luận văn thạc sĩ chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện đan phƣợng, hà nội - Pdf 41

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị
thu hồi đất trên địa bàn huyện Đan Phượng, Hà Nội” là công trình nghiên cứu
khoa học độc lập của tôi. Những kết quả và số liệu trong bài có nguồn gốc rõ ràng.
Những kết quả nghiên cứu của Luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Hương


ii
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Thương Mại, với sư
giúp đỡ tận tình của quý thầy, cô trường Đại học Thương mại, bạn bè và đồng
nghiệp, tôi đã hoàn thành đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh
tế:“Chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn
huyện Đan Phượng, Hà Nội”.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Thương mại, Khoa
sau đại học, các thầy, cô giáo giảng dạy tại trường đã động viên và tạo mọi điều
kiện để tôi có thể yên tâm với công việc nghiên cứu. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Bích Loan đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết
hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo và cán bộ phòng Lao động, thương binh và
xã hội huyện Đan Phượng và các anh, chị, bạn bè đã hỗ trợ cung cấp tài liệu để tôi
có cơ sở thưc tiễn bổ sung vào bài viết.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
động viên, hỗ trợ, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập, làm việc và hoàn
thành luận văn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016

dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Đan Phượng.......................................54
CHƯƠNG 3.......................................................................................................63
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH...................................................63
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT..............63
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, HÀ NỘI....................................63
3.1. Phương hướng và quan điểm giải quyết việc làm cho nông dân bị thu
hồi đất trên địa bàn huyện Đan Phượng đến năm 2020.................................63
3.2. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho
nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Đan Phượng, Hà Nội................68
3.3. Một số kiến nghị.........................................................................................80
KẾT LUẬN........................................................................................................82


iv
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................84
13.Nguyễn Hữu Quỳnh (1998), Đại Từ Điển Kinh Tế Thị Trường, NXB Từ
Điển Bách Khoa;...............................................................................................85
PHỤ LỤC 1.........................................................................................................1
PHỤ LỤC 2.........................................................................................................5


v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG
Bảng 2.1: Số nông dân bị thu hồi đất có việc làm từ 2013 – 2015..................29
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu việc làm theo ngành nghề................................................30
Bảng 2.2: Số lượng lớp và lao động được đào tạo nghề năm 2010 - 2015.....32
Bảng 2.3: Số học viên học nghề tìm được việc làm.........................................33
Biểu đồ 2.2: Đánh giá về chất lượng đào tạo nghề tại địa phương................34
Bảng 2.4: Số lượng người nông dân bị thu hồi đất làm việc tại khu công

triển, xây dưng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dưng các khu công nghiệp, khu đô thị,
…. việc thu hồi đất, nhất là đất nông nghiệp là một yêu cầu tất yếu khách quan. Quá
trình xây dưng diễn ra sôi động hơn bao giờ hết, kéo theo đó là diện tích đất nông
nghiệp đang dần bị thu hẹp lại. Điều này đã tác động đến toàn bộ hoạt động của
người nông dân khi phải nhường đất – tư liệu sản xuất quan trọng nhất của mình
cho các dư án phát triển kinh tế. Trong khi đó, nước ta là nước nông nghiệp, lấy sản
xuất lúa nước làm chính, nhưng trước thách thức đất đai nông nghiệp ngày càng bị
thu hẹp, người nông dân rơi vào trạng thái bị động và thiếu các điều kiện đảm bảo
cuộc sống khi họ bị mất việc làm, buộc phải chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp
sang các ngành nghề khác. Vì vậy, vấn đề việc làm của người nông dân sau khi bị
thu hồi đất được coi là vấn đề bức xúc và đặt ra yêu cầu cần được giải quyết nhanh
chóng, tạo điều kiện cho nông dân ổn định cuộc sống.
Hà Nội là Thủ đô của nước ta, đồng thời cũng là một trong những trung tâm
kinh tế lớn của cả nước. Kể từ ngày 01/8/2008, sau khi mở rộng địa giới hành
chính, trên địa bàn thành phố đang hình thành nhiều khu công nghiệp và khu đô thị
mới. Việc mở rộng địa giới đã tạo thêm nguồn quỹ đất lớn phục vụ cho quá trình
công nghiệp hóa, hiên đại hóa. Trong những năm qua, nhiều diện tích đất nông
nghiệp đã bị thu hồi để phục vụ cho xây dưng kết cấu hạ tầng, phát triển khu công
nghiệp,… nhất là các vùng ngoại thành. Những dư án xây dưng ngày càng mở rộng
và tăng lên, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ngày càng lớn đồng nghĩa với
những thách thức không nhỏ đối với đời sống, thu nhập và việc làm của người nông
dân sau khi bị thu hồi đất.
Đan Phượng là một huyện ngoại thành nằm ở phía Tây Bắc trung tâm thành
phố Hà Nội. Những năm gần đây, do tác động của việc đẩy nhanh quá trình đô thị
hóa và chương trình mục tiêu quốc gia xây dưng nông thôn mới nên nhiều diện tích
đất nông nghiệp đã bị thu hồi để phục vụ phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dưng
kết cấu hạ tầng. Đất đai bị thu hồi, người nông dân bị mất toàn bộ hoặc một phần đất
sản xuất không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp rơi vào tình trạng thất nghiệp,



