị hoá
tất yếu sẽ dẫn đến một bộ phận đất đai được chuyển đổi mục đích sử dụng. Trong quá
trình đó, Nhà nước sẽ thực hiện thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia.
Bảng 1. Tình hình thu hồi đất ở một số địa phƣơng trên cả nƣớc
(Tính đến tháng 3/2011)
17
TT
Tỉnh, thành phố
Tổng diện tích
đất nông nghiệp
Diện tích đất nông
nghiệp bị thu hồi
Tỷ lệ đất nông
nghiệp bị thu hồi
ha
%
1
Tuyên Quang
531.953,11
98.205,60
18,46
2
Hà Nội
40.805,00
26.470,11
57,8
3
Hải Phòng
84.963,00
17.455,47
20,53
khu vực Hải Phòng mở rộng và các xã, huyện được quy hoạch xây dựng các khu công
nghiệp, khu đô thị.
1.2. Khái quát sự thay đổi về chính sách thu hồi, bồi thƣờng đất nông
nghiệp và hỗ trợ, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho ngƣời có đất nông nghiệp
khi thu hồi từ sau khi có luật đất đai 1993 đến nay
1.2.1. Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ chuyển đổi
nghề, tạo việc làm ở Việt Nam qua các thời kỳ
Qua nghiên cứu cách chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta cho thấy các
quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu
thực tế. Các chính sách được thể hiện qua các giai đoạn của quá trình áp dụng Luật đất
đai, cụ thể như sau:
a. Trước khi có Luật đất đai 1993
Ngày 14 tháng 4 năm 1959, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định
151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất có nội dung: “Những người
có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp
18
giải quyết công việc làm ăn”.
Ngày 11 tháng 01 năm 1970 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Thông tư
1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường thiệt hại nhà cửa, đất đai, cây
cối hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố trên
nguyên tắc “Phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã và của nhân dân”
Thi hành Hiến pháp năm 1980, Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 2
năm 1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho các đối
tượng có nhu cầu để sử dụng ổn định lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời theo quy hoạch
và kế hoạch sử dụng đất được duyệt. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất nào
thì có quyền thu hồi đất đó.
Ngày 31 tháng 5 năm 1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số
186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục
đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường. UBND các tỉnh, thành phố quy
để thay thế cho Nghị định số 90/CP. Nghị định gồm 6 chương 40 điều quy định r
phạm vi, đối tượng được bồi thường thiệt hại; Nguyên tắc, giá đất đền bù, chính sách
hỗ trợ, Đây là các văn bản quy định việc thu hồi và đền bù thiệt hại khi nhà nước thu
hồi đất rất r ràng, đầy đủ nhất từ trước đến năm 1998 ở nước ta.
Tuy vậy, việc quy định giá đất để đền bù còn hạn chế ở cách tính hệ số K cho từng
dự án để nhân với giá đất chung Chính phủ quy định. Việc tính hệ số K ở mỗi dự án, mỗi
địa phương rất phức tạp về cách tính toán và thủ tục hành chính, việc thực thi đền bù đất
bị kéo dài, trong khi giá cả thị trường về quyền sử dụng đất luôn biến động nên nảy sinh
nhiều mâu thuẫn trong nhân dân. Tại Điều 25 quy định về Hỗ trợ để ổn định sản xuất và
đời sống nêu: “1. Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống cho những người phải di chuyển
chỗ ở được tính trong thời hạn là 6 tháng, với mức trợ cấp tính bằng tiền cho 1 nhân
khẩu/1 tháng tương đương 30 kg gạo theo thời giá trung bình ở thị trường địa phương tại
thời điểm đền bù. 4. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất còn có trách nhiệm: Hỗ
trợ chi phí đào tạo cho những lao động nông nghiệp phải chuyển làm nghề khác do bị thu
hồi đất và nếu có nhu cầu tuyển dụng lao động mới thì phải ưu tiên tuyển dụng lao động
thuộc các đối tượng có đất bị thu hồi.”
Trên cơ sở Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị
định 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bồi thường, hỗ trợ tái định cư
khi nhà nước thu hồi đất gồm 7 chương, 51 điều.
Nghị định 197/2004 và Nghị định 22/1998 có bố cục về cơ bản thống nhất với
nhau, nhưng Nghị định 197 đã khắc phục được những tồn tại trong Nghị định 22, trong
20
đó quy định “giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng” do
UBND tỉnh quy định. Tại Điều 29 quy định: “ 1- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản
xuất nông nghiệp khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp thì được
hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người trong độ tuổi lao động, mức hỗ trợ và số
lượng lao động cụ thể được hỗ trợ do UBND cấp tỉnh quyết định phù hợp với thực tế
địa phương. 2 - Việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp được thực hiện chủ yếu
bằng hình thức cho đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề”.
có nhu cầu về đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông
nghiệp mà giá trị được hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản này lớn hơn hoặc bằng
giá trị đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp;
phần giá trị chênh lệch được hỗ trợ bằng tiền.
2. Trường hợp người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này có nhu
cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học
phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động.
Tại Khoản 1 điều 23 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:
1. Ngoài việc hỗ trợ theo quy định, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương,
Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn
định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất; trường hợp đặc biệt trình Thủ
tướng Chính phủ quyết định.
