Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở Huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội : Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 34 01 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

Trần Thị Hồng Bích

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

Trần Thị Hồng Bích

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH



6

1.1.2. Một số mô hình lý thuyết tạo việc làm

9

1.1.3. Sự cần thiết giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ nông
nghiệp

12

1.2. Nội dung giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ nông nghiệp

14

1.2.1. Khuyến khích đầu tư, tăng cầu về lao động

14

1.2.2. Hỗ trợ chuyển đổi, đào tạo nghề cho người lao động

14

1.2.3. Hỗ trợ người dân tự tạo việc làm

16

1.2.4. Kiểm soát tốc độ tăng dân số


18

1.3.5. Tình hình thị trường lao động quốc tế

18


1.4. Tiêu chí đánh giá giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp

19

1.5. Kinh nghiệm của một số địa phương về vấn đề GQVL cho nông dân
bị thu hồi đất

20

1.5.1. Quận Long Biên

20

1.5.2. Huyện Quốc Oai

22

1.5.3. Đánh giá chung

24

Chƣơng 2: Thực trạng việc làm cho ngƣời lao động thuộc diện thu

2.2.2.Tổ chức đào tạo nghề cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp

34

2.2.3. Thực trạng hỗ trợ tạo việc làm mới

42

2.2.4. Xuất khẩu lao động

44

2.2.5. Kiểm soát tốc độ tăng dân số

44

2.3. Đánh giá chung công tác giải quyết việc làm cho nông dân bị thu
hồi đất trên địa bàn Huyện Từ Liêm

45

2.3.1. Thành tựu

45

2.3.2. Một số hạn chế và nguyên nhân

46

Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp giải quyết việc làm cho nông

53

3.2.3. Phát huy sức mạnh của kinh tế nhiều thành phần để giải quyết
việc làm cho nông dân bị THĐ

54

3.3. Một số giải pháp

54

3.3.1. Hoàn thiện môi trường đầu tư

55

3.3.2. Tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động bị thu hồi đất
chuyển đổi nghề, học nghề mới

56

3.3.3. Phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương trong giải quyết
việc làm

58

3.3.4. Xuất khẩu lao động

61

3.3.5. Kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng dân số


CNH – HĐH

Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

2

ĐTH

Đô thị hoá

3

GPMB

Giải phóng mặt bằng

4

GQVL

Giải quyết việc làm

5

KCN

Khu công nghiệp

6


VL

Việc làm

i


DANH MỤC BẢNG
STT

Số

Tên bảng

Trang

hiệu
1

2.1

Giá trị sản xuất các ngành của Huyện năm 2011

27

2

2.2


Kết quả đăng ký dạy nghề, học nghề 2011 tại Huyện

36

Từ Liêm
6

2.6

Tổng hợp các hộ mất đất từ ngày 01/01/2008 đến

39

30/09/2009 trên địa bàn huyện Từ Liêm
7

2.7

Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho các hộ mất

41

đất nông nghiệp trên 30% từ ngày 01/01/2008 đến
30/9/2009 tại Huyện Từ Liêm
8

2.8

Khu vực làm việc trước và sau khi diễn ra thu hồi đất


nghiệp, xây dựng và thương mại, dịch vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Mặt khác, đô thị hoá cũng là một trong
những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của một đất nước. Về lâu
dài, sự thay đổi này vừa mang tính tích cực vừa có những hệ lụy nhất định.
Đó là vấn đề lao động - việc làm đối với một bộ phận lớn dân cư nông thôn bị
rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm sau khi bị THĐ nông nghiệp.
Hà Nội là một thành phố có tốc độ đô thị hoá thuộc loại nhanh nhất so
với các địa phương khác trong cả nước. Điều này được thể hiện qua sự mở
rộng phạm vi địa giới và sự tăng trưởng các khu công nghiệp tập trung, các
cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các khu đô thị mới.
Từ Liêm là một huyện ngoại thành Hà Nội, có tốc độ đô thị hoá nhanh
với hàng trăm dự án đầu tư, trong đó chủ yếu là phát triển các khu đô thị với
tổng diện tích đất thu hồi hàng ngàn ha. Đời sống của người dân có nhiều thay
đổi theo chiều hướng tích cực, hạ tầng cơ sở và hệ thống (y tế, giáo dục, giao
thông…) ngày càng được cải thiện hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động
của đô thị hoá đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung, không thể không đề
cập tới những tác động của nó đối với vấn đề lao động - việc làm.
Cùng với quá trình đô thị hoá là xu hướng diện tích đất nông nghiệp
của huyện ngày càng bị thu hẹp lại và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng
giảm tỉ trọng nông nghiệp đã tất yếu dẫn đến việc chuyển đổi cơ cấu lao động
và việc làm của người nông dân, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của họ.
Vấn đề đặt ra ở đây là việc thu hồi đất nông nghiệp đã tác động như thế nào
đến đời sống của người nông dân? Cơ cấu lao động và việc làm của người
1


nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi đã chuyển đổi như thế nào? Vấn đề
THĐ và giải quyết việc làm của Huyện những năm qua như thế nào? Người
dân đã làm thế nào để có thể thích nghi với hoàn cảnh và điều kiện sống thay
đổi? Nhà nước đã có những giải pháp, chính sách như thế nào để hỗ trợ, giúp

thực trạng thu hồi ĐNN ở các huyện ngoại thành Hà Nội. Phạm Thị Thủy đã
đưa ra các giải pháp GQVL cho lao động nông nghiệp bị THĐ ở ngoại thành
Hà Nội.
- “Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ tại quận Long
Biên – Hà Nội”, luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Như Trang, Trung tâm đào tạo
bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2012.
Trên cơ sở phân tích thực trạng THĐ ở địa phương này, luận văn đã đưa ra
những giải pháp tạo việc làm mới cho nông dân bị THĐ ở Quận Long Biên
nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung.
-

“Giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ ở Huyện Hoài Đức,

Thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tiến Trí, Đại học Kinh tế,
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013. Sau khi phân tích thực trạng giải quyết
việc làm cho nông dân bị THĐ ở Huyện Hoài Đức từ năm 2008 đến nay, luận
văn đã đưa ra quan điểm và giải pháp GQVL cho nông dân bị THĐ.
-

“Đánh giá việc thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và

tạo việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp ở Huyện Từ Liêm, Thành phố Hà
Nội”, luận văn thạc sĩ của Doãn Thị Bình, Đại học Khoa học Tự Nhiên, Đại
học Quốc gia Hà Nội, năm 2010. Trên cơ sở phân tích chính sách hỗ trợ
chuyển đổi nghề, chính sách thu hồi đất, luận văn đề xuất một số giải pháp
cho vấn đề chuyển đổi nghề của Huyện Từ Liêm.
-

“Hoài Đức giải quyết việc làm cho nông dân sau thu hồi đất


- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hỗ trợ việc làm cho nông
dân mất đất ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
4.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

-

Đối tượng nghiên cứu: hỗ trợ việc làm cho nông dân bị THĐ của

huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
-

Phạm vi nghiên cứu: địa bàn huyện Từ Liêm – Hà Nội

-

Thời gian nghiên cứu: từ năm 2004 - 2012

5.

Phƣơng pháp nghiên cứu

Trên cơ sở chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
thông qua các Thông tư, Nghị định cùng với số liệu thứ cấp từ các luận văn,
luận án, sách báo, tài liệu đã công bố có liên quan và các số liệu về vấn đề
việc làm, THĐ của Uỷ ban nhân dân huyện Từ Liêm, luận văn sử dụng kết
4




Khái luận về việc làm và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp

1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Thu hồi đất nông nghiệp
Theo Luật đất đai năm 2003 khoản 5 Điều 4 khái niệm “Thu hồi đất”
được định nghĩa như sau: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành
chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ
ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai
[18].
Tiền bồi thường đất là khoản tiền bồi thường cho hộ do bị mất tư liệu
sản xuất, cụ thể ở đây là đất nông nghiệp [2,14].
Tiền bồi thường hoa màu là khoản tiền bồi thường do việc thu hồi đất
làm thiệt hại đến hoa màu chưa được thu hoạch trên diện tích thu hồi. Mức
bồi thường đối với cây hàng năm tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một vụ
tính theo mức thu hoạch bình quân của ba vụ trước đó theo giá nông sản thực
tế ở thị trường địa phương tại thời điểm bồi thường [2,14].
Tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề, hỗ trợ ổn định đời sống của Nhà nước cho
các hộ nhằm mục đích giúp đỡ cho người dân mất đất một phần để ổn định
cuộc sống, giảm bớt khó khăn về kinh tế. Tiền này không nhằm mục đích giải
quyết toàn bộ kinh phí cho các hoạt động tạo việc làm mới mà chỉ mang tính
hỗ trợ một phần.