nông dân trên địa bàn huyện.
Thưc tế nêu trên đang gia tăng áp lưc trong việc hoàn thiện chính sách giải
quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất phục vụ quá trình công nghiệp
hóa, đô thị hóa. Đây là một vấn đề cấp bách và lâu dài. Xuất phát từ thưc tiễn


3
khách quan và nhận thấy sư cần thiết của vấn đề này, em chọn đề tài: “Chính
sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Đan
Phượng, Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề giải
quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất để xây dưng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, khu
công nghiệp, khu đô thị, phục vụ quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Đáng chú ý như:
- Chính sách tạo việc làm cho người lao động trong quá trình đô thị hóa trên
địa bàn Quận Bắc Từ Liêm của tác giả Nguyễn Đức Hoàn; năm 2014, luận văn thạc
sỹ kinh tế, trường Đại học Thương mại. Luận văn đã hệ thống hóa những lý luận cơ
bản về chính sách tạo việc làm cho người lao động trong quá trình đô thị hóa. Phân
tích thưc trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách tạo việc làm
cho người lao động trong quá trình đô thị hóa.
- Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở huyện Hoài Đức, thành
phố Hà Nội của tác giả Nguyễn Tiến Trí, năm 2013, luận văn thạc sỹ kinh tế chính
trị, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong luận văn này, tác giả
đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thưc tiễn liên quan đến lao động, việc làm và
giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất. Đúc rút kinh nghiệm về giải
quyết việc làm ở một số địa phương có thể áp dụng cho huyện Hoài Đức; đồng thời
phân tích và đánh giá thưc trạng công tác giải quyết việc làm vùng thu hồi đất trên
địa bàn huyện Hoài Đức. Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả giải quyết việc làm cho nông dân vùng thu hồi đất ở huyện Hoài Đức trong

sách giúp người thu hồi đất chuyển đổi nghề nghiệp, quan tâm giải quyết việc làm ở
nông thôn….
Ngoài ra, còn một số cuốn sách liên quan đến vấn đề giải quyết việc làm cho
người nông dân bị thu hồi đất như: “Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất
bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các
công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia”, năm 2007 do Giáo sư, Tiến sỹ
khoa học Lê Du Phong chủ biên; “Hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, vấn đề và
giải pháp” năm 2009, các tác giả PGS. TS Nguyễn Chí Mỳ, TS. Hoàng Xuân Nghĩa
đồng chủ biên; các cuốn sách đề cập đến một số vấn đề lý luận, thưc trạng về thu
nhập, đời sống, việc làm của người nông dân bị thu hồi đất để xây dưng các khu
công nghiệp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đồng thời cho thấy những khó khăn
tồn tại, đưa ra những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết việc làm,
đảm bảo thu nhập và đời sống của người nông dân bị thu hồi đất.
Nhìn chung, các công trình đã có những cách tiếp cận khác nhau hoặc trưc
tiếp, hoặc gián tiếp đến vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi


5
đất, đó là vấn đề không chỉ riêng một địa phương hay một khu vưc nào mà đang
diễn ra ở tất cả mọi miền đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
đô thị hóa.
Các công trình trên đã nêu lên tương đối sát thưc tế về những tồn tại hiện nay
về công tác giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên phạm vi rộng. Tại
mỗi thời điểm, mỗi địa điểm, mỗi công trình nghiên cứu với cách tiếp cận và quy
mô khác nhau sẽ có những thưc trạng và giải pháp khác nhau. Trên cơ sở đó tác giả
tiếp tục nghiên cứu theo hướng chuyên sâu, cụ thể trên địa bàn huyện Đan Phượng
và không trùng lắp với những kết quả, công trình đã nghiên cứu trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho

5.2. Phương pháp thu thập dữ liệu
a. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua sử dụng phiếu điều tra với người nông
dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Đan Phượng, Hà Nội.
- Mục đích: Nhằm thu thập những thông tin liên quan đến tình hình việc làm
và chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất.
- Đối tượng: Đối tượng là những người nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn
huyện Đan Phượng.
- Nội dung: Bảng câu hỏi được soạn thảo trên phiếu điều tra gồm 5 phần.
Phần I thu thập thông tin chung về chủ thể được điều tra gồm tên, tuổi, địa chỉ,
trình độ văn hóa và chuyên môn; Phần II thu thập thông tin về tình hình sử dụng đất
nông nghiệp, tài sản trước và sau khi bị thu hồi đất; Phần III thu thập thông tin về
tình hình việc làm; Phần IV thu thập thông tin về thu nhập và đời sống của người
nông dân trước và sau khi bị thu hồi đất, Phần V là ý kiến và đề xuất của đối tượng
được điều tra về chính sách thu hồi đất, hỗ trợ và giải quyết việc làm cho nông dân
bị thu hồi đất.
- Số phiếu phát ra là 150 phiếu, thu về 136 phiếu chiếm tỷ lệ 90,67%, trong đó có
104 phiếu hợp lệ chiếm tỷ lệ 69,33%, có 32 phiếu không hợp lệ do đối tượng điều tra
chọn các phương án trái ngược nhau.
b. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Nhằm thu thập thông tin thứ cấp, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài
liệu, tập trung nghiên cứu các tài liệu như: các văn bản của Chính phủ, của Thủ
tướng chính phủ về giải quyết việc làm, các văn bản của Huyện ủy, UBND huyện
Đan Phượng về chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất; các báo
cáo của các phòng ban chức năng có liên quan như Phòng Lao động, Thương binh


7
và Xã hội huyện Đan Phượng, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Đan Phượng,
Phòng Thống kê; một số công trình nghiên cứu trước đó về vấn đề giải quyết việc


8
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT
1.1. Việc làm và giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
1.1.1. Việc làm đối với nông dân bị thu hồi đất
a. Việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và con
người, thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Việc làm là mối
quan tâm hàng đầu của người lao động và giải quyết việc làm là công việc quan
trọng của tất cả các quốc gia. Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động
phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ. Sư tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia
cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách việc làm. Với tầm quan trọng như
vậy, việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ như kinh tế, xã hội, lịch sử, pháp
lý… Do được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nên tùy theo cách tiếp cận sẽ có những
cách định nghĩa khác nhau về việc làm.
Theo quan điểm của C.Mác: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp
giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,...)
để sử dụng sức lao động đó” [5]. Theo quan điểm này, có thể hiểu việc làm chính là
sư kết hợp của ba yếu tố gồm sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Thiếu một trong ba yếu tố này thì không thể diễn ra quá trình lao động được. Nói
cách khác, những khách thể bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động (gọi
chung là tư liệu sản xuất) là điều kiện thiết yếu để người lao động có được việc làm.
Theo quan niệm của Đại từ điển kinh tế thị trường: “Việc làm là hành vi của
nhân viên, có năng lưc lao động, thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu
sản xuất, để được thù lao hoặc thu nhập kinh doanh”. [13]
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến mối
quan hệ với lưc lượng lao động. Khi đó, việc làm được phân làm hai loại: có trả
công (những người làm thuê) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập
(những người làm chủ). Vì vậy, việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Nông dân là những người lao động cư
trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng làm
ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai” [15].
Có thể hiểu, người nông dân là những người lao động, sống ở nông thôn, nghề
nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp và nguồn sống chủ yếu dưa vào các sản phẩm
lao động từ nông nghiệp.


