ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
----------***----------
Nguyễn Tiến Mạnh
MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHỤC VỤ CHO PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành
Mã số
: Quản trị Kinh doanh
: 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học:
TS. VŨ ĐỨC THANH
HÀ NỘI - 2006
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết luận
nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
NGUYỄN TIẾN MẠNH
CÁC LOẠI TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LÀNG
NGHỀ .......................................................................................25
1.2.3.
VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ .........................................27
1.3. MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA CÁC LÀNG NGHỀ VÀ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƢỞNG ...........................................................................................29
1.3.1. QUAN NIỆM VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI LÀNG
NGHỀ .......................................................................................29
1.3.2.
CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỰ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI LÀNG NGHỀ ..................................................................30
1.3.3.
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC MỞ RỘNG TÍN
DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN LÀNG
NGHỀ .......................................................................................33
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1: .....................................................................42
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH ..................................................... 43
2
2.3.1. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC QUA MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH ......................................70
2.3.2.
NHỮNG TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN .............................76
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2: .....................................................................81
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHỤC VỤ CHO
PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH .. 83
3.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH ..................83
3.1.1. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ CỦA TỈNH
THÁI BÌNH .............................................................................83
3.1.2.
ĐỊNH HƢỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN
DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH .........................88
3.1.3. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH THỜI GIAN TỚI ....................89
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THÁI BÌNH .........................................................................91
3
MỐI QUAN HỆ BÌNH ĐẲNG CÙNG CÓ LỢI ...................114
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ .................................................................116
3.3.1. NHÀ NƢỚC ĐẢM BẢO MÔI TRƢỜNG KINH TẾ VĨ MÔ ỔN
ĐỊNH ......................................................................................116
3.3.2. NHÀ NƢỚC HOÀN THIỆN MÔI TRƢỜNG PHÁP LÝ ........117
3.3.3.
NHÀ NƢỚC CẦN CÓ SỰ ƢU TIÊN VẦ LÃI SUẤT CHO
MỘT SỐ LĨNH VỰC ĐẦU TƢ PHỤC VỤ CHO PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ ............................................................117
3.3.4. NÂNG CAO NĂNG LỰC TIẾP NHẬN CÁC NGUỒN VỐN
VAY TỪ NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG ...........118
3.3.5.
THÀNH LẬP QUỸ RỦI RO TÍN DỤNG .............................118
3.3.6.
HOÀN THIỆN MẠNG LƢỚI TIN HỌC ..............................119
3.3.7. TĂNG CƢỜNG HỢP TÁC QUỐC TẾ ĐỂ KHAI THÁC VÀ
MỞ RỘNG THỊ TRƢỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM LÀNG
NGHỀ .....................................................................................119
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ....................................................................120
KẾT LUẬN :..................................................................................................................... 121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................ ..
4
Doanh nghiệp tƣ nhân
DNVVN
:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
GDP
:
Tổng sản phẩm quốc nội
HTX
:
Hợp tác xã
KCN
:
Khu công nghiệp
L/C
:
Ngân hàng thƣơng mại
NN
:
Nhà nƣớc
NQH
:
Nợ quá hạn
SXCN
:
Sản xuất công nghiệp
SXKD
:
Sản xuất kinh doanh
TCTD
:
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
SỐ BẢNG,
NỘI DUNG BẢNG, BIỂU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1.
Bảng 2.1.
Bảng 2.2.
Bảng 2.3.
Bảng 2.4.
Bảng 2.5.
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Các yếu tố tác động đến việc hình thành lãi suất cho vay
Tổng hợp số liệu làng nghề các huyện thành phố
từ năm 2000 - 2005
Giá trị sản xuất công nghiệp của các làng nghề tỉnh Thái
Bình, từ năm 2001 -2005
Số lƣợng doanh nghiệp trong khu vực SXCN-TTCN
ngoài quốc doanh
Số hộ, lao động sản xuất TTCN năm 2004
Số lƣợng lao động, số hộ và thu nhập của ngƣời lao động
trong làng nghề
Vốn đầu tƣ của một số ngành nghề ở Thái Bình năm 2005
Vốn đầu tƣ ban đầu và suất đầu tƣ cho một chỗ làm việc
Thái Bình
67
Tỷ trọng dƣ nợ của các NHTM đối với làng nghề trong
Bảng 2.11
tổng dƣ nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Thái
70
Bình.
