ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN HUYỀN LÊ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
VÙNG THU HỒI ĐẤT Ở TỈNH KHÁNH HOÀ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI – 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN HUYỀN LÊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI – 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN HUYỀN LÊ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
VÙNG THU HỒI ĐẤT Ở TỈNH KHÁNH HOÀ
Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 60.31.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Nguyễn Huyền Lê
CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
CĐ, ĐH
Cao đẳng, đại học
CMKT
Chuyên môn kỹ thuật
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNKT
Công nhân kỹ thuật
DN
Doanh nghiệp
FDI
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
KCN
Khu công nghiệp
LĐ
Lao động
LLLĐ
Lực lượng lao động
LĐ-TB-XH
Lao động – Thương binh – Xã hội
TH
Tiểu học
THCS
Trung học cơ sở
THPT
1.1.3. Giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất là đòi hỏi
bức bách, khách quan của phát triển kinh tế và cuộc sống cư dân. 24
1.2. Nội dung giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất. 26
1.2.1. Một số khái niệm 26
1.2.2. Chủ trương chính sách về giải quyết việc làm cho người lao động
vùng thu hồi đất 30
1.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm một số tỉnh/thành phố trong nước và bài
học rút ra cho tỉnh Khánh Hòa 44
2
1.3.1. Kinh nghiệm giải quyết việc làm một số tỉnh/thành phố trong nước . 44
1.3.2. Một số bài học rút ra cho tỉnh Khánh Hòa về giải quyết việc làm cho
người lao động vùng thu hồi đất. 55
Kết luận chương 1. 58
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO
ĐỘNG VÙNG THU HỒI ĐẤT TỈNH KHÁNH HÒA 60
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Khánh Hòa 60
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên 60
2.1.2. Đặc điểm kinh tế: tình hình phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng kinh tế -
kỹ thuật. 63
2.1.3. Đặc điểm về xã hội: cơ sở hạ tầng xã hội 66
2.2. Tình hình giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất ở
Khánh Hòa 74
2.2.1. Tình hình thu hồi đất 74
2.2.2. Các chủ trương, chính sách, chương trình dự án về giải quyết việc
làm cho người lao động vùng thu hồi đất. 76
2.3. Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi
đất ở Khánh Hòa. 84
2.3.1. Kết quả đạt được (những thành công trong giải quyết việc làm) 84
2.3.2. Hạn chế tồn tại, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong giải quyết
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2004-2007 của tỉnh Khánh Hòa 63
Bảng 2.2: Qui mô dân số theo khu vực thành thị nông thôn và lực lượng lao động
Khánh Hòa. 69
Bảng 2.3: Cơ cấu trình độ học vấn của lực lượng lao động tỉnh Khánh Hòa qua
thời kỳ 2002-2006 70
Bảng 2.4: Số việc làm của Khánh Hòa chia theo 3 khu vực kinh tế thời kỳ 2002-
2006. 72
Bảng 2.5: Giá trị GDP và số việc làm phân theo ngành kinh tế của
Khánh Hoà thời kỳ 2002-2006 72
Bảng 2.6: Mối tương quan (hệ số co giãn) của việc làm và giá trị tổng sản phẩm
nội tỉnh (GDP) thời kỳ 2002-2006. 73
Bảng 2.7: Tình hình phát triển các KCN, cụm công nghiệp và diện tích đất bị thu
hồi của Khánh Hòa thời kỳ 2004-2006 và dự kiến 2007-2009, 2010. 74
Bảng 2.8. Tỷ lệ doanh nghiệp theo đánh giá mức độ đáp ứng của lao động bị thu
hồi đất và loại hình doanh nghiệp 88
Bảng 2.9: Thay đổi tỷ lệ lao động theo hình thức việc làm của lao động thời điểm
điều tra so với trước khi thu hồi đất. 93
Bảng 2.10. Thay đổi tỷ lệ lao động theo trình độ CMKT thời điểm điều tra
(2006) so với trước khi thu hồi đất 94
Bảng 2.11. Số lao động bị thu hồi đất theo trình độ CMKT thời điểm điều tra và
nhóm tuổi 100 5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao với tổng diện tích 885,82
ha; 10 cụm công nghiệp vừa và nhỏ với tổng diện tích 467,1 ha. Đến năm 2010
tổng số đất nông nghiệp của tỉnh sử dụng để chuyển đổi sang các KCN, KCX là
1.637,145 ha.
