THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP tạo VIỆC làm CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG bị THU hồi đất NÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn PHƯỜNG TRẦN lãm – TP THÁI BÌNH – TỈNH THÁI BÌNH - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TRẦN LÃM – TP
THÁI BÌNH – TỈNH THÁI BÌNH
Tên sinh viên : Bùi Duy Khánh
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế
Lớp : KTC55
Niên khóa : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Mậu Dũng
CN. Nguyễn Mạnh Hiếu

Hà Nội – 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là đề tài nghiên cứu khoa học của tôi, các
số liệu và kết quả trong khóa luận này là trung thực và chưa hề được sử dụng.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành khóa luận
này đã được cảm ơn, các thông tin được trích dẫn trong khóa luận này đã
được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày…tháng.… năm 2014
Sinh viên
Bùi Duy Khánh
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế với đề tài: “Thực trạng và
giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên

điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội. Đất đai sản xuất nông
nghiệp là tư liệu lao động của người nông dân, người nông dân bị thu hồi
đất phải chuyển sang nghề mới để đảm bảo thu nhập và sớm ổn định cuộc
sống. Vấn đề tạo việc làm cho đối tượng là người dân bị thu hổi đất là vấn đề
cấp thiết, nó không những làm giảm tỷ lệ thất nghiệp mà còn đảm bảo cuộc
sống cho người lao động và một bộ phận ăn theo. Tuy nhiên, giải quyết việc
làm cho lao động bị thu hồi đất chưa thực sự đạt được kết quả như mong
muốn.
Trần Lãm là một phường trong địa bàn thành phố Thái Bình, trong
những năm gần đây, thực hiện chính sách thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ
cho việc xây dựng các khu công nghiệp trên địa bàn, diện tích đất nông
nghiệp bị thu hồi tính đến cuối năm 2013 đã chiếm 63% tổng diện tích đất
nông nghiệp của phường (theo hợp tác xã nông nghiệp dịch vụ Lạc Đạo
phường Trần Lãm) dẫn tới tình trạng thiếu việc làm của người nông dân. Để
tìm hiểu thực trạng tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất trên địa bàn
iii
phường Trần Lãm, công việc sau khi bị thu hồi đất của người dân cũng như
tìm những giải pháp cơ bản giải quyết việc làm cho người lao động, chúng tôi
đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp tạo việc làm cho
người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn phường Trần Lãm
– TP Thái Bình – tỉnh Thái Bình”
Đề tài được thực hiện với mục tiêu đánh giá thực trạng giải quyết việc
làm cho lao động bị thu hồi đất trên địa bàn, công việc hiện tại của người dân
sau khi bị thu hồi đât. Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao số
lượng và chất lượng việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người
lao động. Cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động, việc làm nói chung
và việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nói riêng ở khu vực nông
nghiệp nông thôn.
- Đánh giá thực trạng việc làm của người lao động sau khi bị thu hồi đất

này mở rộng sản xuất kinh doanh. Và khó khăn lớn nhất mà các hộ gặp phải
chính là thiếu kiến thức sản xuất.
Có thể thấy, sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp, đa số người lao động có
tâm lý hoang mang, lo sợ do việc làm của mình gặp nhiều khó khăn, có một
bộ phận không nhỏ người lao động không tìm kiếm được việc làm do không
đủ kỹ năng, trình độ chuyên môn. Thất nghiệp và bán thất nghiệp có thể tăng
nếu chính quyền phường không có những biện pháp khắc phục cũng như hỗ
trợ kịp thời cho những đối tượng này. Thiếu việc làm ảnh hưởng lớn tới đời
sống của người lao động cả về vật chất lần tinh thần.
Những năm qua, UBND phường Trần Lãm cũng có các chương trình,
dự án đào tạo tay nghề, hỗ trợ người lao động bị thu hồi đất, bước đầu cũng
có hiệu quả nhất định. Khi tham gia vào các lớp dạy nghề, đào tạo chuyên
v
môn, người lao động có tay nghề cao hơn, chất lượng lao động ngày càng tăng.
Lao động dần chuyển dịch từ lao động chân tay sang lao động trí óc, mang lại
thu nhập cao hơn, ổn định hơn. Quá trình tạo việc làm cho lao động bị thu hồi
đất cũng góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm các tệ nạn xã hội trên địa bàn
phường. Tỷ lệ việc làm mới được tạo ra liên tục tăng qua các năm (năm 2013, số
lao động được giải quyết việc làm là 240 người), tỷ lệ thất nghiệp trong phường
giảm xuống còn 10,08%. Kinh phí phường đầu tư cho giải quyết việc làm liên
tục tăng trên cả ba mặt: hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ việc làm và hỗ trợ đào tạo nghề.
Tuy nhiên, số lượng các lớp đào tạo nghề, các khóa đào tạo ngắn hạn còn ít so
với nhu cầu nâng cao tay nghề, học nghề của người lao động.
Trước thực trạng lao động việc làm của phường hiện nay, chúng tôi đã
đề xuất một số giải pháp tạo việc làm cho lao động một cách hiệu quả và đồng
bộ. Giải pháp thứ nhất là đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Tăng cường đầu tư,
hỗ trợ tài chính và khuyến khích người lao động tham gia vào các khoá học
giáo dục hướng nghiệp và đào tạo nghề trước khi tham gia xuất khẩu lao động
để đảm bảo chất lượng nguồn lao động để xuất khẩu. Thực hiện liên thông,
liên kết giữa các doanh nghiệp xuất khẩu lao động với các cơ sở đào tạo và

