ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
ĐỖ QUỐC HOÀN
CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG SAU THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
ĐỖ QUỐC HOÀN
CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG SAU THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất .................................................................6
1.2.1. Đặc điểm của lao động bị thu hồi đất do quá trình CNH – HĐH ................6
1.2.2. Sự cần thiết của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động ...........9
1.3. Một số vấn đề chung về việc làm và chính sách giải quyết việc làm ................11
1.3.1. Khái niệm và vai trò của việc làm ...............................................................11
1.3.2. Chính sách giải quyết việc làm....................................................................13
1.3.3. Các chính sách giải quyết việc làm cho người lao động sau thu hồi đất
nông nghiệp ...........................................................................................................16
1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách giải quyết việc làm cho người lao
động sau thu hồi đất nông nghiệp .........................................................................27
1.4. Kinh nghiệm về chính sách giải quyết việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi
đất ở một số địa phƣơng và một số bài học kinh nghiệm .........................................30
1.4.1. Kinh nghiệm về chính sách giải quyết việc làm cho người lao động bị thu
hồi đất ở một số địa phương ..................................................................................30
1.4.2. Bài học kinh nghiệm cho thành phố Phủ Lý ................................................33
CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................36
2.1. Phƣơng pháp thu thập dữ liệu và tài liệu nghiên cứu.........................................36
2.1.1. Số liệu thứ cấp .............................................................................................36
2.1.2. Số liệu sơ cấp ...............................................................................................36
2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................37
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu ...............................................................37
2.2.2. Phương pháp thống kê mô tả.......................................................................37
2.2.3. Phương pháp phân tích và tổng hợp ...........................................................37
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG SAU THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM ...............................................................................39
3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và việc làm của lao động sau
thu hồi đất nông nghiệp ở TP Phủ lý, Hà Nam .........................................................39
4.1.2. Mục tiêu về hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho người lao động
bị thu hồi đất ..........................................................................................................81
4.2. Giải pháp hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu
hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý .................................................83
4.2.1. Giải pháp về chính sách đào tạo nghề theo từng nhóm tuổi và và từng đối
tượng lao động.......................................................................................................83
4.2.2. Chính sách phát triển thị trường lao động ..................................................85
4.2.3. Chính sách huyến khích phát triển đa dạng các loại hình tổ chức sản xuất
kinh doanh để giải quyết việc làm .........................................................................86
4.2.4. Chính sách đẩy mạnh phát triển làng nghề và ngành nghề truyền thống để
giải quyết việc làm .................................................................................................91
4.2.5. Chính sách hướng dẫn và khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình ......92
KẾT LUẬN ...............................................................................................................94
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................95
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Nguyên nghĩa
Stt
Ký hiệu
1
CĐ-ĐH
2
9
KVNN
10
LD
11
LĐPT
Lao động phổ thông
12
HTX
Hợp tác xã
13
THCN
Trung học chuyên nghiệp
14
TNHH
Bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng 3.1 Chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2014 của tỉnh Hà Nam
41
2
Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế Thành phố Phủ Lý năm 2014
42
3
Bảng 3.3 Cơ cấu lao động thành phố Phủ Lý năm 2014
42
4
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả thu hồi đất trên địa bàn thành phố Phủ Lý
43
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình Công nghiệp hoá ở Việt Nam gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế theo hƣớng giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động
công nghiệp và dịch vụ. Trong đó xu hƣớng đô thị hoá, phát triển các khu công
nghiệp, các trung tâm kinh tế, văn hoá mới đòi hỏi một diện tích đáng kể đất nông
nghiệp đƣợc thu hồi cho các mục đích xây dựng khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng.
Điều đó dẫn đến tình trạng một số động lao động mất đất sản xuất, mất nghề phải
chuyển sang các công việc khác. Tình hình này đang diễn ra đối với quá trình Công
nghiệp hoá, Hiện đại hoá của các địa phƣơng trên cả nƣớc. Thực tế cho thấy, các
khu công nghiệp và khu đô thị mới một mặt là nơi tập trung những ƣu thế của nền
văn minh công nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội việc làm phi nông nghiệp cho lao động
nông thôn; mặt khác quá trình đô thị hoá và công nghiệp hóa lại gây ra tình trạng
mất việc làm của nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp. Giải quyết việc làm cho
nông dân bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá là yêu cầu cấp
bách, đồng thời tạo tiền đề cần thiết bảo đảm đô thị hoá, công nghiệp hoá thành
công bền vững.