Quá trình thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp phục
vụ cho phát triển kinh tế - xã hội đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và
ngoài nước, phát triển doanh nghiệp cả về số lượng và quy mô, góp phần thúc
đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, giải quyết việc
làm, tăng năng suất lao động và tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách [18]. Việc
7
thu hồi đất để xây dựng các KCN chính là điều kiện và thời cơ tốt nhất để
chuyển một bộ phận quan trọng lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn, là
khu vực có năng suất lao động thấp, sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Với
số lượng lớn đất nông nghiệp bị thu hồi như quy hoạch của Tỉnh đến 2010, ước
tính một lượng lớn lao động nông nghiệp, phải chuyển đổi ngành nghề lên tới
khoảng 29.028 người. Nhiều lao động đã được giải quyết việc làm với thu nhập
cao hơn, ổn định hơn như hiện nay, với một khu công nghiệp Suối Dầu và một
cụm công nghiệp vừa và nhỏ Diên Phú đi vào hoạt động đã giải quyết việc làm
cho khoảng 14.000 lao động. Nhưng bên cạnh đó, người dân bị thu hồi đất,
không phải tất cả mọi người đều có thể dễ dàng chuyển đổi được sang các công
việc thuộc lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ như mong muốn, mà một bộ phận khá
lớn người dân bị thu hồi đất là những người nông dân thuần túy lâu đời, khi bị
thu hồi đất, đất canh tác bị thu hẹp, không hoặc khó có thể tiếp tục với hoạt động
nông nghiệp nhưng bị hạn chế là rất nhiều lao động đã ở vào độ tuổi không năng
động để có thể được đào tạo nghề phù hợp trong lĩnh vực công nghiệp hoặc dịch
vụ, khả năng chuyển đổi nghề mới và tìm việc làm trong lĩnh vực công nghiệp,
dịch vụ còn gặp nhiều khó khăn.
Hiện nay, số lao động bị thu hồi đất chủ yếu chỉ được hỗ trợ bằng hình
thức đền bù đất. Trong cuộc điều tra đánh giá tác động của chủ trương qui hoạch
tích đất canh tác đã dẫn đến một bộ phận không nhỏ lao động trong nông nghiệp
rơi vào tình trạng không có hoặc thiếu việc làm. Trước thực trạng đó đặt ra yêu
cầu cấp bách về giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động mất đất do quá
9
trình CNH-HĐH và ĐTH. Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, các
chương trình dự án đã đề cập đến các vấn đề về lao động- việc làm, giải quyết
việc làm cho lao động trong vùng thu hồi đất nông nghiệp.
Các tác giả ở Viện Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng: tác động của đô thị
hóa làm người dân mất đất nhưng không có việc làm tạo ra dư thừa lao động
trong nông thôn.
Theo đánh giá của Vụ Lao động - Việc làm, Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi tăng nhanh, ngay
sau khi bị thu hồi đất, lao động bị mất hoặc thiếu việc làm trong khi các dự án
phát triển công nghiệp đòi hỏi phải có thời gian mới có thể thu hút được lao
động, do vậy, vấn đề việc làm ở những khu vực này trở nên bức xúc.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân trong đề tài KX.01-2005 đã đề cập đến
vấn đề việc làm và thu nhập cho lao động bị thu hồi đất trong quá trình CNH-
HĐH và ĐTH. Nghiên cứu đã đề cập đến sự cần thiết phải thu hồi đất, CNH-
HĐH và ĐTH tất yếu sẽ dẫn đến thu hồi đất nông nghiệp và do đó một bộ phận
người dân sẽ mất việc làm trong nông nghiệp. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách
thức đối với nước ta trong quá trình phát triển.
Trung tâm Tin học - Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có cuộc điều
tra nghiên cứu về thực trạng việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất phục vụ
cho phát triển kinh tế - xã hội tại 6 tỉnh: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, TP Hồ
Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai với 541 hộ. Cuộc khảo sát đã đưa ra kết
luận: khó khăn mà nhiều hộ dân gặp phải sau khi bị thu hồi đất là tìm và tạo việc
làm mới.
10
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng lao động -
việc làm của lao động vùng thu hồi đất.
- Phạm vi về không gian: Lao động vùng thu hồi đất ở tỉnh Khánh Hòa.
- Phạm vi về thời gian: Số liệu khảo sát hộ gia đình thu hồi đất năm
2006, trong đó có tìm hiểu một số thông tin của năm trước khi bị thu
hồi đất.
1.6. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cách tiếp cận
- Luận văn tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ của chuyên ngành kinh
tế chính trị từ yêu cầu phát triển bền vững: phát triển kinh tế phải đi đôi
với giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường.
- Luận văn sẽ xem xét vấn đề đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao
động vùng giải toả đất như một tổng thể, một hệ thống gồm nhiều nhân tố
tác động đến.
* Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng tổng hợp các phương pháp toán thống kê, phương pháp phân tích
tổng hợp, so sánh, phương pháp chuyên gia, phương pháp điều tra xã hội học và
các phương pháp kinh tế khác trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử để làm rõ các nội dung.
12
1.7. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về việc làm và giải quyết việc làm cho
lao động vùng thu hồi đất.
Phân tích đặc điểm và tình hình giải quyết việc làm cho lao động vùng
thu hồi đất ở tỉnh Khánh Hòa.
Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho lao động
vùng thu hồi đất ở tỉnh Khánh Hòa.
1.8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Nội
sử dụng đất.
[11]
14
Cũng theo Luật đất đai qui định tại điều 7 thì:
1. Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của cả nước; thực hiện quyền giám sát tối cao đối
với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước.
2. Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
vào mục đích quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý nhà nước về đất
đai trong phạm vi cả nước.
Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong
việc quản lý nhà nước về đất đai.
3. Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành
pháp luật về đất đai tại địa phương.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất
đai và quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy
định tại Luật này.
[11, điều 7]
Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai. Nội dung quản lý nhà nước về đất
đai bao gồm:
a) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó;
b) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính;
15
c) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
Đại hội VII của Đảng đã quyết định Chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội giai đoạn 1991- 2000. Trong chiến lược đã định hướng rõ nước ta phải
đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chiến lược này được Đại hội
IX đánh giá việc thực hiện và quyết định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
cho 10 năm đầu của thế kỷ XXI trong đó tiếp tục nhấn mạnh việc đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng
để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam khóa VII đã nêu ra khái niệm “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi
căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế -
xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến
sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại
dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng
suất lao động xã hội cao” [8].
17
Về mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã ghi rõ: “Mục tiêu của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp
có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh
thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng
dân chủ văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Từ nay đến năm 2020
ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [9].
Tóm lại, Công nghiệp hóa là một quá trình cải biến toàn diện nền kinh tế
cả về mặt kỹ thuật sản xuất lẫn thể chế và cơ cấu kinh tế. Ngoài ra, một nội dung
mới của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là thực hiện các yêu cầu của quá trình hội
nhập vào nền kinh tế toàn cầu hóa, bao hàm cả quá trình thể chế liên quan đến xu
hướng tự do hóa, phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế toàn cầu.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một vấn đề rất lớn, xét về cả mặt lý
Từ cách hiểu đô thị như vậy, ta có thể đưa ra khái niệm về đô thị hóa theo
cách mà Eldrige định nghĩa về đô thị hóa như sau: “Đô thị hóa là quá trình tập
trung dân cư, quá trình đó được tiến hành theo 2 cách : sự tăng lên của các điểm
tập trung dân cư và sự tăng lên về qui mô của từng điểm tập trung đó” [dẫn theo
21]. Như vậy, nói đến đô thị hóa là đề cập đến quá trình hình thành và phát triển,
mở rộng các thành phố gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của
mỗi nước. Đó cũng là quá trình biến đổi các khu nông thôn thành đô thị, biến các
vùng có mật độ dân cư thưa thành các vùng có mật độ dân cư đông đúc, có hoạt
19
động kinh tế xã hội phong phú, có đời sống tinh thần và vật chất cao và phong
phú hơn các vùng lân cận. Quá trình đô thị hóa cũng được hiểu là quá trình cải
biến cơ cấu kinh tế của từng khu vực theo hướng tăng dần tỷ trọng của ngành
công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế.
Đô thị hoá là xu thế khách quan của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước và hội nhập với xu thế toàn cầu hoá. Bản chất của đô thị hoá là sự
phát triển các cụm kinh tế công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng cơ sở, phát triển
các cụm dân cư theo hình thức và điều kiện sống mang tính chất công nghiệp,
sầm uất đô thị. Đô thị hoá tạo ra cơ sở thúc đẩy phát triển phân công lao động xã
hội, cơ cấu lại kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Các đặc điểm cơ bản của nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình đô thị
hoá như sau:
Thứ nhất, Đô thị hoá tác động thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông
thôn, chuyển lao động nông thôn sang làm các công việc công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ.
Thực tế nước ta trong các năm chuyển đổi nền kinh tế cho thấy, quá trình
đô thị hoá có mối quan hệ mật thiết với chuyển dịch cơ cấu lao động, với đặc
trưng là thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển lao động từ khu vực nông
nghiệp sang các khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Thứ hai, quá trình đô thị hoá và hội nhập toàn cầu hoá kinh tế góp phần