ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
CHU HỒNG DƢƠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ XÂY DỰNG
CÁC KHU ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƢNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Quang Vinh đã tận tình hƣớng dẫn tôi thực hiện
nghiên cứu này. Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới UBND huyện Văn Giang,
Ban GPMB, các Phòng, Ban của huyện Văn Giang – tỉnh Hƣng Yên đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi để tôi có đƣợc những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu. TÓM TẮT
Tên luận văn: Giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây
dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hƣng
Yên.
Tác giả: Chu Hồng Dƣơng
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Bảo vệ năm: 2015
Giáo viên hƣớng dẫn: TS. Phạm Quang Vinh
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
*Mục đích:
Luận văn nhằm làm rõ những cơ sở lý luận và đánh giá một cách đúng đắn
thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng
các khu đô thị và khu công nghiệp ở huyện Văn Giang, đề xuất các giải pháp có căn
cứ và có tính khả thi nhằm giải quyết một cách căn bản việc làm cho lao động bị thu
hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, đô thị trên địa bàn huyện
những năm tới.
MỤC LỤC
Danh sách các từ viết tắt xviii
Danh sách bảng xix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị thu
hồi đất nông nghiệp. 4
1.1.1. Việc làm và vai trò của việc làm 4
1.1.2. Phát triển các Khu công nghiệp, đô thị và vấn đề giải quyết việc làm
cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. 7
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới giải quyết việc làm cho người lao động. 15
1.1.4. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi
đất nông nghiệp của một số nước trên thế giới. 20
1.1.5. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất
động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Văn Giang 49
3.3. Nhu cầu việc làm và thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp huyện Văn Giang 51
3.3.1. Nhu cầu việc làm của lao động sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp 51
3.3.2. Chủ trương của huyện Văn Giang giải quyết việc làm cho lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp. 54
3.3.3. Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
của huyện Văn Giang 59
3.4. Đánh giá về thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang thời gian qua. 67
3.4.1. Kết quả đạt được 67
3.4.2. Hạn chế và nguyên nhân 70 CHƢƠNG 4: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN GIANG – HƢNG YÊN 76
4.1. Các căn cứ chủ yếu xác định phƣơng hƣớng và giải pháp giải quyết việc làm
cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang – Hƣng
Yên 76
4.2. Phƣơng hƣớng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
trên địa bàn huyện Văn Giang – Hƣng Yên 76
4.2.1. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế trên cơ sở phát triển các ngành sử dụng nhiều
lao động, đặc biệt là lao động phổ thông và không đòi hỏi chuyên môn cao 77
4.2.2. Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động 78
4.2.3. Huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế để giải quyết việc
làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 79
4.2.4. Nâng cao vai trò của các cơ quan chức năng trong công tác giải quyết
việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 80
4.3. Các giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông
CN – XDCB
Công nghiệp – Xây dựng cơ bản
5
CNH, HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
6
ĐH
Đại học
7
GTSX
Giá trị sản xuất
8
HĐND
Hội đồng nhân dân
9
TC, CNKT
Trung cấp, công nhân kỹ thuật
10
TM – DV
Thƣơng mại – Dịch vụ
11
UBND
Uỷ ban nhân dân
DANH SÁCH BẢNG
STT
Bảng
Cơ cấu kinh tế huyện Văn Giang ( 2011-2014)
45
7
Bảng 3.7
Dân số và lao động huyện Văn Giang
47
8
Bảng 3.8
Cơ cấu lao động huyện Văn Giang giai đoạn 2011 –
2014
48
9
Bảng 3.9
Cơ cấu độ tuổi và trình độ văn hoá lao động huyện
Văn Giang
49
10
Bảng 3.10
Diện tích và số hộ bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa
bàn huyện Văn Giang từ năm 2011 đến 2014
51
11
Bảng 3.11
Số ngƣời trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp cần giải quyết việc làm giai đoạn 2011-2014
52
12
Bảng 3.12
Mức kinh phí hỗ trợ theo từng hình thức đào tạo
54
doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế tạo nhiều việc làm tăng thu nhập. Khi phát triển
các khu công nghiệp và đô thị sẽ đƣợc đẩy nhanh tăng trƣởng kinh tế, tạo nhiều việc
làm và cải thiện đời sống nhân dân. Nhƣng trong thực tế thực hiện thì lại không
hoàn toàn nhƣ vậy, những nông dân bị thu hồi đất bị phục vụ phát triển khu công
nghiệp, đô thị hoá lại thiếu việc làm, đời sống giảm sút, nhiều vấn đề về xã hội, môi
trƣờng tác động tiêu cực đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Do vậy
càng phát triển các khu công nghiệp và đô thị thì áp lực cho việc làm, đời sống cho
nông dân ngày càng tăng.
