Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng NNPTNT tỉnh nghệ an đối với hộ sản xuất luận văn ths kinh doanh - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------***----------

Lê Thị Hồng Ngọc

Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
của Ngân hàng NN&PTNT tỉnh Nghệ An
đối với hộ sản xuất
Chuyên ngành
Mã số

: Kinh doanh và quản lý
: 60 34 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KIN DOANH VÀ QUẢN LÝ

Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Bích Đào

HÀ NỘI - 2008


1

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Như chúng ta đã biết, trong điều kiện hiện nay, khi khu vực hoá, toàn
cầu hoá đang trở thành xu hướng phổ biến thì song song với quá trình hợp tác
theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi, giữa các quốc gia, khu vực luôn kèm
theo quá trình cạnh tranh vô cùng gay gắt và khốc liệt, trong môi trường kinh

Sự khẳng định về định hướng trên của Ngân hàng là đúng đắn và phù
hợp với đặc trưng kinh tế của tỉnh, tuy nhiên trong những năm qua hoạt động
tín dụng đối với hộ sản xuất vẫn còn những bất cập, làm hạn chế việc tiếp cận
vốn tới hộ nông dân. Vì vậy, trong thời gian tới làm thế nào để nâng cao hơn
nữa chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất đang là vấn đề then chốt, có ý
nghĩa quan trọng tới sự phát triển của NHNo&PTNT Nghệ An, làm tăng khả
năng cạnh tranh cho NHTM quốc doanh trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu
hoá cũng như tạo động lực cho sự phát triển của các hộ sản xuất trên địa bàn
tỉnh, góp phần vào sự nghiệp CNH - HĐH Nông nghiệp, Nông thôn.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng
hoạt động tín dụng trong kinh doanh Ngân hàng, tôi đã chọn đề tài “Nâng cao
chất lượng hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT tỉnh Nghệ An đối với hộ
sản xuất” viết luận văn thạc sỹ kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu:
Hơn 15 năm trở lại đây, trước nhu cầu CNH – HĐH Nông nghiệp,
Nông thôn thực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo và trước xu thế khu vực
hoá, toàn cầu hoá đã có nhiều chỉ thị, chính sách, giải pháp mà Đảng và Nhà
nước ban hành tạo cơ chế cho sự phát triển và phù hợp với yêu cầu hội nhập.
Ngày 18/01/1991 NHNg đã ký ban hành văn bản số 53/NHNg về “Biện
pháp cho vay ngắn hạn, trung hạn đối với hộ nông dân”. Ngày 28/06/1991,
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt ký chỉ thị số 2002/CT về cho vay
hộ sản xuất.
Về vấn đề này, cũng có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học như: năm
2002, viện nghiên cứu tài chính, Bộ tài chính đã thực hiện một đề tài cấp nhà


3
nước nghiên cứu về: “Chính sách tài chính - Ngân hàng có liên quan đến phát
triển Nông nghiệp, Nông thôn”; Năm 2002, học viên Nguyễn Thị Thành đã
nghiên cứu đề tài: “Giải pháp tăng cường đầu tư tín dụng phát triển kinh tế

* Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về tín dụng Ngân hàng
nói chung và tín dụng Ngân hàng trong hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất
nói riêng, để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của
NHNo&PTNT Nghệ An đối với hộ sản xuất.
* Nhiệm vụ:
- Đề tài làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng
đối với hộ sản xuất và làm rõ vai trò của hoạt động tín dụng đối với hộ sản
xuất của Ngân hàng thương mại.
- Khẳng định tầm quan trọng của chất lượng hoạt động tín dụng trong
hoạt động kinh doanh Ngân hàng và ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng tín
dụng hộ sản xuất.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, chất lượng hoạt động
tín dụng của NHNo&PTNT Nghệ An đối với hộ sản xuất để phát hiện ra
những vấn đề còn vướng mắc, tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất, đảm bảo an toàn hiệu
quả cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu: đề cập tới chất lượng hoạt động tín dụng ở góc
độ cho vay đối với hộ sản xuất.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại và chất lượng tín dụng
của NHNo&PTNT Nghệ An đối với hộ sản xuất.
- Thời gian của các số liệu được tiến hành trong 4 năm (2004 - 2007).


