ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN MINH YẾN
XÁC NHẬN CỦA
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
1.2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................... 2
1.3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 3
1.4.
Kết cấu của luận văn ................................................................................. 3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN,
THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU
HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP .................................................................................................. 4
1.1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài............................ 4
1.1.1.
Các nghiên cứu chủ yếu ............................................................................................................ 4
1.1.2.
Những kết quả nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu...............................................10
1.2.5.
Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp .................................................................................................................................................29
1.3.
Cơ sở thực tiễn giải quyết việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp .............................................................................................................. 34
1.3.1.
Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước .............................................................34
1.3.2.
Bài học rút ra cho quận Long Biên ......................................................................................37
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................... 38
2.1. Cơ sở phƣơng pháp luận: ................................................................................ 38
2.2. Các phƣơng pháp cụ thể .................................................................................. 39
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu ....................................................................39
2.2.2. Phương pháp trừu tượng hóa khoa học ....................................................... 41
2.2.3. Phương pháp thống kê mô tả ........................................................................ 41
2.2.5. Phương pháp so sánh..................................................................................... 43
2.2.6. Phương pháp kết hợp logic với lịch sử.......................................................... 43
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO
ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở QUẬN LONG BIÊN – THÀNH
3.3.6.
Hoạt động giải quyết việc làm thông qua thị trường sức lao động................................82
3.4. Đánh giá chung về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp trên địa bàn quận Long Biên ..................................................................... 84
3.3.1. Những kết quả chủ yếu..................................................................................................................84
3.3.2. Những hạn chế, và nguyên nhân................................................................................................86
3.3.2.2. Nguyên nhân chủ yếu của những bất cập............................................................................87
CHƢƠNG 4: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở QUẬN LONG BIÊN –
THÀNH PHỐ HÀ NỘI........................................................................................................ 91
4.1. Bối cảnh mới và ảnh hƣởng của nó đến giải quyết việc làm cho lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Long Biên. ....................................... 91
4.1.1. Thuận lợi ...........................................................................................................................................91
4.1.2. Khó khăn ...........................................................................................................................................92
4.2. Định hƣớng về giải quyết việc làm cho ngƣời dân bị thu hồi đất nông
nghiệp ở quận Long Biên ........................................................................................ 92
4.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp ở quận Long Biên........................................................................ 96
4.3.1. Các giải pháp về cơ chế, chính sách và công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện....................96
4.3.2. Giải pháp về công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho nông dân bị thu hồi đất .............. 103
4.3.3. Giải pháp nhằm nâng cao tính chủ động của người lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp trong giải quyết việc làm và sử dụng nguồn kinh phí bồi thường một cách hiệu quả.104
4.3.2. Các giải pháp về tổ chức và quản lý ......................................................................................... 104
4.3.4. Một số giải pháp đặc thù khác................................................................................................... 107
KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................. 110
PHỤ LỤC 1 ........................................................................................................................... 114
ii
MỞ ĐẦU
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa với mục tiêu
chuyển nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghi ệp sang nền kinh tế dựa trên công
nghiệp. Hệ quả tất yếu của quá trình đó là hình thành các khu công nghiê ̣p và kèm
theo đó là quá trình đô th ị hóa được hình thành và phát triển, tạo ra sự thay đổi lớn
về kinh tế - xã hội.
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước tất yếu sẽ dẫn đến quá trình
chuyển đổi mục đích sử dụng một bộ phận diện tích đất nông nghiệp sang phục vụ
quá trình phát triển đô thị và các khu kinh tế, khu công nghiệp. Vì vậy, có hàng
chục vạn hộ gia đình nông nghiệp, nông thôn phải hy sinh những quyền lợi cơ bản
của mình là nhường đất - tư liệu sản xuất quan trọng nhất của người nông dân cho
các dự án để tái định cư ở những nơi ở mới, dẫn đến sẽ có hàng triệu lao động nông
nghiệp buộc phải chuyển đổi nghề do bị mất đất sản xuất. Điều đó có tác động đến
toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội của đối tượng dân cư phải nhường đất để đến các
khu tái định cư. Nhưng tác động lớn nhất là người nông dân rơi vào trạng thái bị
động và thiếu các điều kiện đảm bảo cuộc sống khi họ bị mất việc làm và buộc phải
chuyển đổi nghề từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề khác. Bên cạnh đó,
việc thực hiện các dự án phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa thời gian
qua cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề như: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu
hẹp, lao động nông nghiệp mất việc làm truyền thống và khó chuyển đổi nghề
nghiệp, cách thức đền bù, giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường… Trong đó,
vấn đề giải quyết việc làm để ổn định đời sống cho người lao động sau khi bị thu
nào được đặt ra nhằm giải quyết việc làm ổn định cho lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp ở Quận Long Biên?