Thành phố Phủ Lý cũng đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa
khá nhanh trong các năm gần đây. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP đã giảm từ
18,3% năm 2005 xuống còn 15,1% năm 2014, và tỷ trọng lao động trong nông
nghiệp cũng giảm tƣơng ứng từ 71,5% xuống 63%. Quá trình này một mặt đã góp
phần đƣa Phủ Lý trở thành thành phố theo hƣớng công nghiệp, nhƣng bên cạnh đó
cũng gây ra những tác động đáng kể tới việc làm cho một bộ phận lớn nông dân bị
thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Mặc dù
đã có các chính sách đƣợc ban hành và thực thi nhằm giúp nông dân khi bị thu hồi
đất chuyển đổi nghề nghiệp để gia đình họ có đƣợc sinh kế tốt hơn nhƣng trên thực
tế thì các chính sách này chƣa thực sự giúp các lao động bị thu hồi đất có đƣợc công
việc ổn định và tốt hơn. Việc phân tích và đánh giá các chính sách này dƣới góc độ
Nam giai đoạn từ sau 2005.
- Địa điểm nghiên cứu, khảo sát: địa bàn các xã ngoại thành Thành Phố Phủ
Lý, tỉnh Hà Nam.
2
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách
giải quyết việc làm cho ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệp
Chƣơng 2: Thiết kế và phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Thực trạng chính sách giải quyết việc làm cho ngƣời lao động sau thu
đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho
ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà
Nam
3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO
ĐỘNG SAU THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1. Tổng quan nghiên cứu về việc làm và chính sách giải quyết việc làm cho
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Vấn đề việc làm nói chung và chính sách giải quyết việc làm cho ngƣời bị
thu hồi đất nói riêng là một vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng
thời cũng rất nhạy cảm và tác động sâu rộng đến thành công của tiến trình công
cả nƣớc. Trên cơ sở đó đã đƣa ra các quan điểm và một hệ thống giải pháp toàn
diện, đồng bộ, có cơ sở khoa học và có tính khả thi để giải quyết việc làm, bảo đảm
thu nhập và đời sống của những ngƣời có đất bị thu hồi, trong đó có sự quan tâm
thỏa đáng đến đội ngũ lao động ở lứa tuổi ngƣời lao động.
Đề tài: “Đánh giá và giải pháp cải thiện tình hình giải phóng mặt bằng trên
địa bàn thành phố Hà Nội”, luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần Đông Dực, Đại
học Bách Khoa Hà Nội 2011. Luận án này đã tập trung phân tích khá sâu sắc thực
trạng thu hồi đất và GPMB, nhất là đất nông nghiệp ở các huyện ngoại thành Hà
Nội, cũng nhƣ tác động tích cực và tiêu cực của thu hồi đất và GPMB đến việc làm
và đời sống của những ngƣời có đất bị thu hồi (trƣớc hết là với đội ngũ ngƣời lao
động). Luận án cũng đã đƣa ra nhiều giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi để
làm tốt hơn công tác GPMB ở Hà Nội những năm sắp tới.
“Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam:
Phương pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết khiếu nại của dân”, Ngân hàng thế
giới (2011). Ấn phẩm là kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của Ngân hàng thế
giới tại Việt Nam với chủ đề “ Xã hội và các xung đột đất đai” nhằm hỗ trợ Bộ tài
nguyên và môi trƣờng cải thiện chính sách và thực tiễn về thu hồi và chuyển dịch
đất đai để đạt đƣợc sự tăng trƣởng bền vững trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp
hóa nhanh chóng hiện nay.
Năm 2012, Nguyễn Đình Tuấn, Học viện Chính trị - Hành chính đã hoàn
thành Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu
hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Thanh Hoá”. Kết quả
nghiên cứu của đề tài nêu lên sự cần thiết phải GQVL cho ngƣời nông dân bị thu
hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH, làm rõ hơn cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm
5
về GQVL cho nông dân bị thu hồi đất ở nƣớc ta nói chung. Luận văn cho thấy thực
trạng GQVL cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Thanh Hoá, từ đó đề xuất định
lớn trong cơ cấu lao động của đất nƣớc cũng nhƣ trong giai đoạn trƣớc khi thu hồi
đất của nông dân. Ở Việt Nam, xuất phát điểm của quá trình CNH, HĐH đất nƣớc là
một nƣớc có nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp với nhiệm vụ chủ
yếu là sản xuất lƣơng thực và bảo đảm sự sinh tồn của dân cƣ. Đây cũng là đặc
trƣng cơ bản của các nƣớc có nền văn minh lúa nƣớc trên thế giới. Với tỷ lệ trên
65% dân số sống ở nông thôn, lực lƣợng lao động nông nghiệp chiếm từ 65 - 70%
tổng lao động toàn xã hội; năng suất lao động thấp; phân công lao động khu vực
nông nghiệp, nông thôn kém phát triển điều này tạo ra áp lực buộc ngƣời dân phải
sống dựa vào đất nông nghiệp - con đƣờng cơ bản để duy trì sự sống.
