LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động tín dụng của
ngân hàng thương mại Mở đầu ii. Một số khái luận cơ bản
1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là quan hệ vay mượn tạm thời sử dụng vốn của nhau dựa trên nguyên tắc
hoàn trả và sự tin tưởng
Sinh ra từ nền sản xuất hàng hóa ,tín dụng gắn liền với sự luân chuyển vốn của quá
trình tái sản xuất và được thể hiện thông qua sự vận động giá trị vốn tín dụng dưới
hình thức tiền tệ với đặc trưng nổi bật của nó là sự hoàn trả luân được bảo tồn về
mặt giá trị và có phần tăng thêm nhờ phần lợi tức. Đây cũng là nguyên tắc bắt buộc
trong hoạt động tín dụng. Về mặt hình thức ,sự hoàn trả được thực hiện trên cơ sở
thoả thuận bằng hợp đồng tín dụng giữa người cho vay và người đi vay.
2. Chức năng của tín dụng
Tập trung tích tụ phân phối lại vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trên nguyên tắc hoàn
trả. Đây là chức năng chủ yếu của tín dụng phản ánh bản chất của tín dụng. Do quá
trình luân chuyển vốn của các loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có khác nhau
về nhu cầu về vốn. Hơn nữa ngay trong bản thân một doanh nghiệp quá trình luân
chuyển các loại vốn cũng khác nhau nên trong nền kinh tế hàng hóa luôn luôn
xảy ra hiện tượng tạm thời thừa hoặc thiếu vốn. Thông qua hoạt động tín dụng vốn
tiền tệ được từ nơi tạm thời thừa đến những nơi tạm thời thiếu. Ngoài việc thu hút
vốn tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp ,các ngân hàng còn thu hút các khoản
tiền nhàn rỗi khác trong phạm vi toàn xã hội (tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân
cư,tiền gửi của các tổ chức kinh tế xã hội ,tôn giáo ,các tổ chức từ thiện ) để đầu tư
cho nền kinh tế và các nhu cầu của dân cư ,của nhà nước và không ngừng mở rộng
và tăng cường qui mô cho vay của mình .
Để giám sát và kiểm tra những khoản nợ hiện có theo các mức độ khác nhau ,xác
định chất lượng và mức độ rủi ro của những khoản nợ người ta tiến hành phân loại
tín dụng ,từ đó có chế độ quản lý thích hợp đối với từng khoản vay.
Phân loại theo thời hạn có ba loại : tín dụng ngắn hạn ,tín dụng trung hạn ,tín dụng
dài hạn.Thông thường tín dụng ngắn hạn có liên quan đến việc bổ xung vốn phục vụ
cho việc mua sắm tài sản lưu động còn tín dụng trung hạn khoảng từ một đến năm
năm mục đích sửa chữa lớn và vừa với tài sản cố định ,cho vay để áp dụng sáng
kiến cải tiến kỹ thuật để cải tạo sản phẩm cho thị trường ,tín dụng dài hạn có thời
hạn lớn hơn năm năm để đầu tư dài hạn phát triển sản xuất theo chiều rộng hoặc cho
vay cải tạo cơ sở hạ tầng ,cho vay dự án
Phân loại theo kỳ hạn nợ người ta chia thành :nợ chưa đến hạn ,nợ đến hạn và nợ
quá hạn. Nợ chưa đến hạn là nợ chưa đến thời hạn thanh toán khoản nợ sẽ được
thu hồi khi đến hạn.nợ đến hạn là khoản nợ đến hạn thanh toán,nó được dùng để
đánh giá chất lượng của một khoản tín dụng đã cung cấp có ảnh hưởng lớn đến khả
năng thanh toán của Ngân HàngThương Mại. Nợ quá hạn là những khoản nợ vì lý
do nào đó mà đến hạn thanh toán mà chưa thanh toán được. Nợ quá hạn càng lớn
,mức độ thiếu thanh khoản càng cao. Vấn đề gải quuyết nợ quá hạn là vấn đề quan
trọng với hoạt động của Ngân HàngThương Mại.