1.2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1.2.1. Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá tình hì nh thu hồi đất nông nghiệp và giải quyết việc làm cho lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết
việc làm cho các hộ dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Long Biên
1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về giải quyết việc
làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp.
2
- Đánh giá thực tra ̣ng vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp trên địa bàn quận Long Biên – thành phố Hà Nội.
- Đề xuấ t một số giải pháp nâng cao hi ệu quả giải quyết việc làm cho lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp.
1.3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu
hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên - Thành phố Hà Nội.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian : Đề tài nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho lao
một vấn đề rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng rất nhạy
cảm và tác động sâu rộng đến thành công của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, đô thị hóa nên là chủ đề nhận được sự quan tâm rộng rãi của các nhà khoa học,
các nhà quản lý kinh tế. Khi xem xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác
giả chia các nghiên cứu thành các nhóm nội dung thu dần cấp độ mà các nghiên cứu
đề cập đến. Dưới đây là những nhóm nội dung nghiên cứu liên quan đến đề tài:
- Nhóm tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề việc làm nói chung:
+ Lê Thi (1991) nghiên cứu “Vấn đề việc làm, tăng thu nhập, nâng cao địa vị
người phụ nữ nông thôn hiện nay” [31]. Đây là những nghiên cứu có tính cơ bản và
hệ thống đầu tiên về vấn đề việc làm. Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra tính
bức xúc của vấn đề giải quyết việc làm ở khu vực nông thôn và vấn đề việc làm
phát huy vai trò của người phụ nữ ở khu vực này.
+ Đề tài cấp Nhà nước KX 04.04 về "Luận cứ khoa học cho việc xây dựng
chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần" [6]. Đây là một công trình lớn trong Chương trình KX 04 nằm
trong hệ thống 10 chương trình khoa học công nghệ được Nhà nước triển khai
nghiên cứu giai đoạn 1990-1995. Kết quả nghiên cứu của đề tài này đã đóng góp
một số luận cứ, cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước ta trong việc hình thành các
chủ trương, chính sách về giải quyết vấn đề việc làm thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
+ Ngân hàng thế giới (2011), “Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch
4
đất đai tự nguyện ở Việt Nam: Phương pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết
khiếu nại của dân” [19]. Đây là kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của Ngân hàng
thế giới tại Việt Nam với chủ đề “Xã hội và các xung đột đất đai” nhằm hỗ trợ Bộ
Tài nguyên và Môi trường cải thiện chính sách và thực tiễn về thu hồi và chuyển
dịch đất đai để đạt được sự tăng trưởng bền vững trong quá trình đô thị hóa và công
nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng hiện nay. Nội dung của tác phẩm bao gồm ba báo
+ Nguyễn Hữu Dũng (2005), “Đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá với việc
đảm bảo điều kiện sống và làm việc của người lao động” [9]. Ở bài viết này, tác giả cho
rằng công nghiệp hóa kéo theo quá trình đô thị hóa và có tác động hai mặt: một mặt, làm
cho bộ mặt của các tỉnh, thành phố thay đổi theo hướng hiện đại; mặt khác, làm cho một số
lao động bị mất việc làm sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp và tác giả đưa ra các hướng
giải quyết cho vấn đề nêu ra.
+ Nguyễn Hữu Dũng (2008), “Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động
việc làm” [10]. Tác giả cho rằng, việc phát triển các khu công nghiệp là một kênh giải
quyết việc làm một cách hữu hiệu nhất đối với lao động nông thôn, đặc biệt là lao động
ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Bài viết cũng cho rằng, để lao động nông
thôn, trong đó có lao động ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất có thể tiếp cận
hoặc làm việc được ở các khu công nghiệp cần phải có hàng loạt các chính sách tác
động, nhất là tạo điều kiện để phát triển thị trường sức lao động. Muốn vậy, vấn đề đào
tạo nghề cho lao động nông thôn cần được đặt lên hàng đầu. Nếu không chuyển đổi
được nghề thì lao động ở các vùng bị mất đất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa sẽ luôn phải bị đứng ngoài quá trình ấy. Và do đó, đời sống và thu nhập của người
lao động nông thôn sẽ không thể cải thiện.
+ Hà Thị Hằng (2008), “Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu
hồi đất ở nước ta hiện nay” [14]. Tác giả đã đề cập khái quát tình trạng thu hồi đất
của nông dân ở nước ta, phân tích sự ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến việc làm,
thu nhập của nông dân từ đó đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho đối tượng
này trong thời gian tới.