- Quy mô việc làm ở nông thôn cho đến ngày nay vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ
lẻ, quy mô gia đình. Mỗi một đơn vị, một cơ sở sản xuất chỉ giải quyết đƣợc việc làm
cho 3 - 4 nhân công. Việc xuất hiện và ngày càng phát triển các trang trại có quy mô
ngày càng lớn hiện nay ở các vùng nông thôn đang tạo một nhu cầu hợp tác mới
trong lao động sản xuất ở nông thôn và cùng theo đó sẽ tạo ra quy mô việc làm lớn
hơn. Tuy nhiên cho đến ngày nay, mặc dù nhu cầu này đang phát triển những vẫn
chƣa chiếm đƣợc tỷ lệ cao trong việc cung cấp việc làm cho lao động ở nông thôn.
- Lao động của nông dân mang tính chất là lao động giản đơn, công việc
mang tính nặng nhọc, hiệu quả công việc và năng suất lao động thấp hơn so với các
ngành sản xuất khác. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là gắn với tự nhiên, chịu
sự tác động của tự nhiên; đất đai là yếu tố chính, giữ vai trò quyết định đến sản xuất
nông nghiệp. Mặc dù có hàng ngàn năm kinh nghiệm trồng lúa, nhƣng cho đến ngày
nay mọi công cụ lao động phục vụ cho công nghệ trồng lúa vẫn chỉ là các dụng cụ
cầm tay, thủ công. Từ khâu làm đất, chăm sóc, tƣới tiêu, bón phân, phun thuốc trừ
sâu, thu hoạch… trong ngành trồng trọt, ngƣời nông dân vẫn làm bằng phƣơng pháp
thủ công. Một số loại máy móc nhƣ máy cày, máy gặt đập liên hợp, bơm phun
nƣớc… thời hợp tác hoá nông nghiệp đã có lúc đƣợc đƣa vào đồng ruộng nhƣng
không mang lại hiệu quả kinh tế, không có ngƣời quản lý và duy tu sửa chữa kịp
thời nên đã dần dần mai một.
định hơn, thu nhập cao hơn so với sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên nếu xét riêng bộ
phận bị thu hồi đất thì quá trình thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho việc phát triển
các KCN đang xuất hiện nhiều vấn đề bất cập. Đó là tình trạng không ít lao động
nông nghiệp bị mất đất, mất việc làm chƣa tìm đƣợc việc làm mới dẫn đến thất
8
nghiệp; và tình trạng nông dân bị thu hồi đất phải chuyển đổi sang làm những nghề
không cơ bản do trình độ thấp, không đáp ứng đƣợc yêu cầu của sản xuất công
nghiệp và dịch vụ.
Phần phân tích tổng quan nghiên cứu cho thấy sau khi thực hiện việc chuyển
một phần đất nông nghiệp sang xây dựng các KCN, khu chế xuất, khu kinh tế mở,
một bộ phận không nhỏ những ngƣời nông dân bị mất việc, phải chuyển đổi nghề
nghiệp. Nhƣ vậy, việc phát triển KCN trong thời gian qua đã làm cho một bộ phận
lao động, chủ yếu là lao động nông nghiệp bị mất một phần hoặc toàn bộ tƣ liệu sản
xuất, dẫn đến mất việc làm, gặp nhiều khó khăn trong tìm và tạo việc làm mới. Đất
canh tác của họ đã đƣợc chuyển đổi mục đích sử dụng, nhƣờng chỗ cho các KCN,
nhƣng lao động lại chƣa đƣợc chuyển đổi tƣơng ứng. Tốc độ chuyển đổi đất nông
nghiệp sang công nghiệp và đô thị hóa nhanh, nhƣng tốc độ chuyển dịch lao động từ
nông nghiệp sang công nghiệp còn chậm, chƣa tƣơng xứng. Sự lệch pha này làm
cho ngƣời nông dân bị thu hồi đất rơi vào cảnh không có việc làm, không tìm đƣợc
việc làm mới và không có thu nhập ổn định.