6


1.1.1.2. Việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Việc làm là nội dung chính của hoạt động con người. Có nhiều quan
niệm khác nhau về việc làm tùy thuộc vào chế độ chính trị, văn hóa xã hội

chế thông tin, tinh thần ý thức trách nhiệm, trình độ học vấn, trình độ tay nghề
chưa cao. Khả năng tổ chức công việc và tính đồng đội kém. Khi họ bị THĐ,
một số những đặc điểm riêng của họ bộc lộ rõ hơn như: nhiều lao động lớn
tuổi, nhận thức về nghề nghiệp, vai trò của học nghề và chuyển đổi nghề
nghiệp trong điều kiện mới còn hạn chế. Vì vậy, vấn đề việc làm cho đối
tượng này cũng có những đặc điểm riêng:
Việc làm cho đối tượng bị thu hồi đất không thể là những việc làm đòi hỏi
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến mà
đó phải là những việc làm có tính chất đơn giản, dễ thực hiện, không yêu cầu
cao. Do đó khi đưa ra những chính sách về việc làm, Nhà nước cần nắm được
đặc điểm người nông dân và yêu cầu đặc thù việc làm của họ. Từ đó có những
điều chỉnh phù hợp với từng đối tượng trong những hoàn cảnh khác nhau để
GQVL cho lao động bị THĐ.
1.1.1.4. Khái niệm về giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp

GQVL là quá trình tạo ra và kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm sức lao
động, tư liệu sản xuất và các điều kiện kinh tế xã hội khác, là quá trình đưa
người lao động vào làm việc.
Theo nghĩa rộng, GQVL là tổng thể những biện pháp, chính sách của Nhà
nước, cộng đồng và người lao động tác động đến mọi mặt đời sống xã hội
nhằm đem lại thu nhập cho người lao động. GQVL liên quan mật thiết đến
vấn đề phát triển nguồn nhân lực, phát triển giáo dục, đào tạo nghề cho người
lao động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Theo nghĩa hẹp, GQVL hướng vào đối tượng chính là những người thất
nghiệp, chưa có việc làm, thiếu việc làm nhằm làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng
cao thu nhập. Như vậy GQVL chỉ giới hạn trong nội dung các chính sách xã hội
8





Keynes, để tăng việc làm, giảm thất nghiệp, phải tăng tổng cầu của nền kinh
tế. Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng (tiêu dùng sản xuất và phi sản
xuất) để tăng tổng cầu thông qua tăng trực tiếp các khoản chi tiêu của chính
phủ, hoặc thông qua các chính sách của Chính phủ nhằm khuyến khích đầu tư
của tư nhân, của các tổ chức kinh tế xã hội. Keynes còn sử dụng các biện
pháp: hạ lãi suất cho vay, giảm thuế, trợ giá đầu tư, in thêm tiền giấy để cấp
phát cho ngân sách nhà nước nhằm tăng đầu tư và bù đắp các khoản chi tiêu
của Chính phủ. Ông chủ trương tăng tổng cầu của nền kinh tế bằng mọi cách,
kể cả khuyến khích đầu tư vào các hoạt động ăn bám nền kinh tế như: sản
xuất vũ khí đạn dược, chạy đua vũ trang, quân sự hoá nền kinh tế .
Lý thuyết về việc làm của J.M Keynes được xây dựng dựa trên các giả
định đúng với các nước phát triển, nhưng không hoàn toàn phù hợp với các nước
đang phát triển. Bởi vì hầu hết các nước nghèo, nguyên nhân khó khăn cơ bản để
gia tăng sản lượng, tạo việc làm không phải do tổng cầu không đủ cao. Ở các
nước đang phát triển, khi tổng cầu tăng sẽ kéo theo tăng giá cả, dẫn đến lạm
phát. Vì thế, biện pháp tăng tổng cầu để tăng quy mô sản xuất, tạo việc làm
không đúng với mọi quốc gia, trong mọi thời kỳ. Mặt khác, nếu tạo việc làm cho
khu vực thành thị và một số trung tâm công nghiệp bằng cách tăng tổng cầu sẽ
tạo ra làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị và tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị gia
tăng. Điều này có thể làm suy giảm việc làm và sản lượng quốc dân của cả nước.
1.1.2.2. Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực
của nền kinh tế
Athur Lewis là nhà kinh tế học Jamaica ra đời vào những năm 50 của
thế kỷ XX, được giải thưởng Nobel 1979. Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này
là chuyển số lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công
nghiệp hiện đại do hệ thống tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước lạc hậu.
Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Bởi vì trong khu vực
nông nghiệp, đất đai chật hẹp, lao động lại quá dư thừa. Ngoài số lao động