Sự nghiệp CNH - HĐH đang đƣợc đẩy mạnh ở Văn Giang. Đã có 87 dự án
đƣợc chấp thuận đầu tƣ kinh doanh, sản xuất công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ và
đô thị trên địa bàn huyện. Gắn liền với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hoá đang
diễn ra khá mạnh mẽ là việc thu hồi đất, mà chủ yếu là đất nông nghiệp để phát
triển các khu đô thị và các khu công nghiệp. Quá trình xây dựng các khu đô thị và
khu công nghiệp đã và đang kéo theo hàng loạt những khó khăn trong việc giải
quyết việc làm cho ngƣời lao động nông nghiệp bị mất đất. Vấn đề này nếu không
đƣợc giải quyết một cách thấu đáo sẽ không chỉ ảnh hƣởng đến tiến độ và hiệu quả
của các công trình, mà sâu sa hơn nó còn tiềm tàng những bất ổn cho xã hội.
Để đánh giá đƣợc thực trạng thu hồi đất và ảnh hƣởng của nó tới việc làm của
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết
việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang, tôi
đã triển khai nghiên cứu đề tài: “Giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện
Văn Giang tỉnh Hưng Yên” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá một cách đúng đắn thực trạng giải quyết việc
làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công
nghiệp ở huyện Văn Giang, đề xuất các giải pháp có căn cứ và có tính khả thi nhằm
giải quyết một cách căn bản việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng, việc làm của lao động có đất nông
nghiệp bị thu hồi từ năm 2011 đến năm 2014. Đây là thời kỳ công nghiệp hoá diễn
ra nhanh chóng. Đồng thời, nhiều vấn đề bức xúc trong quá trình thu hồi đất cũng
nảy sinh chủ yếu trong thời gian này.
- Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu những biện pháp đã
và đang đƣợc thực hiện để giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp cũng nhƣ tiềm năng và điều kiện để giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp bị thu hồi đất.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu
tham khảo, Luận văn bao gồm 4 chƣơng :
- Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu nghiên cứu.
- Chương 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu.
- Chương 3: Thực trạng và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp ở huyện Văn Giang – Hƣng Yên.
- Chương 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang – Hƣng Yên.
4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp.
không phản ánh chính xác thực tiễn.
Trong số ngƣời có việc làm, căn cứ vào số giờ thực tế làm việc và nhu cầu làm
thêm của ngƣời đƣợc coi là có việc làm, ngƣời ta lại chia ra thành ngƣời đủ việc
làm và ngƣời thiếu việc làm.
Điều 104, mục I, chƣơng VII, Bộ Luật Lao động nƣớc CHXHCN Việt Nam có
quy định: “Thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong
một tuần. Ngƣời sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày
hoặc tuần, nhƣng phải thông báo trƣớc cho ngƣời lao động biết. Thời giờ làm việc
hàng ngày đƣợc rút ngắn từ một đến hai giờ đối với những ngƣời làm các công việc
đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động - Thƣơng
binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.”
Theo đó, người đủ việc làm gồm những ngƣời làm việc đủ thời gian quy định
là có số giờ làm việc trong tuần lễ lớn hơn hoặc bằng 48 giờ; hoặc những ngƣời có
số giờ nhỏ hơn 48, nhƣng không có nhu cầu làm thêm; hoặc những ngƣời có số giờ
làm việc nhỏ hơn 48, nhƣng bằng hoặc lớn hơn giờ quy định đối với những ngƣời
làm các công trình nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành.
Người thiếu việc làm là những ngƣời có tổng số giờ làm việc trong 1 tuần dƣới
48 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn quy định đối với những ngƣời làm công
việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của nhà nƣớc, có nhu cầu làm
thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhƣng không có việc để làm.
Bên cạnh nhóm ngƣời có việc làm, còn tồn tại nhóm ngƣời không có việc làm.
Đó là những ngƣời thất nghiệp.
Thất nghiệp là sự tồn tại của một bộ phận lực lƣợng lao động có khả năng và
sẵn sàng làm việc nhƣng không tìm đƣợc việc làm.
Theo quy định của Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội, Người thất nghiệp
là những ngƣời đủ từ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc nhƣng không có việc làm
6
trong tuần lễ điều tra, và tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc trong 4 tuần lễ
qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với lý do chờ việc, nghỉ thời vụ,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình.