Bảng 2.12
Bảng 2.13
Thu nhập của NNo &PTNT tỉnh Thái Bình từ năm 20012005
Hiệu suất sử dụng vốn tại NNo&PTNT tỉnh Thái Bình
qua các năm.
6
71
72
LỜI MỞ ĐẦU
1.
7
Mặc dù có tiềm năng lớn nhƣ vậy, nhƣng cùng với quá trình chuyển đổi của
nền kinh tế đất nƣớc, khu vực làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình đang đối mặt
với nhiều khó khăn và thách thức. Công nghệ sản xuất lạc hậu, mặt bằng sản xuất
chật hẹp và xen kẽ trong dân cƣ, gây ô nhiễm môi trƣờng, không những ảnh hƣởng
đến đời sống mà còn hạn chế ngay chính việc mở rộng sản xuất, phát triển làng
nghề, các hoạt động văn hoá - xã hội không tƣơng xứng với tăng trƣởng kinh tế,
thậm chí còn rất lạc hậu, nhiều loại sản phẩm không kiểm soát đƣợc chất lƣợng, tình
trạng sản xuất "hàng nhái", vi phạm bản quyền thƣờng xuyên xảy ra,...; Và một
trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thực trạng trên là thiếu vốn cho đầu tƣ
phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh.
Để các làng nghề truyền thống có tuổi thọ vài trăm tuổi với những sản phẩm
tinh xảo, độc đáo tiếp tục phát triển và đem lại giá trị kinh tế cao, trong những năm
qua cùng với sự quan tâm của Nhà nƣớc, Chính quyền địa phƣơng, thì hoạt động tín
dụng ngân hàng tỉnh Thái Bình đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của các
làng nghề trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, việc mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ
cho phát triển làng nghề mới chỉ dừng lại ở mức độ tự phát, theo yêu cầu tối thiểu
của nền sản xuất còn thủ công, manh mún và mang tính chất nghề phụ tại các làng
nghề; việc đầu tƣ nhỏ giọt, cầm chừng chƣa thể là điều kiện để các làng nghề vƣơn
lên phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trƣờng và đáp ứng yêu cầu chất lƣợng sản
phẩm ngày càng cao của xã hội.
Với lý do đó, tác giả chọn đề tài “Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho
phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình” làm luận văn thạc sỹ kinh tế.
2.
Tình hình nghiên cứu
phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình thời gian qua; Từ đó,
đề xuất các giải pháp và kiến nghị về mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát
triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.
4.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Làng nghề và mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ
cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình; những vấn đề về lý luận và
thực tiễn có liên quan.
- Phạm vi nghiên cứu: Làng nghề và mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ
cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong những năm gần đây.
5.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phƣơng pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và
các phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: tiếp cận hệ thống; thống kê và điều tra chọn mẫu;
khảo nghiệm và tổng kết thực tiễn...
6.
Đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về làng nghề, mở rộng tín dụng ngân
hàng phục vụ cho phát triển làng nghề, những đặc trƣng cơ bản của tín dụng ngân
9
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
1.1.1. Khái niệm làng nghề
Một trong những nét đặc sắc của tổ chức kinh doanh ở nông thôn Việt Nam
là việc hình thành các làng nghề. Theo giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng thì "làng nghề là
làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi (lợn, gà...) cũng có một số
nghề phụ khác (đan lát, làm tƣơng, làm đậu phụ...) song đã nổi trội một nghề cổ
truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên
nghiệp, đã chuyên tâm, sống chủ yếu đƣợc bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt
hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm
hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trƣờng là vùng rộng xung quanh và với
thị trƣờng đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nƣớc rồi có thể xuất khẩu ra cả
nƣớc ngoài"[ 9, tr 38,39].
Trên thực tế, “làng nghề” là một tập từ kép gồm 2 yếu tố cấu thành là "làng"
và "nghề", thể hiện một không gian vùng quê nông thôn, ở đó có những hộ thuộc
một số dòng tộc nhất định sinh sống, ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn một số
ngành nghề phi nông nghiệp. Trong các làng nghề này, tồn tại đan xen nhiều mối
quan hệ kinh tế, xã hội phong phú và phức tạp.