ưu tiên vay vốn chuyển mục đích sử dụng đất một cách hợp lý và có hiệu quả
cao hơn. Thành lập các quỹ ổn định đời sống, phổ cập giáo dục, học nghề và
việc làm cho các hộ bị thu hồi trên 30% đất sản xuất. Xã hội hóa các dịch vụ
tại các khu công nghiệp, khu đô thị, tạo điều kiện cho người dân bị thu hồi đất
được tham gia kinh doanh. Ngoài ra cần khuyến khích hỗ trợ người lao động
mở rộng cơ cấu ngành dịch vụ. Tận dụng khoản tiền bồi thường thu hồi đất
cùng với lượng tiền vay vốn để xây dựng các khu nhà trọ cho công nhân thuê
nhằm có khoản thu nhập ổn định và có cơ hội tích lũy vốn cho sau này. Cần
quy hoạch khu chùa Ngàn thành khu chợ tập trung có sự quản lý chặt chẽ của
chính quyền địa phương, cải thiện và nâng cấp đường Trần Lãm để thuận tiện
cho giao thông trên địa bàn phường.
vii
MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 1
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 1
*** 1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TRẦN LÃM – TP THÁI BÌNH – TỈNH THÁI BÌNH 1
Tên sinh viên : Bùi Duy Khánh 1
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế 1
Lớp : KTC55 1
Niên khóa : 2010 - 2014 1
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Mậu Dũng 1
CN. Nguyễn Mạnh Hiếu 1
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix

Kết quả điều tra 60 hộ trên địa bàn phường Trần Lãm cho thấy trong tổng số 215 nhân khẩu có
129 lao động. Lao động ngành nông nghiệp chiếm đa số so với các ngành khác, lao động ngành
CNXD, dịch vụ chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nhưng đang gia tăng mạnh trong thời gian vừa qua, ta có thể
theo dõi ở bảng dưới đây 53
Bảng 4.6: Cơ cấu lao động theo các ngành nghề sản xuất cho hộ điều tra năm 2013 54
Bảng 4.7: Số lượng lao động phân theo trình độ kinh tế của hộ 55
Bảng 4.8: Thu nhập của lao động ở các hộ điều tra năm 2013 57
Những khó khăn của sản xuất nông hộ 58
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khó khăn là điều không thể tránh khỏi, có thể thấy một số
khó khăn mà các hộ gặp phải ở bảng dưới đây: 58
Bảng 4.9: Những khó khăn trong sản xuất của các hộ điều tra 58
Bảng 4.10: Hình thức tuyên truyền của phường Trần Lãm 60
Bảng 4.11: Số lao động đào tạo và tư vấn việc làm năm 2011 - 2013 63
Bảng 4.12: Kết quả giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất trên địa bàn phường qua 3 năm
2011 - 2013 64
Bảng 4.13: Hỗ trợ kinh phí giải quyết việc làm 3 năm 2011 – 2013 66
Bảng 4.14: Hỗ trợ vay vốn của các hộ điều tra 66
x
Bảng 4.15: Kết quả giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất theo trình độ văn hóa 2009 -
2013 71
Bảng 4.16: Kết quả giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất theo giới tính 2009 - 2013 72
Bảng 4.17: Kết quả giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất theo điều kiện kinh tế 2009 -
2013 73
4.4.3.1 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động 79
4.4.3.2 Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn 81
4.4.3.3 Khuyến khích phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn phường nhằm gia
tăng số lượng việc làm 83
4.4.3.4 Hoàn thiện chính sách hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ngay trên địa
bàn phường 86
4.4.3.5 Khuyễn khích, hỗ trợ người lao động mở rộng cơ cấu ngành dịch vụ 86