5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên

Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ. Khi một chủ thể kinh
tế cần một lượng hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi
chưa có tiền hoặc số tiền hiện có chưa đủ họ có thể sử dụng hình thức vay
mượn để đáp ứng nhu cầu. Có hai cách vay mượn đó là vay chính loại hàng
hoá đang có nhu cầu hoặc vay tiền để mua loại hàng hoá đó. Quan hệ vay
mượn như vậy gọi là quan hệ tín dụng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số
vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngay xác định trong tương lai. Có thể hiểu
và định nghĩa quan hệ tín dụng một cách đầy đủ như sau: Tín dụng là quan hệ
chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện
vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu
hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Như vậy, một quan hệ tín dụng phải thoả mãn những đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất: là quan hệ chuyển nhưîng mang tính chất tạm thời. Đối
tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc hàng hoá dưới hình thức
kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hoá. Tính chất tạm
thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Nó
là kết quả của sự thoả thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển
nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng
lượng giá trị đó. Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng có thể ảnh
hưởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động tài chính của cả hai bên và dẫn tới
nguy cơ phá huỷ quan hệ tín dụng. Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự


7
chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một
khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với
lượng giá trị đó.
- Thứ hai: tính hoàn trả. Lượng vốn được chuyển nhượng phải được
hoàn trả đúng hạn về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận gốc và lãi,

"Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có,
nguồn vốn huy động để cấp tín dụng".
"Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng
một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác".
Do đặc điểm riêng của mình tín dụng Ngân hàng đạt được ưu thế hơn
các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư. Với
đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng Ngân hàng có khả năng đầu tư
chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vì
vậy mà tín dụng Ngân hàng ngày càng trở thành hình thức tín dụng quan
trọng trong các hình thức tín dụng hiện có.
Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn sử dụng thuật ngữ tín dụng
hộ sản xuất. Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ tín dụng Ngân hàng giữa một
bên là Ngân hàng với một bên là hộ sản xuất hàng hoá. Từ khi được thừa
nhận là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội, có thừa kế, có quyền sở hữu tài sản,
có phương án kinh doanh hiệu quả, có tài sản thế chấp thì hộ sản xuất mới có
khả năng và đủ tư cách để tham gia quan hệ tín dụng với Ngân hàng, đây
cũng chính là điều kiện để hộ sản xuất đáp ứng được điều kiện vay vốn Ngân
hàng.
Đối với Ngân hàng, từ khi chuyển sang hệ thống Ngân hàng hai cấp,
hạch toán kinh tế và kinh doanh độc lập, các Ngân hàng phải tự tìm kiếm thị
trường với mục tiêu an toàn và lợi nhuận. Thêm vào đó là Nghị định 14 CP
ngày 02/03/1993 của thủ tướng Chính phủ, thông tư 01/ TĐ - NH ngày
26/03/1993 của thống đốc Ngân hàng nhà nước hướng dẫn nghị định 14 về


9
chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông, lâm, ngư nghiệp. Và
gần đây là quy định số 67/ 1999/ QĐ - TTg của thủ tướng Chính phủ, văn bản
số 320/ CV - NHNN của thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực

* Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là các khoản cho vay mà
khách hàng vay được Ngân hàng tín nhiệm nên không cần có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ 3.
- Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là các khoản Ngân hàng cho vay ra
đòi hỏi khách hàng vay phải có tài sản thế chấp, hoặc cầm cố hoặc bảo lãnh
phải lớn hơn số tiền Ngân hàng cho vay ra.
* Căn cứ vào thao tác thừa hành tín dụng:
- Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cho vay vốn trực tiếp tới người có nhu
cầu vay và khách hàng vay phải trực tiếp hoàn trả nợ gốc, lãi vay cho Ngân
hàng.
- Tín dụng gián tiếp: là các khoản cho vay được thực hiện thông qua
việc mua lại các khế ước nợ hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn thời
hạn thanh toán.
* Phân theo phương thức cho vay:
Trên cơ sở nhu cầu của từng khoản vốn vay của khách hàng và khả năng
kiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay của Ngân hàng mà Ngân
hàng nơi cho vay thỏa thuận với khách hàng vay về việc lựa chọn các phương
thức cho vay sau:
- Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn, khách hàng và Ngân hàng nơi cho
vay làm thủ tục vay vốn theo quy định của Ngân hàng và ký hợp đồng tín
dụng. Phương thức này áp dụng đối với những khách hàng vay vốn không
thường xuyên, có nhu cầu và vay vốn từng lần.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: phương thức này áp dụng đối với
khách hàng vay ngắn hạn có nhu cầu vay vốn thường xuyên, sản xuất kinh
doanh ổn định, có uy tín trong quan hệ tín dụng với Ngân hàng. Ngân hàng