Phân loại theo tính chất đảm bảo của khoản nợ. Theo cách này các khoản nợ được
chia làm hai loại: nợ có đảm bảo và nợ không có đảm bảo. Trong khoản nợ có đảm
bảo có hai hình thức là cho vay thế chấp đó lá người đi vay phải thế chấp tài sản
nhưng tài sản thế chấp vẫn thuộc quyền sử dụng của khách hàng,một hình thức nữa
là cho vay cầm cố tài sản thế chấp thuộc quyền quản lý của ngân hàng.nợ không có
tài sản đảm bảo có hai hình thức là cho vay tín chấp khi các khoản cho vay không
căn cứ vào tài sản thế chấp mà căn cứ vào uy tín của khách hàng lòng tin của ngân
hàng với khách hàng, một hình thức nữa là cho vay bảo lãnh ngân hàng cho vay dựa
của ngân hàng.
Đối với khách hàng chất lượng tín dụng thể hiện ở sự phù hợp với mục đích sử dụng
của khách hàng ,với lãi suất và kì hạn nợ hợp lý ,thủ tục đơn giản ,thuận tiện thu
hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội ,tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng
hoá ,giả quyết công ăn việc làm ,khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế
,thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất ,giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng
trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.
Đối với Ngân HàngThương Mại phạm vi ,mức độ ,giới hạn tín dụng phải phù hợp
với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị
trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
7. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
a. Các nhân tố khách quan:
Về mặt vĩ mô nền kinh tế ổn định sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố lạm phát ,khủng hoảng làm cho
khả năng tín dụng và khả năng trả nợ vay không biến động lớn. Song với mục tiêu
tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng mức lạm phát vừa phải để tăng trưởng tín
dụng kích thích đầu tư nhưng có một vấn đề đặt ra là qui mô của hoạt động tín dụng
sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Nếu mở rộng qui mô quá mức giới hạn các
Ngân HàngThương Mại sẽ chịu thiệt hại lớn do lạm phát.
Lãi suất của nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Doanh nghiệp
chỉ tham gia hoạt động tín dụng khi họ kỳ vọng lợi tức thu được từ các khoản đầu tư
bù đắp được lãi suất mà ngân hàng đưa ra. Lợi tức của ngân hàng được bị giới hạn
bởi mức lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy khi lãi suất cao hơn lợi nhuận của
doanh nghiệp ,các doanh nghiệp sẽ không có khả năng trả nợ ngân hàng ảnh hưởng
tới quá trình tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ảnh hưởng xấu đến phát
Ngoài những yếu tố kể trên còn có những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
như đạo đức xã hội có liên quan đến rủi ro trong tín dụng trong trường hợp lợi dụng
lòng tin để lừa đảo, hoặc do dân trí chưa cao ,kém hiểu biết dẫn đến chưa hiểu đúng
bản chất hoạt động ngân hàng có những biểu hiện làm ảnh hưởng tới chất lượng
hoạt động tín dụng. Bên cạnh đó chu kỳ phát triển kinh tế trong nước, tình hình kinh
tế xã hội của nước ngoài cũng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng. Các
yếu tố tự nhiên như thiên tai, lũ lụt tác động đến các dự án đầu tư của khách hàng
dẫn đến khó khăn trong khả năng trả nợ.
b. Các nhân tố bên trong.
Chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng đi đúng hướng đã đề ra,
nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của một ngân hàng. Điều
đó cũng có nghĩa rằng chất lượng tín dụng tùy thuộc vào việc xây dựng chính sách
tín dụng của ngân hàng thương mại có đúng đắn hay không. Bất cứ một ngân hàng
nào muốn có chất lượng tín dụng đều phải có chính sách tín dụng rõ ràng, thích hợp
cho ngân hàng mình.
Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng tín dụng , nhờ có
thông tin tín dụng người quản lý có thể đưa ra những quyết định cần thiết đến cho
vay,theo dõi và quản lý tài sản cho vay. Thông tin tín dụng có thể thu được từ các
nguồn có sẵn từ ngân hàng, từ khách hàng ,từ các nguồn thông tin khác(các cơ quan
thông tấn báo chí, toà án). Số lượng, chất lượng của thông tin thu nhận được có liên
quan đến độ chính xác trong việc phân tích ,nhận định thị trường, khách hàng để
đưa ra những quyết định phù hợp. Thông tin càng đầy đủ nhanh nhạy chính xác,toàn
diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng càng cao.