Ngày nay làng nghề đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bó hẹp trong
phạm vi chính của một làng mà gồm một hoặc một số làng trên cùng một tiểu vùng
địa lý kinh tế, cùng sản xuất một số chủng loại mặt hàng truyền thống hoặc cùng
kinh doanh một ngành nghề phi nông nghiệp và có quan hệ mật thiết với nhau về
kinh tế, xã hội. Mặt khác có những xã tất cả các làng trong xã đều là làng nghề,
trong trƣờng hợp này, ngƣời ta gọi là xã nghề hoặc rộng hơn gọi là vùng nghề.
Nhƣ vậy, làng nghề là những làng ở nông thôn có những nghề phi nông
nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông [ 30, tr7].
11
liền với các địa danh và sản phẩm nổi tiếng; sản phẩm của các làng nghề truyền
12
thống không chỉ phục vụ cho tiêu dùng trong nƣớc mà con đƣợc đem trao đổi với
các thƣơng nhân nƣớc ngoài.
Làng nghề mới là những làng nghề có ngành nghề phát triển trong những
năm gần đây, chủ yếu do lan toả từ làng nghề truyền thống, hoặc do sự du nhập
trong quá trình hội nhập giữa các vùng và giữa các nƣớc.
Trong quá trình công nghiệp hóa và chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng hiện
nay, khái niệm làng nghề không chỉ bó hẹp ở những làng chỉ có những ngƣời
chuyên làm các ngành nghề thủ công nghiệp và cũng không có một làng nào chỉ là
những làng buôn bán đơn thuần nhƣ cách phân chia trƣớc đây. Trong các làng nghề,
các công nghệ sản xuất của nhiều nghề không còn hoàn toàn là kỹ thuật thủ công,
mà có rất nhiều nghề, nhiều công đoạn sản xuất, công nghệ - kỹ thuật cơ khí hiện
đại và bán cơ khí đã đƣợc sử dụng. Đồng thời, trong các làng nghề đó đã xuất hiện
nhiều hộ, nhiều ngƣời, nhiều cơ sở chuyên làm dịch vụ đầu ra và đầu vào cho các
cơ sở, các hộ chuyên làm nghề. Nên cách phân loại làng nghề cũng chỉ mang ý
nghĩa nghiên cứu. Chẳng hạn, giữa làng nghề mới và làng nghề truyền thống, trong
điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển nhƣ ngày nay, sự đan xen giữa nghề truyền
thống và nghề mới do tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra tác động, chi phối lẫn nhau
cùng phát triển.
1.1.2. Đặc điểm làng nghề
Một là, đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn
bó chặt chẽ với nông nghiệp. Các làng nghề xuất hiện và tồn tại trong từng làng - xã
ở nông thôn. Các ngành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp nhƣng
không rời khỏi nông thôn. Sản xuất nông nghiệp và sản xuất - kinh doanh thủ công
nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau. Ngƣời thợ thủ công trƣớc hết và đồng
trên địa bàn địa phƣơng. Đặc biệt, các nghề truyền thống sản xuất những sản phẩm
tiêu dùng nhƣ đan lát mây, tre (mũ, rổ, rá, bồ, sọt, cót...) hay chế biến lƣơng thực
thực phẩm (làm bún, làm bánh, xay xát gạo, làm tƣơng, làm mắm...), sản xuất vật
liệu xây dựng... nguyên liệu thƣờng có tại chỗ, trên địa bàn địa phƣơng. Một số
ngành nghề còn có thể tận dụng cả những phế liệu, phế phẩm, phế thải trong công
nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt để làm nguyên liệu sản xuất, nên chúng lại càng
sẵn có trên địa bàn. Thậm chí, đối với một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ, sơn mài,
chạm khắc gỗ, đá, vàng bạc... cũng có thể khai thác đƣợc các nguồn nguyên liệu tại
chỗ, địa phƣơng trong nƣớc. Cũng có thể có một số nguyên vật liệu phải nhập khẩu
từ nƣớc ngoài nhƣ một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm... song không nhiều.