10
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Đây là một tất yếu khách quan đối với sư phát triển kinh tế, xã hội của nước
ta. Quá trình này cần có sư tập trung các nguồn lưc cơ bản vào một số ngành, lĩnh
vưc then chốt của nền kinh tế, đồng thời sẽ dẫn đến sư phân bổ lại các nguồn lưc
kinh tế bao gồm lao động, vốn, khoa học công nghệ, đất đai.
Về nguồn lưc đất đai, một bộ phận đất đai trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp
sẽ được chuyển đổi mục đích sử dụng sang phục vụ cho việc xây dưng các khu
công nghiệp, khu chế xuất, xây dưng các khu đô thị, phát triển hệ thống kết cấu hạ
tầng và các công trình công cộng phục vụ lợi ích của cộng đồng và của quốc gia. Vì
vậy, việc thu hồi đất phục vụ quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa là rất cần thiết.
Để phục vụ sư nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa ở nước ta hiện
nay, đã có hàng chục nghìn hộ gia đình phải nhường một phần hoặc toàn bộ diện
tích đất nông nghiệp để chuyển đổi mục đích sử dụng, phù hợp với yêu cầu phát
triển. Do đó, đã có hàng triệu người nông dân không còn cơ hội canh tác trên mảnh
đất của mình. Cuộc sống và thu nhập của những người nông dân xưa nay phụ thuộc
chủ yếu vào đồng ruộng, đối với họ, đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, là tư
liệu sản xuất chính giúp họ tạo ra thu nhập, là điều kiện cần để sinh tồn. Người
nông dân khi bị thu hồi đất, không còn đất để tham gia vào hoạt động sản xuất đồng
nghĩa với việc họ mất đi việc làm. Số lao động đó phải chuyển đổi sang ngành nghề
mới hoặc phải chấp nhận không có việc làm.
Việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi đất là những hoạt động lao

Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế - xã hội
của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời
sống xã hội để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều được lao động và
có thu nhập.
Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất,
số lượng, chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế, xã hội cần thiết khác để
kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động. Nói cách khác, giải quyết việc làm là quá
trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người trong độ tuổi lao động,
có khả năng lao động, đang có nhu cầu tìm việc làm có cơ hội để làm việc với mức
tiền công hợp lý.
Theo các định nghĩa nêu trên, thưc chất của giải quyết việc làm là quá trình tạo
ra và kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm sức lao động, tư liệu sản xuất và các điều
kiện kinh tế - xã hội khác để đảm bảo cho người có khả năng lao động được lao động.
Từ những phân tích trên, theo tác giả: “Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ
hội, các điều kiện để người lao động có việc làm và có thu nhập, phù hợp với nhu cầu
của bản thân”.


12
Việc làm là nhu cầu của tất cả mọi người lao động nhằm đem lại thu nhập cho
bản thân và gia đình, tạo nguồn thu nhập chính đáng để trang trải cho sinh hoạt đời
sống hàng ngày và tiết kiệm hoặc tích lũy. Đối với người nông dân bị thu hồi đất
cũng vậy, giải quyết việc làm sẽ giúp họ có cuộc sống ổn định, góp phần quan trọng
trong việc xây dưng và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Từ sư phân tích trên, có thể rút ra khái niệm như sau: “Giải quyết việc làm cho
người nông dân bị thu hồi đất là việc xây dựng và thực hiện các chính sách hỗ trợ
nhằm tạo ra các cơ hội, các điều kiện để người nông dân bị thu hồi đất được học
nghề, chuyển đổi nghề nghiệp và tìm được việc làm phù hợp với nhu cầu của bản
thân nhằm đem lại thu nhập để ổn định cuộc sống”.
Vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất hiện nay là vấn