Đối với ngƣời nông dân đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, rất quan trọng. Giờ
đây, khi đất canh tác của ngƣời nông dân bị quy hoạch làm khu công nghiệp khu đô
thị làm cho nông dân rơi vào tình trạng tƣ liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi. Trong
khi, họ là những ngƣời thƣờng rất dễ bị tổn thƣơng trƣớc sự chi phối của quy luật
thị trƣờng. Cùng với tâm lý lo sợ rủi ro, lối tƣ duy “ăn chắc, mặc bền”, sản xuất nhỏ
lẻ, manh mún càng làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm của ngƣời nông dân càng trở
nên khó khăn. Do đó, tạo việc làm cho nông dân là rất cần thiết, nhất là những nông
dân bị mất đất canh tác.
1.1.2. Phát triển các Khu công nghiệp, đô thị và vấn đề giải quyết việc làm cho
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp.
1.1.2.1. Tính tất yếu của xu thế phát triển các Khu công nghiệp, đô thị trong quá
trình công nghiệp hoá.
Hiện đang có nhiều quan niệm về khu công nghiệp. Có quan niệm cho rằng,
khu công nghiệp là một vùng đất đƣợc phân chia theo hệ thống nhằm cung cấp mặt
bằng cho các ngành công nghiệp. Có quan niệm coi khu công nghiệp nhƣ một khu
đô thị công nghiệp hay thành phố công nghiệp, ngoại việc cung cấp cơ sở hạ tầng,
tiện ích công cộng, khu công nghiệp còn bao gồm khu thƣơng mại, dịch vụ, hành
chính, nhà ở cho ngƣời lao động… ngoài hàng rào khu công nghiệp.
Theo nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, khu công nghiệp là
khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (có tƣờng rào bao quanh)
không có dân cƣ sinh sống, do các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định
thành lập.
Từ khi xuất hiện các khu công nghiệp cho đến nay, thực tế đã cho chúng ta
thấy vai trò hết sức quan trọng của chúng trong nền kinh tế, đặc biệt là đối với các
nƣớc đang phát triển thƣờng thiếu vốn và kỹ thuật. Việc tập trung các doanh nghiệp
sản xuất trong khu công nghiệp đã thu hút đƣợc nguồn vốn lớn từ nƣớc ngoài, cũng
8
Sự hình thành các trung tâm công nghiệp, các khu công nghiệp tập trung ở mỗi
vùng nhằm đáp ứng các nhu cầu của sản xuất, đời sống ngày càng tăng của chính
vùng đó và là hạt nhân lan toả sang các vùng khác là yếu tố khách quan. Đó cũng là
biểu hiện của tính tập trung hoá trong các hoat động sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên, quy mô sản xuất phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quy mô
dân số của vùng để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả.
CNH, HĐH ở một nƣớc nông nghiệp nhƣ nƣớc ta thì nội dung quan trọng nhất
là chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm lao động nông thôn. Đặc
biệt, quá trình CNH, HĐH luôn gắn liền với việc xây dựng và phát triển các khu
công nghiệp khu chế xuất. Tính đến năm 2010, cả nƣớc có 255 khu công nghiệp và
khu chế xuất đã đƣợc thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 69.253 ha, trong đó
diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt trên 45.000 ha, chiếm khoảng 65%
tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó 171 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với
tổng diện tích đất tự nhiên 43.508 ha và 84 khu công nghiệp đang trong giai đoạn
đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên
25.673 ha.
1.1.2.2. Thu hồi đất xây dựng Khu công nghiệp, Khu đô thị
Quá trình mở cửa nền kinh tế hội nhập với khu vực và thế giới đã và đang có
những tác động đáng kể tới nền kinh tế, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kéo theo sự
thay đổi về cơ cấu lao động của các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, ảnh
hƣởng trực tiếp tới đời sống của ngƣời lao động nƣớc ta. Đặc biệt, ngày 7/11/2006,
nƣớc ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thƣơng mại Thế
giới WTO. Đây là một sự kiện trọng đại mang tính lịch sử, mở ra cho nƣớc ta
những thời cơ mới, thuận lợi mới, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình CNH, HĐH của
đất nƣớc.
Công nghiệp hoá và đô thị hoá có mối quan hệ khá chặt chẽ, tốc độ công
nghiệp hoá càng nhanh thì trình độ đô thị hóa càng đƣợc đẩy nhanh và ngƣợc lại. Sự
hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp tập trung với quy mô
lớn, khu kinh tế mở, các công trình công cộng, các cơ sở hạ tầng… đòi hỏi phải
mất. Hạn chế tối đa việc chuyển đổi mục đích sử dụng các vùng đất màu mỡ thuận
11
lợi cho nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, khuyến khích chuyển mục đích sử
dụng những vùng đất đồi, đất mà sản lƣợng lƣơng thực thấp, giữ đất nông nghiệp
cho năng suất cao, đất trồng lúa nhiều vụ để đảm bảo vấn đề an ninh lƣơng thực.