thôn có đất bị thu hồi tự tìm những công việc cho mình mà không có định
hướng cụ thể, dẫn đến sự di dân không có sự quản lý của chính quyền.
Trần Lãm là một phường trong địa bàn thành phố Thái Bình, trong những
năm gần đây, thực hiện chính sách thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho
việc xây dựng các khu công nghiệp trên địa bàn, diện tích đất nông nghiệp bị
thu hồi tính đến cuối năm 2013 đã chiếm 63% tổng diện tích đất nông nghiệp
của phường (theo hợp tác xã nông nghiệp dịch vụ Lạc Đạo phường Trần
Lãm) dẫn tới tình trạng thiếu việc làm của người nông dân. Vậy thực trạng lao
động ở đây ra sao? Với những người lao động quanh năm gắn bó với nông
nghiệp sau khi bị thu hồi đất sẽ như thế nào? Ta phải làm gì để giải quyết vấn
đề đó? Số tiền đền bù trước mắt đã khiến người dân chủ quan trong việc tìm
kiếm việc làm, chính vì vậy, để khắc phục tình trạng thất nghiệp và bán thất
nghiệp xảy ra,các cấp chính quyền của phường cần có các biện pháp tạo việc
làm, hỗ trợ việc làm cho người lao động, đặc biệt là lực lượng lao động bị thu
hồi đất trong phường.
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và
giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên
địa bàn phường Trần Lãm – TP Thái Bình – tỉnh Thái Bình”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng việc làm của người lao động bị thu hồi đất trên địa
bàn phường, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao số lượng và
chất lượng việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động, việc làm nói chung
và việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nói riêng ở khu vực nông
nghiệp nông thôn;
2
- Đánh giá thực trạng việc làm và tạo việc làm của người lao động sau
khi bị thu hồi đất trên địa bàn phường Trần Lãm và ảnh hưởng của nó đến

- Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các
vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình.
Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động lên
đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩn phục vụ cho lợi ích của con người
(Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu 2009). Lao động là diều kiện chủ yếu cho
tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa và xã
hội. Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào.
- Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định
của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và
những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc
trong các ngành kinh tế quốc dân (Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu 2009).
Theo khái niệm trên, nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm: dân số đủ
15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong
gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác.
Xét về chất lượng, nguồn lao động cơ bản đuợc đánh giá ở trình độ chuyên
môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động.
4
- Lực lượng lao động
Theo quan niệm của tổ chức Lao động quốc tế (ILO- International Labour
Organization), lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động.
Theo quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp.
Lực lượng lao động của một quốc gia hay một địa phương là bộ phận dân
số trong tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động, có mong muốn lao
động, đang có việc làm hoặc đang tìm việc làm. Lực lượng lao động bao gồm
những người có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng đang tìm
việc làm (gọi là người thất nghiệp).
* Yếu tố ảnh hưởng đến số lượng lao động
- Dân số: dân số là cơ sở hình thành lực lượng lao động. Nó tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian

Tổng số nguồn nhân lực
Số người thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp là những chỉ tiêu quan trọng
đánh giá mức độ phát triển của thị trường lao động, phục vụ thiết thực công
tác kế hoạch hoá và xây dựng chính sách phát triển kinh tế-xã hội. Nếu tỷ lệ
thất nghiệp của một quốc gia cao, đồng nghĩa với việc các nguồn lực con
người không được sử dụng, bỏ phí đi các cơ hội sản xuất tham sản phẩm, dịch
vụ, làm giảm hiệu quả sản xuất theo quy mô. Một tỷ lệ thất nghiệp vừa phải
sẽ giúp cho cả người lao động và chủ sử dụng lao động. Khi đó, người lao
động có thể tìm được những công việc khác phù hợp với khả năng, mong
muốn và điều kiện cư trú. Còn với những người chủ, tình trạng thất nghiệp
giúp cho họ tìm được những người lao động phù hợp, nâng cao sự trung thành
đối với người lao động. Ở một khía cạnh nào đó, thất nghiệp giúp các doanh
nghiệp tăng năng suất lao động và tăng lợi nhuận.
Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, tỷ lệ thất nghiệp không
hoàn toàn phản ánh được đúng sự thực về nguồn lao động chưa được sử dụng
hết. Nguyên nhân là do số người nghèo chiếm tỷ lệ nhỏ, khi gặp thất nghiệp
họ thường cố gắng không để tình trạng này kéo dài, vì họ không có nguồn lực
dự trữ nên họ buộc phải chấp nhận mọi việc nếu có. Tình trạng này xảy ra phổ
biến ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.
6
- Thời gian lao động: Thời gian lao động là khoảng thời gian cần phải
tiêu tốn để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản
xuất bình thường của xã hội với một trình độ trang thiết bị trung bình, với một
trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã
hội thời điểm đó (theo kinh tế chính trị Marx- Lenin). Qua việc xem xét thời
gian lao động, làm việc của mỗi người lao động, ta có thể đánh giá được hiệu
quả sử dụng và chất lượng của lực lượng lao động. Nếu hiệu quả sử dụng cao,
doanh nghiệp sẽ tiếp tục thuê lao động và đề ra các phương án phù hợp để giữ
chân người lao động. Ngược lại, nếu hiệu quả sử dụng lao động thấp, doanh
nghiệp có thể sẽ sa thải người lao động, dẫn đến tình trạng thất nghiệp cho

biệt người có việc làm không chịu làm việc và người không có việc làm thực
sự có những khó khăn nên những đối tượng này được liệt kê vào những người
không có việc làm. Cách thức này tuy có tiện về thống kê, nhưng không phản
ánh chính xác thực tiễn.
Trong số người có việc làm, căn cứ vào số giờ thực tế làm việc và nhu
cầu làm thêm của người được coi là có việc làm, người ta lại chia ra thành
người đủ việc làm và người thiếu việc làm.
+ Người đủ việc làm gồm những người có số giờ làm việc trong tuần lễ
lớn hơn hoặc bằng 40 giờ; hoặc những người có số giờ nhỏ hơn 40, nhưng
không có nhu cầu làm thêm; hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn
40, nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ quy định đối với những người làm các công
trình nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành.
+ Người thiếu việc làm: Thiếu việc làm là tình trạng người lao động
không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc
làm những công việc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên
muốn làm việc thêm để có thu nhập. Người thiếu việc làm là những người
8
trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ
hơn số giờ quy định trong tuần, trong tháng hoặc trong năm và có nhu cầu làm
thêm giờ; hoặc là những người có tổng số giờ làm việc bằng số giờ quy định
trong tuần, tháng, năm nhưng có thu nhập quá thấp nên muốn làm thêm để có
thu nhập.Theo quy định, là những người có tổng số giờ làm việc trong 1 tuần
dưới 48 giờ đến 8 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn quy định đối với những
người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của nhà nước,
có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng không có việc để làm.
- Người không có việc làm: Là những người đang tích cực tìm việc làm
nhưng chưa làm việc hoặc đang chờ được trở lại làm việc.
Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc, Tổ chức Lao động Quốc tế
phân chia “việc làm” thành các loại:
+ Việc làm ổn định và việc làm tạm thời: Căn cứ vào số thời gian có việc

(đất đã giao, cho thuê để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt
tiêu chuẩn rừng). Theo loại rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất,
đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
- Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích
nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi
trồng nước ngọt.
- Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối.
- Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà
kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các
hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi
gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để
xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm
nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà
10
kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực
vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.
b. Khái niệm thu hồi đất: Theo khoản 5 Điều 4 Luật Đất Đai: thu hồi đất là
việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất, hoặc
thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý
theo quy định của Luật Đất Đai.
* Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến hộ nông dân:
+ Tác động tích cực:
- Một bộ phận nông dân chuyển sang lĩnh vực công nghiệp và dịch
vụ, nâng cao mức thu nhập, cải thiện cuộc sống
- Khi thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, Nhà
nước đã đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thong, trường sở, các loại hình dịch
vụ điện nước…nhờ đó đời sống tinh thần vật chất của dân chúng được chuyển
biến, cải thiện rõ rệt.
+ Tác động tiêu cực:
- Khi thu hồi đất, một bộ phận không nhỏ lao động nông nghiệp

- Về phía người lao động: muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập
cao, đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức lao
động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ (từ
gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững một nghề
nghiệp nhất định.
- Về phía Nhà nước: tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính
sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo
môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ phận
cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status