11


nhập, tiền lương giữa các khu vực kinh tế khác nhau. Theo ông, những người
lao động ở khu vực nông thôn có thu nhập trung bình thấp. Họ lựa chọn quyết
định di chuyển lao động từ vùng có thu nhập thấp sang khu vực thành thị có
thu nhập cao hơn. Như vậy, quá trình di chuyển lao động mang tính tự phát,
phụ thuộc vào sự lựa chọn, quyết định của các cá nhân. Điều này làm cho
cung cầu về lao động ở từng vùng không ổn định, gây khó khăn cho chính
phủ trong việc quản lý lao động và nhân khẩu.
Mô hình Harris Todaro cho phép giải thích được lý do tồn tại tình trạng
thất nghiệp ở các đô thị tại các nước đang phát triển, và tại sao người dân lại
chuyển tới các thành phố mặc dù đang tồn tại nan giải vấn đề thất nghiệp. Để
giải quyết vấn đề này, mô hình Harris – Todaro thừa nhận sự tồn tại của khu
vực kinh tế phi chính thức. Đó là khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động,
không hoàn toàn là bất hợp pháp, nhưng thường cũng không được sự thừa
nhận chính thức của xã hội và hầu hết các hoạt động này đều không đăng ký
với nhà nước. Chẳng hạn như lao động phục vụ gia đình, hành nghề tự do, xe
ôm, bán hàng rong, mài dao kéo, dịch vụ ăn uống vỉa hè, thu lượm ve chai
đồng nát, đánh giày v.v...
Nhìn chung các lý thuyết về việc làm này đều tập trung nghiên cứu, xác
định mối quan hệ cung cầu lao động tác động đến việc làm. Những lý luận đó
tuy chưa làm rõ vai trò của Nhà nước thông qua hệ thống các chính sách kinh
tế kết hợp với chính sách xã hội để tạo việc làm ổn định cho nền kinh tế,
nhưng có tác dụng gợi mở cho chúng ta khi phân tích thực trạng việc làm và
đề ra những giải pháp phù hợp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất
nông nghiệp.
1.1.3. Sự cần thiết giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông
nghiệp
CNH – HĐH là xu hướng tất yếu của các nước chậm phát triển muốn

rảnh rỗi rất dễ bị lôi kéo vào những tệ nạn xã hội, gây mất ổn định an ninh
chính trị đất nước. GQVL chính là góp phần vào việc đảm bảo an ninh xã hội,
tạo ra môi trường sống trong sạch, lành mạnh.
13


1.2.