Trừ trƣờng hợp không có đất nào khác mà địa phƣơng bắt buộc phải phát triển công
nghiệp thì mới tính toán một phần đất hạn chế nào đó.
Điều 57, Luật đất đai 2013 quy định đƣợc phép chuyển đổi mục đích sử dụng
đất đối với 7 trƣờng hợp: Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng
rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; Chuyển đất trồng cây hàng năm khác
sang đất nuôi trồng thủy sản nƣớc mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dƣới
hình thức ao, hồ, đầm; Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản
xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp; Chuyển đất
nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp; Chuyển đất phi nông nghiệp đƣợc Nhà nƣớc
giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp đƣợc Nhà nƣớc giao
đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất; Chuyển đất phi nông nghiệp không phải
là đất ở sang đất ở; Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục
đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
không phải là đất thƣơng mại, dịch vụ sang đất thƣơng mại, dịch vụ; chuyển đất
thƣơng mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi
nông nghiệp. Việc sử dụng đất để xây dựng khu công nghiệp phải phù hợp với quy
hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch chi tiết xây
dựng khu công nghiệp đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xét duyệt. Quy
hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp phải đảm bảo đồng bộ với quy hoạch nhà
ở, công trình công cộng phục vụ đời sống ngƣời lao động làm việc trong khu công
nghiệp. Nhà nƣớc thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển
kinh tế: đầu tƣ xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự
án đầu tƣ lớn theo quy định của Chính phủ.
Hơn nữa, thực hiện theo đúng chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng ta là chuyển
việc làm đối với ngƣời dân bị thu hồi đất là vấn đề nan giải cần đƣợc giải quyết
trong thời gian sớm nhất.
Từ góc độ lao động và việc làm, CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi cơ cấu
13
lao động và việc làm từ các hoạt động nông nghiệp sang các hoạt động công nghiệp,
thƣơng mại và dịch vụ. Khi các khu công nghiệp, khu đô thị mở rộng ra các vùng
ngoại vi, các khu dân cƣ ở ngoại vi sẽ hình thành và các hoạt động công nghiệp,
thƣơng mại, dịch vụ sẽ phát triển. Nông thôn sẽ là nơi có sự thay đổi mạnh mẽ về
hoạt động công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ.
Những lao động nông nghiệp khi bị thu hồi đất canh tác, họ sẽ đƣợc Nhà đầu
tƣ đền bù một khoản tiền. Với số tiền đó, họ dùng để tạo nghề mới, tìm việc mới…
và có rất nhiều vấn đề khác cũng thay đổi theo.
Ngƣời lao động cần việc làm, họ muốn có thu nhập, có tiền công kiếm đƣợc từ
công việc, vì vậy họ cung cấp sức lao động của mình. Các ngành kinh tế vận hành
quá trình sản xuất để đạt hiệu quả với sự tham gia của ngƣời lao động. Ngƣời lao
động cũng là đối tƣợng tiêu dùng các loại hàng hoá, dịch vụ do các ngành kinh tế
sản xuất ra. Vì vậy, các ngành cần lao động để phát triển cũng nhƣ ngƣời lao động
cần cung cấp sức lao động của mình.
Sự phát triển của các khu công nghiệp sẽ tạo ra một lƣợng lớn việc làm, thu hút
và làm giảm đáng kể lao động nông nghiệp không có việc làm. Tuy nhiên, nhìn từ góc
độ khác thì khi gia tăng quy mô các khu công nghiệp, thu hồi thêm nhiều đất nông
nghiệp cũng sẽ làm cho một lực lƣợng đáng kể lao động nông nghiệp bị mất việc làm,
dẫn tới gia tăng tình trạng thất nghiệp. Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu
việc làm của nông dân bị thu hồi đất một phần là do sự phát triển các ngành công
nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ chƣa đáp ứng đủ nhu cầu giải quyết việc làm cho ngƣời
lao động. Mặt khác, do chính bản thân ngƣời lao động, vốn xuất phát từ nông dân, có
nhiều hạn chế về năng lực, trình độ văn hoá, do lớn tuổi, chƣa thích ứng với công việc
mới, không đáp ứng đƣợc yêu cầu của thị trƣờng lao động. Điều này gây khó khăn cho
cuộc sống của chính bản thân ngƣời lao động, đồng thời cũng gây khó khăn cho doanh