kéo, dụ dỗ vào các tệ nạn như ma túy, cờ bạc... dẫn đến mất ổn định xã hội, kinh tế
kém phát triển.
Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất là vô
cùng cần thiết. Thưc hiện tốt công tác này không chỉ làm cho nền kinh tế tăng
trưởng và phát triển, mà còn hạn chế được những phát sinh tiêu cưc do thiếu việc
làm gây ra, góp phần làm ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo, giảm các tệ nạn.
Thứ ba, đối với người nông dân bị thu hồi đất, giải quyết việc làm góp phần
ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.
Phần lớn người nông dân bị thu hồi đất là những người làm nghề nông. Một số
người sau khi bị thu hồi đất tuy diện tích đất bị thu hẹp, nhưng đa số vẫn cố gắng
tìm cách bám trụ với nghề nông như trồng lúa, chăm sóc hoa màu, chăn nuôi ... để
kiếm sống. Tuy nhiên, họ chỉ biết lao động theo những phương thức đơn giản, chưa
biết áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ nên thu nhập thấp. Khi đó, họ khó
có thể tiếp cận những giá trị vật chất, tinh thần như dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe,
giáo dục đào tạo, văn hóa thể thao... Vậy nên, giải quyết việc làm cho người nông
dân bị thu đất chính là biện pháp giúp người nông dân sớm ổn định được đời sống
cũng như góp phần nâng cao thu nhập và nâng cao mức sống cho bản thân và gia
đình của họ.
Hiện nay, đất nước đang ngày càng phát triển, rất cần đến sư đóng góp không
nhỏ của lưc lượng lao động. Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân
bị thu hồi đất là rất cần thiết. Nhà nước cần tạo ra các chính sách giải quyết việc làm
phù hợp cho những đối tượng này. Việc sử dụng đúng chỗ, đúng cách lao động dư
thừa sau khi bị thu hồi đất, giúp chúng ta có thể tăng năng suất sản xuất, góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần


14
cho người nông dân.
1.2. Khái niệm, nội dung và tiêu chí đánh giá chính sách giải quyết việc làm
cho nông dân bị thu hồi đất

15
chính sách và biện pháp khác nhau để khuyến khích người nông dân tham gia vào
phát triển sản xuất, tư tạo việc làm, khuyến khích các đơn vị kinh tế, các doanh
nghiệp thu hút thêm nhiều lao động. Đồng thời, phát huy vai trò của mình, Chính
phủ sử dụng các biện pháp, các công cụ tài chính để thưc hiện các chính sách hỗ trợ
để giải quyết việc làm như phát triển các dịch vụ đào tạo nghề, tạo việc làm mới, hỗ
trợ đi lao động ở nước ngoài, vay vốn với lãi suất thấp, thông qua các trung tâm
dịch vụ việc làm... Kết quả giải quyết việc làm sẽ phụ thuộc rất lớn vào mức độ
quan tâm của Nhà nước cũng như các chính sách và biện pháp hỗ trợ mà Nhà nước
thưc thi.
Các chính sách về giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất đã
được Chính phủ ban hành trong nhiều lĩnh vưc khác nhau như: Chính sách chung về
việc làm; Chính sách hỗ trợ để tạo và tư tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi
đất (Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, dư án cho vay vốn giải quyết việc
làm, dư án đào tạo nghề...); Chính sách hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ờ
nước ngoài trong đó có người nông dân bị thu hồi đất (cho vay tín dụng, bồi dưỡng
kiến thức, nghề nghiệp trước khi đi lao động ở nước ngoài,...).
1.2.2. Nội dung chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
* Chính sách đào tạo nghề cho người nông dân bị thu hồi đất
Với người nông dân, đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản của sản xuất nông
nghiệp, là tài sản đặc biệt và quý giá nhất của họ. Đất đai là nguồn thu nhập chính
của người nông dân, từ những vụ mùa thu hoạch được trên mảnh đất của mình. Sản
xuất nông nghiệp là lĩnh vưc truyền thống. Vì vậy, họ chỉ biết đến những kỹ thuật
sản xuất và canh tác trồng trọt, chăn nuôi.
Sau khi bị thu hồi đất, người nông dân không dễ dàng chuyển đổi nhanh sang
một việc làm mới thích ứng với tác phong công nghiệp hay kinh doanh dịch vụ. Do
quá trình CNH, HĐH diễn ra ngày càng nhanh, việc chuyển đổi mục đích sử dụng
từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, nên sẽ diễn ra
tình trạng một bộ phận ngày càng lớn nông dân bị mất việc làm. Để giải quyết việc
làm việc cho số lao động này, về cơ bản, lâu dài vẫn phải nâng cao chất lượng cung

có nghĩa là vấn đề giải quyết việc làm không chỉ đơn giản là công việc của người
nông dân bị thu hồi đất, mà còn có liên quan đến chính quyền và các doanh nghiệp.
Chính quyền địa phương cần có chính sách và biện pháp để các doanh nghiệp
khi nhận quyền sử dụng đất phải có kế hoạch ưu tiên tuyển dụng, thu hút lao động
bị mất việc làm do bị thu hồi đất. Đây là biện pháp giải quyết việc làm cần thiết để
tạo được sư đồng thuận giữa các đối tượng liên quan đến đất bị thu hồi.