14
Bốn là, phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ
vào kỹ thuật kéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và đầy tính sáng
tạo của người thợ, của các nghệ nhân. Phƣơng pháp dạy nghề chủ yếu đƣợc thực
hiện theo phƣơng thức truyền nghề. Lao động trong các làng nghề chủ yếu là lao
động thủ công, trƣớc kia, do trình độ khoa học và công nghệ chƣa phát triển thì hầu
hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là lao động thủ công, giản đơn. Ngày
nay, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất làng nghề, đã giảm bớt lực
lƣợng lao động thủ công giản đơn. Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số
công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công, tinh
xảo. Hầu hết các làng nghề truyền thống dù hình thành bằng con đƣờng nào đi
chăng nữa thì chúng đều phải có các nghệ nhân làm nòng cốt và là ngƣời thầy
hƣớng dẫn để phát triển các làng nghề. Vai trò nghệ nhân rất quan trọng đối với các
làng nghề. Mỗi làng nghề đều có một tổ nghề chính là ngƣời thầy đầu tiên dạy nghề,
truyền nghề, đem bí quyết nghề nghiệp ở nơi khác về truyền cho làng mình.
Việc dạy nghề trƣớc đây chủ yếu theo phƣơng thức truyền nghề trong các gia
đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng. Các nghề thƣờng
thị trƣờng của các làng nghề về cơ bản vẫn là thị trƣờng địa phƣơng, là tỉnh hay liên
tỉnh. Thói quen chỉ thích hàng tiểu - thủ công nghiệp (TTCN) ở một vùng nhất định,
theo một mùa vụ nhất định đã hạn chế sức tiêu thụ hàng TTCN ở nông thôn. Làng
nghề thủ công nghiệp trong một thời gian dài đã phát triển theo một lối mòn là đáp
ứng thị hiếu quen thuộc vì nhỏ hẹp. Yếu tố cạnh tranh hầu nhƣ không có. Vì vậy,
khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trƣờng, các làng nghề, nhất là
các làng nghề truyền thống, đã đứng trƣớc những khó khăn không nhỏ và nhiều
làng nghề đã lâm vào thời kỳ điêu đứng. Tuy nhiên, các sản phẩm thuộc nhóm hàng
thủ công mỹ nghệ có thị trƣờng tiêu thụ phong phú, đa dạng và rộng lớn hơn. Sản
phẩm của các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ vừa đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của ngƣời dân địa phƣơng, trong nƣớc, vừa để xuất khẩu, trong đó nhu cầu để
xuất khẩu và bán cho khách tham quan du lịch thƣờng chiếm tỷ trọng lớn.
Bảy là, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô hộ
gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và DNTN. Trong lịch sử
cũng nhƣ hiện nay, hình thức tổ chức sản xuất- kinh doanh phổ biến trong các làng
nghề là hộ gia đình. Với hình thức này, hầu nhƣ tất cả các thành viên trong hộ đều
đƣợc huy động vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất - kinh
doanh. Ngƣời chủ gia đình thƣờng đồng thời là ngƣời thợ cả, mà trong số họ có
16
không ít nghệ nhân. Tuỳ theo nhu cầu công việc, hộ gia đình có thể thuê mƣớn theo
lao động thƣờng xuyên hoặc thời vụ. Tổ chức sản xuất - kinh doanh theo hộ gia
đình đảm bảo đƣợc sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm, huy động đƣợc mọi
lực lƣợng có khả năng lao động tham gia sản xuất - kinh doanh, tận dụng đƣợc thời
gian và nhu cầu đầu tƣ thấp (sử dụng ngay nhà ở làm nơi sản xuất). Đây là hình thức
tổ chức thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ. Tuy nhiên, mô hình này hạn chế rất nhiều
đến khả năng phát triển sản xuất - kinh doanh. Mỗi gia đình không đủ sức nhận hợp
đồng lớn, không mạnh dạn cải tiến sản phẩm, không đủ tầm nhìn để định hƣớng
nghề mà họ có ƣu thế hơn. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng làm cho kinh tế
nông thôn phát triển tổng hợp, phong phú và đa dạng (ai giỏi nghề gì, làm nghề đó).
Điều đó, giúp cho sản xuất nông nghiệp đẩy nhanh đƣợc nhịp độ tập trung hóa,
chuyên môn hóa và thâm canh hóa sản xuất có nhƣ vậy mới giải quyết công ăn việc
làm cho ngƣời lao động và tăng thu nhập cho họ.Theo một số kết quả điều tra,
nghiên cứu mỗi cơ sở chuyên ngành nghề ở các làng ngề tạo việc làm ổn định cho
27 lao động, mỗi hộ ngành nghề cho 4-6 lao động. Ngoài lao động thƣờng xuyên
các hộ, các cơ sở ngành nghề ở các làng nghề còn thu hút lao động nhàn rỗi trong
nông thôn (Bình quân 2-5 ngƣời/hộ và 8-10 ngƣời/ cơ sở) nhiều làng nghề đã thu
hút trên 60% số lao động vào các hoạt động ngành nghề [1, tr 6].