Tổ chức ngân hàng được xắp xếp một cách có khoa học đảm bảo sự phối hợp chặt
chẽ,nhịp nhàng giữa các phòng ban trong từng ngân hàng trong toàn bộ hệ thống
ngân hàng cũng như giữa ngân hàng với các cơ quan khác như tài chính pháp lý sẽ
Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá,tín dụng đã có những đóng góp đáng kể trong việc
thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để thúc đẩy tiến trình phát triển của xã
hội. Khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn tín dụng , với
một khối lượng tiền như cũ , có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn tạo điều kiện
tiết kiệm tiền trong lưu thông,củng cố sức mua của đồng tiền ,qua đó ngân hàng
thực hiện tốt hơn chức năng tạo tiền hay tạo ra phương tiện thanh toán trong lưu
thông làm tốt hơn vai trò trung tâm thanh toán
Chất lượng tín dụng làm cho ngân hàng thực hiện tốt hơn chức năng trung gian tín
dụng trong nền kinh tế quốc dân, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư,tín dụng góp
phần điều hoà vốn trong nền kinh tế. Tăng cường tín dụng sẽ giảm thiểu lượng tiền
thừa trong lưu thông. Điều đó không chỉ giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn
trong nền kinh tế mà còn tạo điều kiện mở rộng phạm vi thanh toán không dùng tiền
mặt ,từ đó tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội góp phần điều hoà và ổn định lưu
thông tiền tệ.
Tín dụng là công cụ thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển kinh
tế theo từng nghành ,từng lĩnh vực. Chất lượng tín dụng được nâng cao sẽ góp phần
tăng hiệu quả sản xuất xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người
lao động.
b.Với sự tồn tại và phát triển của Ngân HàngThương Mại
Chất lượng tín dụng làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các ngân hàng thương
mại do đó tạo thêm vốn do việc tăng thêm vòng quay vốn tín dụng và thu hút được
nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm , dịch vụ tạo ra hình ảnh tốt về
biểu tượng và uy tín của ngân hàng và sự trung thành của khách hàng. Chất lượng
dựng, duy trì củng cố và phát triển các tổ chức kinh tế XHCN. Trong quá trình phát
triển ,hoạt động tín dụng không ngừng được cải tiến cho phù hợp với tình hình thực
tế nhằm từng bước nâng cao hiệu quả vốn tín dụng. Tuy vậy do ảnh hưởng của
nhiều nguyên nhân, việc quản lý theo nguyên tắc kế hoạch hoá tập trung thống nhất
tình hình đất nước có chiến tranh, hạn chế về trình độ cán bộ nên chất lượng tín
dụng có những hạn chế nhất định.
Đầu tư dựa trên cơ sở chỉ đạo của chính phủ, chủ yếu cho vay quốc doanh, không
quan tâm đến các thành phần kinh tế khác; tín dụng mang tính bao cấp cho vay
không quan tâm đến hiệu quả , chỉ thực hiện theo kế hoạch, mệnh lệnh, không quan
tâm đến thị trường cũng như các quy luật kinh tế khách quan nên hiệu quả thấp, chế
độ hạch toán kinh tế chỉ là hình thức.
Tỷ Lệ (%) vốn td tham gia cấu thành địng mức vốn lưu động của doanh nghiệp
Đơn vị %
Các qđ Nghành
QĐ 54/ttg ngày
19/12/1959
QĐ 32/cp ngày 11/2/1977
NSNN
cấp
NH cho vay NSNN cấp NH cho vay
XN công nhiệp,GTVT
XN nông nghiệp
XN thương nghiệp
70
70
30
30
chịu ảnh hưởng nặng nề của tính bao cấp trong hoạt động tín dụng dẫn đến sự ỷ lại
vào nhà nước ,các đơn vị sử dụng vốn lãng phí thất thoát không thu hồi được nợ,
làm thiệt hại cho nhà nước. Chất lượng tín dụng thời kì này mang tính bề nổi.