+ Nguyễn Tiệp (2008), “Việc làm cho người lao động trong quá trình chuyển
đổi mục đích sử dụng đất” [33]. Tác giả đã giới thiệu cho người đọc một số nét
trong nghiên cứu về những khó khăn trong giải quyết việc làm của người dân vùng
chuyển đổi mục đích sử dụng đất, và tác giả cũng cho rằng, những khó khăn đó rất
khó tìm ra giải pháp giải quyết thoả đáng trong thời gian tới, vì theo tính toán của
7
việc làm cho người dân bị thu hồi đất.
+ Đề tài khoa học cấp Bộ (2010), “Việc làm và thu nhập của nông dân vùng
Đông Nam bộ dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa” [16]. Đề
tài phân tích, đánh giá những tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tới
phát triển kinh tế - xã hội nói chung và tới việc làm, thu nhập của người dân nông
thôn vùng Đông Nam bộ nói riêng. Đánh giá đúng thực trạng về việc làm và thu
nhập của người dân nông thôn vùng Đông Nam bộ trong quá trình công nghiệp hóa,
đô thị hóa, khó khăn và những vấn đề còn tồn tại, phân tích nguyên nhân của những
vấn đề đó; làm rõ vai trò của nhà nước, các chủ thể tạo việc làm và người lao động
trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của vùng Đông Nam bộ. Phân tích
tác động của một số chính sách liên quan đến tạo việc làm cho nông dân. Đề xuất
phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm và tăng thu nhập nhằm hạn chế
những khó khăn, nâng cao đời sống kinh tế của người dân nông thôn trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở
vùng này.
+ Nguyễn Văn Nhường (2010), "Chính sách an sinh xã hội đối với người
nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các cụm công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc
Ninh)” [18]. Tác giả đi sâu vào phân tích những nội dung lý luận về chính sách an
sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, đồng
thời đánh giá thực trạng đời sống người dân bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng
các khu công nghiệp tại Bắc Ninh. Qua việc chỉ ra những thành tựu, hạn chế và
nguyên nhân bằng việc sử dụng mô hình SWOT, tác giả đề xuất các giải pháp xây
dựng và hoàn thiện chính sách về an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi
đất để xây dựng các khu công nghiệp.
Ngoài ra, còn nhiều công trình khoa học khác đã được công bố liên quan đến
đề tài như: “Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá
trình công nghiệp hóa” của tác giả Đặng Kim Sơn; “Vấn đề việc làm của nông dân
hiện nay - bài toán không dễ giải” của tác giả Phạm Thị Tuý; “Việc làm cho hộ
bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở quận Long Biên (thành
phố Hà Nội) được thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, những công trình trong nước đề cập đến những vấn đề có tính
10
hiện trạng chung, nhằm giới thiệu một số kết quả nghiên cứu ở các góc độ nhất định
của việc thực hiện chính sách về lao động, việc làm trên một số mặt, trên bình diện
chung của cả nước hoặc một vài địa phương nhất định; chưa phân tích sâu những
căn nguyên của tình hình biến động việc làm và áp lực tạo việc làm cho đối tượng là
nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa.
Các nghiên cứu chưa đưa ra quan niệm chung nhất về việc làm cho nông dân
bị thu hồi đất, tạo việc làm cho họ; đặc biệt chưa chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến
việc làm và phương thức tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất.
Đối với các nghiên cứu đánh giá về chính sách, phần lớn các nghiên cứu
nghiêng về góc độ quản lý kinh tế và cung cấp các thông tin về thu hồi đất, trong khi
đó mảng nghiên cứu, phân tích trực diện về chính sách cho nông dân bị thu hồi đất lại
khá hiếm, đặc biệt vấn đề đào tạo, chuyển đổi ngành nghề - mảng then chốt để tạo
việc làm cho nông dân bị thu hồi đất hiện nay hầu như chưa có những đầu tư phân
tích một cách thỏa đáng.
1.2.
Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho các hộ dân bị thu hồi đất
nông nghiệp
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Khái niệm về việc làm
Tại hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
đã đưa ra khái niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có
được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người
Khoản 1, Điều 9, Chương II, Bộ luật Lao động (sửa đổi): “Việc làm là hoạt động lao
động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [27]. Như vậy, việc làm là lao
động của con người nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân và gia đình không
bị pháp luật ngăn cấm, bao gồm:
- Những người làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc
hiện vật (gọi là việc làm được trả công).