11
nơi cho vay cùng khách hàng vay xác định và thoả thuận một hạn mức tín

thức và vẫn đang tiếp tục phát triển. Chúng ta có thể xem xét một số quan
niệm khác nhau về hộ sản xuất.
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ
hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà. Nhóm nguời đó bao
gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công.
Liên hợp quốc cho rằng: "Hộ là những người cùng sống chung dưới một
mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ".
Trên góc độ Ngân hàng, "Hộ sản xuất" là một thuật ngữ dùng trong hoạt
động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ.
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam, hộ được xem như một chủ
thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một
đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh
tế chung. Ngày nay hộ sản xuất đang trở thành một nhân tố quan trọng trong
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình xây
dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hướng XHCN. Để phù hợp
với xu thế phát triển chung, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước,
NHNo&PTNT Việt Nam ban hành phụ lục số 1 kèm theo quyết định số
499A ngày 02/09/1993, theo đó thì khái niệm hộ sản xuất được hiểu như
sau: "Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh
doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình". Thành phần chủ yếu của hộ
sản xuất bao gồm: hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, hộ gia đình xã viên, hộ
nông, lâm trường viên.
Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở Nông thôn. Hộ
sản xuất trong nhiều ngành nghề hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh vực
Nông nghiệp và phát triển Nông thôn. Các hộ này tiến hành sản xuất kinh
doanh đa dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề
phụ. Hộ sản xuất là một lực lượng to lớn ở Nông thôn nhưng còn thiếu vốn để




14
việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý từ đó nâng
cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho mọi người.
Ở Việt Nam, vai trò tín dụng càng trở nên quan trọng vì nước ta là nước
kinh tế đang phát triển, do đó nhu cầu về vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, nhu
cầu vốn để đổi mới trang thiết bị là rất lớn. Hơn thế, là nước có nền kinh tế đa
phần vẫn là sản xuất Nông nghiệp thì tín dụng sẽ khai thác triệt để nguồn lực
tại chỗ (nguyên vật liệu, nhân công, địa bàn,…). Cũng chính vì thế mà thị
phần của hộ sản xuất trong dư nợ của Ngân hàng Nông nghiệp ngày càng tăng
một cách đáng kể.
* Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập
trung sản xuất.
Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn của tín dụng Ngân hàng đã
được thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ. Hiệu quả kinh
doanh là vấn đề sống còn đối với các Ngân hàng phải đảm bảo được độ an
toàn và có lợi nhuận, tránh rủi ro trong cho vay.
Bằng cách tập trung vốn vào các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh
doanh có hiệu quả, giúp cho các hộ càng có điều kiện để sản xuất có hiệu quả
hơn thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời Ngân hàng phải đảm
bảo hạn chế được rủi ro tín dụng.
Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, Ngân hàng
phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ sản xuất vay. Vì
vậy, Ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng
quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và cho lưu thông. Trên cơ sở đó hộ sản
xuất phải biết tập trung vốn như thế nào để sản xuất góp phần tích cực vào
quá trình vận động liên tục của nguồn vốn.
* Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền
thống, ngành nghề mới, giải quyết việc làm cho người lao động.
Việt Nam là một nước có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chưa

mới của Đảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xoá đói giảm nghèo.
TDNH thúc đẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh, làm thay đổi bộ mặt Nông


16
thôn, giúp cho hộ sử dụng có hiệu quả hơn đồng vốn của mình, nắm bắt được
cơ hội và thời cơ kinh doanh, các hộ nghèo trở nên khá hơn, hộ khá trở nên hộ
giàu hơn. Do đó tệ nạn xã hội dần dần dược xoá bỏ như: rượu chè, cờ bạc, mê
tín dị đoan, nâng cao dân trí, trình độ chuyên môn của lực lượng lao động.
Qua đây, chúng ta thấy được vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng trong việc
củng cố lòng tin của nông dân nóí chung và hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước.
1.2 Tiêu chí đánh giá chất lƣợng hoạt động tín dụng
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng Ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ một loại sản phẩm nào sản xuất ra
cũng là những sản phẩm mang tính cạnh tranh. Điều này có nghĩa là mọi sản
phẩm sản xuất ra đều phải có chất lượng. Các nhà kinh tế đã nhận xét rằng:
"Chất lượng là sự phù hợp mục đích của người sản xuất và người sử dụng về
một loại hàng hoá nào đó" hay "Chất lượng là một sản phẩm hay dịch vụ thoả
mãn nhu cầu của khách hàng".
Trong các nghiệp vụ của Ngân hàng, tín dụng là một hoạt động chiếm tỷ
trọng lớn trong thu nhập của Ngân hàng, đây là hình thức sản phẩm mang
hình thái phi vật chất là dịch vụ đặc biệt, sản phẩm này chỉ có khả năng đánh
giá được khi khách hàng đã sử dụng và hoạt động này cũng chứa đựng rất
nhiều rủi ro. Vì thế, các Ngân hàng không ngừng phải nâng cao chất lượng
hoạt động tín dụng của mình đảm bảo duy trì sự tồn tại và phát triển của Ngân
hàng. Chất lượng tín dụng là một khái niệm được các nhà kinh tế tiếp cận theo
các cách thức khác nhau nhưng theo quan niệm chất lượng là năng lực của
một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng thì tín
dụng Ngân hàng được hiểu như sau:

chung, do đó để có chất lượng cần có quản lý. Quản lý chất lượng về cơ bản
là những hoạt động và kỹ thuật được sử dụng nhằm đạt được và duy trì chất
lượng của một loại sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ. Nó bao gồm việc theo


18
dõi, tìm hiểu và trừ những nguyên nhân gây ra những trục trặc trong việc
cung cấp tín dụng để các yêu cầu của khách hàng liên tục được đáp ứng. Đảm
bảo chất lượng và việc ngăn ngừa những trục trặc về mặt chất lượng bằng các
hoạt động có kế hoạch và có hệ thống (bao gồm cả công tác tư liệu), bao gồm
việc thiết lập một hệ thống quản lý chất lượng tốt, thích hợp và có khả năng
kiểm tra kiểm soát.
1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng
Tuỳ theo mục đích, phạm vi và góc độ khác nhau, người ta có thể đánh
giá chất lượng tín dụng theo các tiêu tức khác nhau. Ngân hàng thường đánh
giá chất lượng tín dụng khoản vay thông qua một số chỉ tiêu cơ bản sau:
1.2.2.1 Chỉ tiêu định tính
a. Đảm bảo nguyên tắc cho vay:
Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều được dựa trên một nguyên tắc nhất
định. Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó có ảnh
hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Nguyên
tắc cho vay là một nguyên tắc quan trọng đối với mỗi Ngân hàng. Để đánh giá
chất lượng một khoản cho vay, điều đầu tiên phải xem xét là khoản cho vay
đó có bảo đảm nguyên tắc cho vay hay không. Theo quyết định 1627/QĐ
ngày 15/01/2002, tại Điều 6 nguyên tắc vay vốn ghi rõ: Khách hàng vay vốn
của tổ chức tín dụng phải đảm bảo 2 nguyên tắc cơ bản để cho vay là:
- Thứ nhất: Sử dụng đúng mục đích theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Thứ hai: Hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng hạn theo thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng.
Hai nguyên tắc cho vay trên là nguyên tắc tối thiểu mà bất cứ một khoản

Quá trình thẩm định là chỉ tiêu định tính quan trọng nhất quyết định tới
chất lượng khoản cho vay. Quá trình thẩm định là cách tốt nhất để Ngân hàng
nắm được thông tin về khách hàng, về năng lực pháp luật, đạo đức của khách
hàng, tình hình tài chính của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng, …
Đây là khâu không thể thiếu được trong quá trình quyết định cho vay và theo


20
dõi khoản vay. Quá trình thẩm định phải tuân theo các quy định và nội dung
thẩm định cho vay của từng Ngân hàng. Một khoản cho vay có chất lượng là
khoản cho vay đã được thẩm định và phải đảm bảo các bước của quá trình
thẩm định. Quá trình thẩm định một khoản cho vay hộ sản xuất rất phức tạp
do đặc điểm sản xuất kinh doanh của hộ là sản xuất kinh doanh tổng hợp. Vì
vậy, việc tuân thủ quy trình thẩm định và nội dung thẩm định cho vay là bắt
buộc để một khoản vay đạt chất lượng.
1.2.2.2 Chỉ tiêu định lượng:
Không giống như chỉ tiêu định tính, chỉ tiêu định lượng giúp cho Ngân
hàng có cách đánh giá cụ thể hơn về chất lượng tín dụng, qua đó giúp Ngân
hàng có biện pháp xử lý kịp thời những khoản vay kém chất lượng. Các chỉ
tiêu mà Ngân hàng thường dùng để đánh giá chất lượng tín dụng đối với hộ
sản xuất là:
a. Doanh số cho vay hộ sản xuất:
Doanh số cho vay hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số
tiền Ngân hàng cho hộ sản xuất vay trong thời kỳ nhất định thường là một năm. Chỉ
tiêu này phản ánh quy mô đầu tư vốn của Ngân hàng.
Doanh số cho vay HSX trong kỳ = (Dư nợ HSX cuối kỳ - Dư nợ HSX
đầu kỳ + Doanh số thu nợ HSX trong kỳ)
Ngoài ra Ngân hàng còn dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng cho
vay hộ sản xuất trong tổng doanh số cho vay của Ngân hàng trong một năm.
Tỷ trọng cho vay HSX = (Doanh số cho vay HSX/ Tổng doanh số cho