Hai là, tạo thu nhập cho người lao động. Theo kết quả điều tra đánh giá của
Cục chế biến và Ngành nghề nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)
thu nhập bình quân của lao động của các cơ sở chuyên ngành nghề phi nông nghiệp
là 430.000đ/tháng, ở hộ chuyên là 236.000đ/tháng, ở hộ kiêm là 186.000đ/tháng,
bằng 1.7 – 3.9 lần so với thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp. Thu nhập từ
các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp ngày càng đóng vai trò chủ yếu trong
lao động của các hộ kiêm. Ở các làng nghề số hộ đói hầu nhƣ không còn, số hộ
nghèo chiếm tỷ lệ nhỏ, số hộ giàu ngày càng tăng. Trên cơ sở tạo việc làm, tăng
thêm thu nhập, các làng nghề đƣợc coi là nhân tố chủ lực làm chuyển dịch cơ cấu xã
hội nông thôn theo hƣớng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng cao phúc lợi cho
ngƣời dân.
Ba là, tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hoá cho nền kinh tế. Hiện nay làng
nghề đƣợc phân bố rộng khắp ở các vùng, miền. Do đó, làng nghề có khả năng sử
dụng tốt hơn các nguồn lực sẵn có ở nông thôn nhƣ: các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, các nguồn nguyên liệu, phế liệu, phụ phẩm của nông nghiệp sản xuất ra, cũng
nhƣ khai thác có hiệu quả nguồn vốn trong dân cƣ, cơ sở vật chất kỹ thuật và những
kỹ năng, kỹ năng của ngƣời lao động để đẩy mạnh sản xuất nhằm tạo ra ngày càng
18
Thứ nhất, vốn và tín dụng. Sự phát triển của ngành nghề phi nông nghiệp ở
các làng nghề thực chất cũng là một bƣớc, một hình thức của công nghiệp hoá nông
19
thôn. Quá trình đó đòi hỏi một lƣợng vốn rất lớn, trong khi đó phần lớn các hộ, các
cơ sở kinh doanh ở các làng nghề còn ít vốn, đây là yếu tố quan trọng tác động và
cản trở đến sự phát triển của các làng nghề theo cả chiều rộng và chiều sâu. Vốn có
tác động trực tiếp đến sự phát triển ngành nghề, làng nghề ở nông thôn của các hộ
gia đình và làng nghề. Theo các kết quả điều tra, có tới 70% số hộ, cơ sở mong
muốn vay vốn để phát triển sản xuất, nhƣng chỉ có12-15% số hộ ; 32,4% số cơ sở
kinh doanh đƣợc vay từ ngân hàng [1, tr 9]. Nguyên nhân chính từ sự không tiếp
cận từ nguồn vốn của ngân hàng là chính sách và cơ chế cho vay vốn còn chƣa thật
sát với điều kiện hiện nay của các làng nghề vì thế vốn vay ngắn hạn, lƣợng vốn cho
vay ít so với yêu cầu của các làng nghề, thủ tục cho vay còn chƣa thuận tiện và kịp
thời nhất là các điều kiện về thế chấp nên nhiều hộ, cơ sở phải đi vay tƣ nhân với lãi
suất cao hơn, làm hạn chế hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ cơ
sở. Do vậy, Nhà nƣớc cần bổ sung chính sách nhằm hỗ trợ hơn nữa về vốn cho các
hộ gia đình và các làng nghề có điều kiện tồn tại và phát triển.
Thứ hai, tổ chức sản xuất và quy mô sản xuất. Mặc dù đại đa số các cơ sở
kinh doanh và các hàng hoá ở các làng nghề có quy mô nhỏ, vốn đầu tƣ không đòi
hỏi lớn, nhƣng giá trị làm ra không nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong số các
hộ và các cơ sở ngành nghề phi nông nghiệp ở các làng nghề có tới trên 90% là hộ
chuyên, chỉ có dƣới 10% là các cơ sở (hợp tác xã, doanh nghiệp tƣ nhân…) nên rất
hạn chế trong CNH nông thôn, do hạn chế về vốn, mặt bằng sản xuất, công nghệ
thiết bị và khả năng tiếp cận thị trƣờng, nhất là thị trƣờng xuất khẩu.