- Những người làm các công việc tự làm hoặc các công việc gia đình để thu lợi
nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng
tiền hoặc hiện vật cho các công việc đó (gọi là việc làm không được trả công)
Việc làm là khái niệm mang tính chất động. Vì vậy, người ta chia việc làm
12
thành những phạm trù xã hội - nghề nghiệp khác nhau như: Việc làm chính thức: Là
công việc chính mang lại thu nhập chính (đối với những việc làm được trả công) và
những thu nhập về của cải vật chất cho bản thân và gia đình (đối với những việc
làm không được trả công); Việc làm không chính thức: Là những công việc làm
thêm ngoài công việc chính. Chẳng hạn, đối với người nông dân, việc làm chính của
họ là sản xuất nông nghiệp trong mùa vụ, còn việc làm không chính thức là những
việc làm thêm trong lúc nông nhàn; Việc làm bền vững: Là việc làm mà nó tạo ra
các cơ hội cho người lao động được làm việc một cách có hiệu quả, có thu nhập
công bằng, bảo đảm an toàn tại nơi làm việc, tạo điều kiện để cá nhân phát triển và
khuyến khích hòa nhập xã hội, cho phép mọi người được tự do bày tỏ những mối
quan tâm của mình, được tự do tổ chức và tham gia vào các quyết định ảnh hưởng
tới cuộc sống của họ và bảo đảm cho tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng và
được đối xử bình đẳng.
Việc làm của lao động nông thôn là những hoạt động lao động trong tất cả
các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế của một bộ phận lao
động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Việc làm ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều kiện sinh sống, làm việc
nhằm sử dụng tư liệu sản xuất đó.
Thứ tư, việc làm là kết quả của sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản
xuất phải tạo ra một loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhất định nào đó. Sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ đó phù hợp với lợi ích của con người.
Thứ năm, việc làm là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động không
bị luật pháp ngăn cấm. Điều kiện này phản ánh tính pháp lý của việc làm cho phép
người lao động độc lập, tự chủ lựa chọn việc làm cho mình trong khuôn khổ pháp
luật quy định. Người lao động được tự do hành nghề, liên doanh, liên kết, thuê
mướn lao động trong khuôn khổ pháp luật và sự hướng dẫn, tạo môi trường của Nhà
nước để có thể tự tạo việc làm cho mình.
1.2.1.2. Khái niệm về giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và
tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản than, gia đình, cộng đồng và xã hội.
Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiền năng của một
14
con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả. Chính vì vậy,
giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở
chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình. Trong đó có
quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản than và gia đình góp
phần xây dựng quê hương đất nước. Giải quyết việc làm có thể hiểu ở một số khía
cạnh sau đây:
Thứ nhất, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất. Số lượng và chất lượng
tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản
xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó.
Thứ hai, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động. Số lượng lao động phụ
thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi và sự di chuyển của
lao động, chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục đào tạo,y tế,
chăm sóc sức khỏe cộng đồng…
Hoạt động lao động đó không bị luật pháp Việt Nam ngăn cấm.
Như vậy, hoạt động được xem là giải quyết việc làm cho người lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Giải quyết việc làm
cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp cần phải đầu tư phát triển sản xuất,
tạo ra một số lượng tư liệu sản xuất có khả năng đáp ứng yêu cầu của người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp, cần quân tâm đào tạo, chuyển đổi nghề cho người
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nhằm nâng cao chất lượng, số lượng sức lao
động để sử dụng hiệu quả tư liệu sản xuất có được; để sức lao động có thể kết hợp
được với tư liệu sản xuất, cần phải có sự phù hợp giữa trình độ tư liệu sản xuất và
năng lực lao động, nên người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp cần phải có trình
độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp; kết quả của hoạt động lao động của người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp là tạo ra một loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhất
định nào đó phù hợp với lợi ích của bản thân, cộng đồng, xã hội; những hoạt động
lao động của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp phải không bị luật pháp
ngăn cấm.
1.2.2. Tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến việc làm của người lao
động bị thu hồi đất
16
1.2.3.1. Tác động tích cực
Việc thu hồi đất nông nghiệp tạo ra những tác động tích cực nhất định đối
với việc làm của người bị thu hồi đất, có thể kể đến một số tác động sau:
- Tạo cơ hội việc làm có thu nhập ổn định cho một bộ phận lao động nông
thôn. Việc thu hồ i đấ t nông nghiê ̣p để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị đã
giúp cho việc chuyển một số lao động từ khu vực sản xuất nông nghiệp sang làm
việc ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Từ đó làm cho thu nhập của lao động nông
thôn tăng lên. Sau khi thu hồ i đấ t nông nghiê ̣p , nhiều lao động nông thôn đã chuyển
sang các ngành phi nông nghiệp, đặc biệt là số lao động trẻ, lao động đã qua đào
tạo. Các khu công nghiệp đã thu hút được số lượng lớn lao động nông thôn, và thu