1.2.2. Sự cần thiết của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động
Chính sách việc làm cho ngƣời lao động nói chung và ngƣời nông dân bị thu
hồi đất nói riêng có vai trò quan trọng không chỉ đối với xã hội mà còn đối với
doanh nghiệp và bản thân ngƣời lao động. Cụ thể là:
Đối với xã hội:
Công nghiệp hoá là xu hƣớng tất yếu của các quốc gia muốn nhanh chóng
thoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, mức sống thấp
thu nhập và không có điều kiện thoả mãn các nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh
thần của ngƣời lao động, chất lƣợng cuộc sống giảm sút, nảy sinh những hàng động,
suy nghĩ tiêu cực, gia tăng các tệ nạn xã hội, kìm hãm sự phát triển của đất nƣớc.
Đối với người nông dân nói riêng:
Đất đai là tƣ liệu sản xuất quan trọng của ngƣời nông dân.Giờ đây, khi đất
canh tác của ngƣời nông dân bị quy hoạch làm khu công nghiệp khu đô thị làm cho
nông dân rơi vào tình trạng tƣ liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi. Ngoài việc cày cấy
ra, họ không biết làm gì, không nghề nghiệp, không trình độ. Ngƣời thì bỏ đi làm ăn
xa, lao động trẻ bỏ đi cầu thực nơi xa, chỉ còn phụ nữ, ngƣời già, trẻ nhỏ ở lại.
Trong khi, họ là những ngƣời thƣờng rất dễ bị tổn thƣơng trƣớc sự chi phối của quy
10
luật thị trƣờng. Cùng với tâm lý lo sợ rủi ro, lối tƣ duy “ăn chắc, mặc bền”, sản xuất
nhỏ lẻ, manh mún càng làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm của ngƣời nông dân càng
trở nên khó khăn. Tình cảnh “ nghèo thì nghèo thêm, giàu thì giàu hơn” đang là tác
nhân chính khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa ngƣời giàu và ngƣời
nghèo, giữa nông thôn và thành thị. Do đó, giải quyết việc làm cho nông dân là rất
cần thiết, nhất là những nông dân bị mất đất canh tác. Không thể đền bù với mức
giá thấp nhƣ hiện nay rồi bỏ mặc nông dân trong vòng xoáy của thất nghiệp. Điều
này liên quan đến một loạt các chính sách về giáo dục, đào tạo, đặc biệt đối với
ngƣời lao động, bởi đây là lực lƣợng nòng cốt, là xƣơng sống để phát triển kinh tế
nông thôn, duy trì bản sắc dân tộc. Nông thôn đang mất đi một lực lƣợng lao động
quan trọng, khiến cho sự phát triển kinh tế khu vực này bị kìm hãm. Nếu đẩy mạnh
công nghiệp hoá và đô thị hoá không gắn liền với quyền lợi và công ăn việc làm của
ngƣời dân nông thôn thì sẽ tạo ra sự mất ổn định tại nông thôn và làm chậm tiến
trình công nghiệp hoá.
1.3. Một số vấn đề chung về việc làm và chính sách giải quyết việc làm
1.3.1. Khái niệm và vai trò của việc làm
với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các
hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn
bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.
Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản
thân mình, vì vậy nó ảnh hƣởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân.
Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá
nhân, thực tế cho thấy những ngƣời không có việc làm thƣờng tập trung vào những
vùng nhất định (vùng đông dân cƣ khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng,..),
vào những nhóm ngƣời nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn
hoá thấp,..). Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi,
nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức,
trình độ vốn có.
Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu
vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng
trƣởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc
làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và
12
kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hƣớng phát triển bền vững,
ngƣợc lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của ngƣời lao động.
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã
hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích
cực, mặt khác nó tác động tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã
hội đó đƣợc duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội ,
không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con ngƣời đƣợc dần hoàn thiện về
nhân cách và trí tuệ…Ngƣợc lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc
làm cho ngƣời lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh
hƣởng xấu đến sự phát triển nhân cách con ngƣời. Con ngƣời có nhu cầu lao động
hiện đại có năng suất cao.
- Nâng cao thu nhập từ việc làm, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho
người lao động. Việc làm có thu nhập cao không chỉ giúp họ thoát nghèo, ổn định
cuộc sống, mà còn phải nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Mục tiêu này đƣợc cụ thể
hóa thành thu nhập bình quân đầu ngƣời, tri thức, sức khỏe.