Thứ ba, hạ tầng cơ sở nông thôn và kết cấu hạ tầng các làng nghề. Hạ tầng
cơ sở nông thôn nhất là kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ở các làng nghề, vùng nghề
tác động không nhỏ đến sự phát triển của các làng nghề. Hạ tầng cơ sở nông thôn
chƣa đáp ứng đƣợc thị hiếu của ngƣời nƣớc ngoài. Nếu trong thời gian tới tình trạng
này không đƣợc khắc phục thì các làng nghề rất khó phát triển, một số làng nghề
khi sản phẩm làm ra không đáp ứng đƣợc thị trƣờng sẽ bị mai một và có xu hƣớng
mất dần đi. Đây là một trong những vấn đề mà các ngành, các cấp quan tâm và tạo
điều kiện cho các làng nghề tồn tại và phát triển.
Thứ sáu, yếu tố nguyên vật liệu. Các làng nghề sẽ không thể tiếp tục quá
trình sản xuất sản phẩm nếu thiếu, hoặc không có đủ nguyên vật liệu do đó nó có
ảnh hƣởng rất lớn đối với sự phát triển của làng nghề. Nguyên liệu chủ yếu đƣợc
khai thác tại các địa phƣơng trong nƣớc và hầu hết là lấy trực tiếp từ thiên nhiên,
21
nguyên liệu nhập ngoại chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Tuy nhiên, việc tổ chức khai thác,
cung ứng của một số nguyên liệu cho sản xuất chƣa tốt. Các hộ gia đình, các làng
nghề phải mua lại từ nhiều nguồn, chủ yếu là nguồn cung ứng gián tiếp, thậm chí từ
nguồn cung ứng bất hợp pháp nên phải mua với giá cao làm tăng chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm.
Hầu hết các nguyên liệu thƣờng do các hộ gia đình, các làng nghề tự làm với
kỹ thuật thủ công hoặc các loại máy móc thiết bị tự chế rất lạc hậu, do đó không
thực hiện đƣợc việc tiêu chuẩn hoá chất lƣợng nguyên liệu, không chủ động đƣợc
chất lƣợng sản phẩm. Điều này ảnh hƣởng nhiều đến việc sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm của làng nghề và nó có tác động trực tiếp đến thu nhập của ngƣời lao động và
các làng nghề.
Thứ bảy, vấn đề môi trường. Tuy các làng nghề ở nƣớc ta mới đƣợc khôi
phục và phát triển bƣớc đầu khoảng 20 năm qua, nhƣng qua một số kết quả nghiên
cứu của Cục chế biến và ngành nghề nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn) thì có tới 50% số hộ, số cơ sở hoạt động sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp
làm ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng. Ở các làng nghề chế biến lƣơng thực, thực
phẩm, thuộc da, nhuộm vải, sản xuất giấy,... đang gặp rất nhiều khó khăn về nƣớc
1.2.
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ
1.2.1. Tín dụng ngân hàng và đặc trƣng của tín dụng ngân hàng đối với
phát triển làng nghề
1.2.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng chỉ ra đời và tồn tại trong điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó
có những hiện tƣợng kinh tế - xã hội khách quan xuất hiện và tồn tại. Trải qua quá
trình hình thành và phát triển đó tín dụng ngân hàng ra đời.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa các ngân hàng với các tổ
chức, các doanh nghiệp và cá nhân khác trong một thời hạn nhất định. Cho vay là
một hình thức cấp tín dụng, theo đó, ngân hàng giao cho các cá nhân và tổ chức có
nhu cầu một khoản tiền để sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là một nghiệp vụ về tài sản có của
ngân hàng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ và là nguồn thu lãi chủ yếu của các
ngân hàng thương mại.
23
1.2.1.2. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng đối với phát triển làng nghề
Tín dụng ngân hàng đối với làng nghề ngoài những đặc điểm chung nhƣ đặc
trƣng của tín dụng ngân hàng vốn có, nó còn mang những đặc trƣng riêng của tín
dụng đối với làng nghề (tín dụng ngân hàng đối với làng nghề, là tín dụng ngân
hàng đối với các khách hàng làm nghề ở các làng nghề). Những đặc trƣng chủ yếu
này đƣợc thể hiện:
Một là, tín dụng ngân hàng phải gắn với đặc điểm hoạt động của làng nghề.
Khi đầu tƣ tín dụng đối với các đối tƣợng ở làng nghề ở nông thôn còn phải bao