Nội dung giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ nông nghiệp

1.2.1. Khuyến khích đầu tư, tăng cầu về lao động
Trong những năm qua, Nhà nước đã kiên trì thực hiện chính sách phát
triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tư nhân. Nhờ đó, khu vực
kinh tế này đã có những đóng góp quan trọng trong giải quyết việc làm ở mỗi
địa phương cũng như trên phạm vi cả nước. Dự kiến, khu vực này sẽ tạo thêm
khoảng 3,5- 4 triệu chỗ làm việc mới trong giai đoạn 2011 – 2015, sau khi đã
tạo

khoảng

3,2

triệu

việc

làm

giai


bị ảnh hưởng. Do đó lao động bị mất đất hoặc thiếu việc làm sẽ phải chuyển
hướng tìm việc làm mới. Vì vậy để đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH –
HĐH, người nông dân mất đất rất cần được chuyển đổi nghề, hỗ trợ dạy nghề,
đào tạo nghề. Họ cần có trình độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế của đất nước.
Nhận thấy vai trò to lớn của việc GQVL cho nông dân bị THĐ, những
năm qua Nhà nước đã có những chính sách nhằm hỗ trợ học nghề, đào tạo
nghề cho nông dân bên cạnh chính sách đền bù sau THĐ.
Quyết định 1956/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày
27/11/2009 phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020”. Quyết định đã dành ưu tiên cho đối tượng bị THĐ khi có nhu cầu học
nghề được hỗ trợ học nghề ngắn hạn với mức tối đa là 3 triệu
đồng/người/khóa học.
Nghị định 64/NĐ - CP ban hành ngày 13/8/2009 khẳng định: người
được hỗ trợ có nhu cầu đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo
nghề và được miễn học phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng
trong độ tuổi lao động.
Hà Nội cũng ban hành Quyết định số 2328/QĐ – UBND ngày
23/6/2008 về việc phê duyệt đề án: “Hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động
nông thôn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 -2010” và sau đó là Quyết định
2526/QĐ – UBND ngày 1/7/2008 về việc phê duyệt đề án “Một số giải pháp
hỗ trợ ổn định đời sống, học tập, đào tạo nghề và việc làm cho các hộ dân
vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp”. Theo đề án, hỗ trợ kinh
phí học nghề cho những người trong độ tuổi lao động có nhu cầu học tập bằng
hình thức cấp thẻ học nghề, mức hỗ trợ tối đa không quá 6 triệu đồng/ người
và không chi trực tiếp cho người lao động, chỉ được hỗ trợ một lần duy nhất.
15


Mặc dù Nhà nước đã đưa ra những chính sách nhất định nhưng hiệu


1.2.6. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hình thành thị trường lao động quốc tế,
xuất khẩu lao động là kênh quan trọng để giải quyết việc làm cho người dân.
Phát triển, nâng cao hiệu quả của xuất khẩu lao động cũng là một kênh hiệu
quả để tăng cầu về lao động. Người lao động khi đi xuất khẩu lao động cần
chuẩn bị cho bản thân những kiến thức nhất định về nghề nghiệp để đáp ứng
nhu cầu xuất khẩu.
1.3. Những nhân tố ảnh hƣởng đến giải quyết việc làm cho nông dân bị
thu hồi đất
1.3.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý có ảnh hưởng hai mặt đến vấn đề GQVL, nếu vị trí địa lý
thuận lợi sẽ kích thích các doanh nghiệp đến đầu tư, tạo công ăn việc làm cho
người lao động. Vị trí địa lý không thuận lợi gây khó khăn cho quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng thời khó khăn trong việc chuyển dịch cơ cấu
lao động.
Điều kiện tự nhiên, đất đai màu mỡ làm đa dạng hóa các ngành nghề sản
xuất, thúc đẩy sự đa dạng về việc làm cho người lao động.
1.3.2. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Dân số và tốc độ tăng dân số có ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề GQVL,
dân số tăng nhanh, cung vượt cầu sẽ tạo sức ép đến vấn đề GQVL. Dân số già
hoặc dân số quá trẻ cũng là một bài toán đối với vấn đề bố trí công ăn việc
làm cho người lao động.
Cơ sở hạ tầng có tác động hai mặt đến vấn đề GQVL. Cơ sở hạ tầng hoàn
chỉnh sẽ thu hút các nhà đầu tư, phát triển các doanh nghiệp địa phương, tăng
cầu về lao động. Cơ sở hạ tầng yếu kém ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút
vốn đầu tư, làm gia tăng tình trạng thất nghiệp. Cơ sở hạ tầng không chỉ có cơ
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status