1.3.2.3. Nguyên tắc của chính sách giải quyết việc làm
Nguyên tắc chính sách là những quan điểm chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành
vi mà các chủ thể chính sách phải tuân thủ trong quá trình hoạch định và tổ chức
thực thi chính sách. Chính sách giải quyết việc làm cho ngƣời lao động sau thu hồi
đất nông nghiệp cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
* Xã hội hóa trong chính sách việc làm. Trƣớc đây trong cơ chế kế hoạch
hóa tập trung, Nhà nƣớc phải lo mọi vấn đề về GQVL, từ đào tạo, phân bổ đến sử
dụng và đãi ngộ. Trong cơ chế thị trƣờng, Nhà nƣớc, DN, các tổ chức xã hội và mọi
ngƣời dân đều có trách nhiệm tham gia vào việc giải quyết việc làm; và chính sách
chỉ có thể có hiệu lực và hiệu quả cao khi có đƣợc sự tham gia, phối hợp của cả Nhà
nƣớc, DN, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, đặc biệt là bản thân ngƣời lao động.
Xã hội hóa chính sách việc làm cho ngƣời lao động vùng thu hồi đất còn giúp huy
động mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế tham gia vào GQVL, giảm bớt gánh
nặng cho NSNN cũng nhƣ khó khăn cho đối tƣợng ngƣời lao động nông thôn trong
diện bị thu hồi đất.
* Đồng bộ. Đối với ngƣời nông dân, thu hồi đất ảnh hƣởng rất lớn tới công
ăn việc làm và đời sống của họ. Thu hồi đất khiến họ không còn ruộng đất để SX
14
dẫn đến phải chuyển đổi nghề nghiệp và tìm việc làm mới; hơn nữa còn phải di
chuyển đến nơi tái định cƣ. Với họ mất đất là mất tƣ liệu SX, mất chỗ ở, mất việc
làm, trong khi bản thân họ thiếu vốn, thiếu kiến thức và kĩ năng, trong khi đó để làm
quen với nghề mới, công việc mới và cuộc sống tại nơi ở mới không đơn giản, bởi
chất lƣợng nguồn nhân lực, chú trọng giáo dục đào tạo để đáp ứng các yêu cầu của thị
trƣờng, của CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Chỉ nhƣ vậy mới nâng cao khả năng và sự
tự tin cho ngƣời lao động, tạo cho họ cơ hội tìm kiếm, lựa chọn việc làm phù hợp với
trình độ chuyên môn đƣợc đào tạo, lựa chọn nơi làm việc hoặc có thêm việc làm mới với
thu nhập cao hơn, đặc biệt là có khả năng tự tạo việc làm cho mình và xã hội.
* Kết hợp hài hòa lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và xã
hội. Về mặt nguyên tắc, đối tƣợng hƣởng lợi của các chính sách này là những ngƣời lao
động nông thôn trong diện bị thu hồi đất, giúp họ có việc làm, thu nhập và cuộc sống ổn
định. Chính sách cũng mang lại lợi ích cho DN với tƣ cách là ngƣời tuyển dụng, sử dụng
trực tiếp lao động, qua đó đáp ứng nhu cầu về số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực
của DN cũng nhƣ các tổ chức sử dụng lao động khác. Lợi ích xã hội mà chính sách mang
lại, đó là giảm gánh nặng NSNN phải chi cho thất nghiệp, giúp toàn dụng lao động xã
hội, góp phần ổn định an sinh xã hội và tăng trƣởng kinh tế cho đất nƣớc một cách bền
vững. Tuy nhiên điều cần lƣu ý là: đối tƣợng thụ hƣởng của chính sách này là trụ cột lao
động của gia đình và xã hội, họ có phần thiệt thòi và chịu rủi ro do bị thu hồi đất, do vậy
chính sách cần quan tâm đến các nhu cầu hợp lý của họ để tránh những biến động lớn
về kinh tế, xã hội và chính trị.
1.3.3. Các chính sách giải quyết việc làm cho người lao động sau thu hồi đất
nông nghiệp
Chính sách giải quyết việc làm cho ngƣời lao động sau thu hồi đất nông
nghiệp bao gồm một hệ thống chính sách bộ phận với các giải pháp và công cụ tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cung và cầu việc làm trên thị trƣờng.
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau có thể có các chính sách bộ phận khác
nhau khi đề cập đến hệ thống chính sách việc làm này.
Sau đây là một số chính sách chủ yếu của chính quyền cấp tỉnh xét theo mục
tiêu tạo điều kiện và hỗ trợ ngƣời lao động vùng thu hồi đất có đƣợc việc làm.
1.3.3.1. Chính sách đào tạo nghề cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp
* Khái niệm: Chính sách đào tạo nghề cho ngƣời lao động sau thu hồi đất
16
- Cung cấp nguồn nhân lực dồi dào và có chất lƣợng cho các tổ chức, đáp
17