Như vậy, khi thu hồi đất Nhà nước có những phương thức xử lý khác nhau về
việc bồi thường, hỗ trợ cho người dân mất đất, có thể bồi thường hỗ trợ bằng tiền, và
cũng có thể bồi thường bằng đất. Tuy nhiên trên thực tế, bồi thường hỗ trợ bằng tiền
được áp dụng rộng rãi hơn cả.
Trên cơ sở các quy định của Nhà nước, để thực hiện và áp dụng cho phù hợp
với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, trong những năm qua UBND
thành phố Hải Phòng đã ban hành các cơ chế chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ
chuyển đổi nghề, tạo việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp cho khu vực nông thôn nói
chung, lao động trong khu vực thu hồi đất nông nghiệp nói riêng như sau:
- Chính sách hiện hành được áp dụng theo Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND
ngày 22/01/2012 của UBND thành phố Hải Phòng quy định:
Tại Điều 12: Mục 2.1 Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm đối với hộ
gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi thu hồi đất:
22
“ 1. Nhà nước thu hồi trên 30% diện tích được giao theo hạn mức tại địa
phương được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc
nhà ở hoặc đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Căn cứ tình hình thực tế của địa
gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có
điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn
thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng;
3) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại các điểm 1 và 2 khoản này được
tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời
điểm hỗ trợ của địa phương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định.
Hộ gia đình, cá nhân chỉ được hỗ trợ theo quy định này một lần, sau này khi
Nhà nước tiếp tục thu hồi đất không được hưởng khoản hỗ trợ này nữa”.
1.2.2. Chính sách dạy nghề, học nghề, giải quyết việc làm khi thu hồi đất
nông nghiệp
a. Nhu cầu đào tạo nghề và việc làm cho nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp
Trong những năm gần đây, vấn đề việc làm, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp
cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên cả nước đang ngày càng nóng bỏng. Đô
thị hoá kéo theo sự mở rộng nhanh chóng nhu cầu sử dụng đất phát triển cho các KCN
tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng và đất ở đô thị đã làm cho diện tích đất nông nghiệp
ngày càng một thu hẹp. Theo Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn, ở những nơi bị
thu hồi đất, có đến 67% số hộ vẫn phải quay lại nghề nông, chỉ có 13% có nghề mới
ổn định [15]. Có nhiều hộ dân muốn quay lại nghề cũ nhưng không có đất để sản xuất,
cuối cùng họ rơi vào cảnh thất nghiệp.
Tốc độ đô thị hoá và luồng lao động dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị lớn
làm gia tăng lao động thành thị lên 4,7% so với 2,0% giai đoạn 1996 - 2008. Lao động
nông thôn chiếm khoảng 80% tổng lực lượng lao động, mức tăng trưởng GDP nông
nghiệp đóng góp 20% tổng GDP quốc gia thì tỷ lệ lao động nông thôn như vậy là cao,
tốc độ thu hút lao động khỏi nông nghiệp vẫn chậm. Ở nước ta lao động nông thôn
chiếm 3/4 lao động cả nước và tập trung chủ yếu ở ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng
xuất lao động thấp và cũng là nơi quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm
dần. Kết quả là nhiều lao động mất đất sản xuất hoặc thiếu đất sản xuất dẫn đến dư
thừa lao động và thiếu việc làm. Thu nhập của lao động nông nghiệp vì thế mà thấp và
24
nông nghiệp khi thu hồi
25
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc
gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt
Nam. Vấn đề chuyển dịch mục đích sử dụng đất dẫn đến chuyển dịch lao động cũng
đang diễn ra mạnh mẽ cả tự phát và trong quy hoạch đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời
sống và việc làm của người dân bị thu hồi đất. Hiện tượng lao động nông nghiệp có đất
nông nghiệp thu hồi bị mất việc làm do quá trình đô thị hóa và hình thành các khu vực
công nghiệp tập trung diễn ra mạnh mẽ.
Những năm qua, bên cạnh các chính sách bồi thường hỗ trợ bằng tiền cho người
dân mất đất, Nhà nước còn ban hành những chính sách nhằm hỗ trợ dạy nghề, học nghề
và tạo việc làm cho lao động nông thôn. Có thể kể đến ở đây như là:
- Nghị quyết số 13/NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
kinh tế tập thể và Nghị quyết số 15-NQ/TW về đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp,
nông thôn thời kỳ 2001 - 2010.
- Chính phủ ra Quyết định số 126/QĐ-Tg ngày 11 tháng 7 năm 1998 phê duyệt
chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000.
- Tiếp đó là Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2001 phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001
- 2005.
- Quyết định số 032/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn.
- Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về
chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn. Theo đó, đối tượng ưu
tiên là đối tượng lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. Bộ tài chính cùng với Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 06/2006/TTLT-BTC-
BLĐTBXH ngày 19/01/2006 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 81/2005/ QĐ-TTg,
trong đó có nêu: mỗi lao động bị thu hồi đất nếu có nhu cầu học nghề sẽ được hỗ trợ
tối đa không quá 300.000 đồng/người/tháng và không quá 1.500.000 đồng/người/khóa