17
Cần có sư phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với các doanh
nghiệp trong việc đào tạo và bố trí việc làm cho nông dân bị thu hồi đất. Xây dưng
cơ chế ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi
trong việc giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất. Phát triển các khu
công nghiệp không chỉ góp phần vào phát triển sản xuất, kinh doanh mà còn góp
phần tích cưc trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm sức ép về
lao động dư thừa do quá trình thu hồi đất gây ra.
Bên cạnh đó, giải quyết việc làm thông qua phát triển làng nghề truyền thống
là phương thức rất hiệu quả. Làng nghề là môi trường thuận lợi, tạo cơ hội cho
người lao động dễ tìm được việc làm và tăng thu nhập. Làng nghề truyền thống của
Việt Nam rất đa dạng và phong phú, đây là môi trường thuận lợi tạo cơ hội cho
người lao động dễ tìm việc làm, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống.
* Chính sách xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài, theo đó người
lao động sẽ xuất cảnh, sống và làm việc ở nước ngoài. Đây là phương thức đặc biệt
phức tạp bởi bên cạnh việc chịu sư điều chỉnh của pháp luật nước xuất khẩu, người
lao động còn chịu sư chi phối bởi pháp luật, các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội,
các phong tục tập quán của nước sở tại và các điều ước quốc tế giữa hai nước cùng
tham gia.
Tuy nhiên, xuất khẩu lao động có nhiều tác động tích cưc. Việc thưc hiện tốt
hoạt động xuất khẩu lao động sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, trong đó

tiếp xúc với lĩnh vưc khác như công nghiệp, dịch vụ. Vì vậy, cần có những định
hướng, vận động, giúp đỡ người nông dân khi bị mất đất chủ động tìm kiếm và lưa
chọn nghề nghiệp, việc làm mới phù hợp với bản thân thông qua các chính sách trợ
giúp của Nhà nước. Có thể định hướng nghề nghiệp theo nhóm tuổi, theo giới
tính.... để phù hợp với từng đối tượng người lao động.
Giới thiệu việc làm là việc giới thiệu người lao động đang cần việc làm với
người sử dụng lao động đang cần tuyển lao động. Thông qua các trung tâm môi giới
lao động, giới thiệu việc làm, thông qua thông tin thị trường lao động, chính quyền
địa phương cần có những hỗ trợ để người nông dân bị thu hồi đất có sư chuẩn bị về
nghề nghiệp trước khi tham gia thị trường lao động, được ưu tiên tuyển chọn vào làm
việc tại các cơ sở kinh tế, các doanh nghiệp nơi họ cư trú. Mở rộng hình thức đưa
người lao động ra làm việc ở nước ngoài. Thông qua thị trường lao động, các cơ sở
đào tạo, dạy nghề có thể điều chỉnh qui mô và cơ cấu đào tạo cho thích hợp, sát với
nhu cầu thị trường.


19
Hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi để học nghề hoặc đầu tư sản xuất kinh
doanh, nhất là đối với các hộ nông dân nghèo cũng là một trong những chính sách
thiết thưc, đem lại hiệu quả. Chi phí cho việc học nghề, hoặc chuyển đổi nghề là
một vấn đề lớn đối với người nông dân nghèo. Vì vậy, cần có chính sách giảm chi
phí học nghề, hoặc hỗ trợ cho vay vốn với lãi xuất ưu đãi để người nông dân có cơ
hội chuyển đổi nghề nghiệp, tìm dược việc làm mới. Bên cạnh đó, cần có chính sách
ưu đãi để người dân sau khi đi học nghề có thể có việc làm phù hợp ở địa phương,
hoặc việc làm tại các doanh nghiệp được xây dưng trên đồng ruộng trước đây của
họ. Đồng thời, cần đổi mới phương thức cho vay vốn nhằm đơn giản hơn thủ tục,
song vẫn đảm bảo khả năng thu hồi vốn, đảm bảo đúng đối tượng và công bằng;
nâng cao ý thức, trách nhiệm vay và hoàn trả nợ vay đối với người được vay;
khuyến khích người vay hoàn trả các khoản vay đúng hạn; thủ tục thanh toán đơn
giản, dễ thưc hiện... tiến hành tận dụng những mặt lợi thế ngay tại địa phương. Ưu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status