doanh của Ngân hàng. Do vậy, việc đảm bảo thu hồi đủ vốn cho vay đúng
hạn, thể hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn thấp là vấn đề quan trọng trong quản lý
Ngân hàng liên quan đến sự sống còn của Ngân hàng.
Để xem xét chi tiết hơn khả năng không thu hồi được nợ người ta sử
dụng chỉ tiêu nợ khó đòi:
Tỷ lệ nợ khó đòi = (Tổng nợ khó đòi/ Tổng nợ quá hạn) * 100%.


22
Đây cũng là một chỉ tiêu tương đối, tỷ lệ này ở mức cao là dấu hiệu cho
thấy nguy cơ mất vốn cao do các khoản vay có vấn đề.
d. Vòng quay vốn tín dụng HSX:
Vòng quay vốn tín dụng HSX = (Doanh số thu nợ HSX/ Dư nợ bình
quân HSX).
Trong đó, dư nợ bình quân HSX = (Dư nợ đầu năm + Dư nợ cuối
năm)/2.
Đây là một chỉ tiêu quan trọng xem xét chất lượng tín dụng HSX, phản
ánh tần suất sử dụng vốn. Vòng quay càng lớn với số dư nợ luôn tăng chứng
tỏ đồng vốn Ngân hàng bỏ ra được sử dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm
chi phí, tạo ra lợi nhuận lớn cho Ngân hàng.
e. Lợi nhuận của Ngân hàng:
Lợi nhuận = Tổng thu - tổng chi - thuế.
Trong tổng thu, lãi thu từ cho vay là chủ yếu, mà đối tượng NHN0 thì hộ
sản xuất là khách hàng chính của Ngân hàng, cho nên lợi nhuận Ngân hàng là
thước đo hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng cũng như chất lượng cho vay
HSX.
1.2.2.3 Một số chỉ tiêu khác:
* Chỉ tiêu 1:
Số tiền vay mỗi lượt HSX = (Doanh số cho vay HSX/ Tổng số lượt
HSX vay vốn)

lý qúa nhiều hộ vay vốn sẽ ảnh trực tiếp tới chất lượng tín dụng. Việt Nam chỉ
tiêu này chưa được coi trọng, thường mỗi CBTD ở NHN0 &PTNT Việt Nam
quản lý khoảng 600 - 800 hộ, trong khi đó ở các nớc con số này chỉ vào
khoảng 200 - 300 hộ cho mỗi CBTD.
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Ngân hàng đối
với hộ sản xuất
Việc nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất có ý
nghĩa rất lớn với Ngân hàng, HSX và nền kinh tế, mang tính quyết định sự


24
thành bại của Ngân hàng. Do vậy, yêu cầu phải nâng cao chất lượng tín dụng
Ngân hàng đối với hộ sản xuất là một yêu cầu thường xuyên đối với Ngân
hàng. Để làm được điều đó, trước hết phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng chất
lượng tín dụng HSX. Có các nhóm yếu tố chính sau đây:
1.2.3.1 Yếu tố thuộc môi trường:
Môi trường là nhóm yếu tố có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng HSX
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đặc biệt trong điều kiện sản xuất của nước
ta còn phụ thuộc vào thiên nhiên thì môi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn.
a. Môi trường kinh tế xã hội:
Môi trường kinh tế xã hội có ảnh hưởng gián tiếp tới chất lượng tín dụng
HSX. Môi trường kinh tế ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiện cho HSX làm
ăn có hiệu quả, do vậy HSX vay nhiều hơn, các khoản vay đều được hộ sản
xuất sử dụng đúng mục đích mang lại hiệu quả kinh tế. Từ đó, các khoản vay
được hoàn trả đúng thời hạn cả tiền gốc và lãi. Trên cơ sở đó chất lượng tín
dụng HSX được nâng lên.
b. Môi trường chính trị - pháp lý:
Ngân hàng là một trong những ngành phải chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ
quan pháp luật và cơ quan chức năng. Do vậy, việc tạo ra môi trường pháp lý
hoàn thiện sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status