2. Giai đoạn 1986 đến 1990
Trong thời kỳ này nhận định được hạn chế của thời kỳ bao cấp , khi cả nước bước
vào thời kỳ đổi mới chất lượng tín dụng cũng được cải thiện đáng kể. Tín dụng thời
kỳ này đã bước đầu chú ý đến hiệu quả và góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh
tế trong các xí nghiệp quốc doanh. Tín dụng tăng nhanh chủ yếu là tín dụng ngắn
hạn cho vay vốn lưu động (chiếm 90 đến 95% tổng số dư nợ cho vay nền kinh tế ).
Tín dụng vốn cố định bị hạn chế. Điều đáng chú ý là việc cải thiện cho vay với
doanh nghiệp quốc doanh. Tín dụng không còn tham gia theo phần định mức vốn
lưu động mà chỉ nhằm bổ xung nhu cầu vốn cần thiết vượt quá vốn tự có của doanh
nghiệp. Điều đó dã phát huy chức năng đòn bẩy của tín dụng chống bao cấp thu
hẹp dần phạm vi cấp phát của ngân sách nhà nước. Bằng việc cho vay trong hạn
mức tín dụng và cho vay ngoài hạn mức tín dụng đã bước đầu gắn liền với hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp tuy nhiên tín dụng vẫn bị động và chưa có ảnh
hưởng tích cực đối với nền kinh tế tín dụng cho ngân sách ngày càng chiếm tỷ trọng
lớn. Tín dụng chưa theo kịp sự phát triển của sản xuất xã hội theo đường lối đổi mới
của Đảng sản xuất thời kỳ này bung ra mạnh , các ngân hàng không đáp ứng được
nhu cầu vốn đã làm cho có sự nảy sinh gần như tự phát của nhiều tổ chức tín dụng
đứng ra huy động với lãi suất hấp dẫn và cho vay tràn lan. Do lãi suất thị truờng
không có sự quản lý và điều tiết các quy chế chưa được ban hành kịp thời đã làm
xuất hiện mộy số tổ chức tín dụng thiếu lành mạnh chạy theo mục đích kiếm lời lừa
đảo. Tính đến 20/11/1990 chỉ còn có 18 đơn vị hoạt động bình thường trên 100 đơn
vị có khó khăn , số còn lại mất khả năng chi trả trầm trọng hoặc vỡ nợ.
Hoạt động tín dụng chưa thực hiện được cơ chế kinh doanh theo chế độ hạch toán
gửi tiết kiệm nên đã tăng trưởng được nguồn vốn để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn
cho nền kinh tế ,nguồn vốn huy động vào cuối năm 1995 tăng gần 7 lần so với năm
1990. Tỷ trọng huy động vốn của các ngân hàng thương mại quốc doanh so với tổng
khối lượng hoạt động của hệ thống ngân hàng trong toàn quốc tuy giảm nhưng vẫn
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số nguồn vốn huy động. Điều đó chứng tỏ các
ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn chiếm ưu thế trong cạnh tranh và đảm bảo
lòng tin với người gửi tiền.
Cơ cấu cho vay thay đổi theo hướng của nền kinh tế nhiều thành phần nhưng kinh tế
quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo trên lĩnh vực hoạt động tiền tệ tín dụng và là
công cụ trực tiếp để thực hiện các chủ trương đường nối phát triển kinh tế của Đảng
và Nhà nước. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế tăng nhanh, tính đến cuối năm 1995
tổng dư nợ đối với nền kinh tế tăng gần bảy lần so với năm 1990. Tỷ trọng cho vay
nền kinh tế quốc doanh tăng dần từ 10% năm 1991 lên 42% năm 1995 trong khi vẫn
đảm bảo có chọn lọc đápứng vốn để duy trì những doanh nghiệp nhà nước kinh
doanh có hiệu quả. Thông qua chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo xu hướng tăng dần tỷ
trọng cho vay trung ,dài hạn tù 15% năm 1991 đến 31% năm 1995 trong đó chủ yếu
là cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng thương mại quốc doanh (chiếm trên
90%tổng dư nợ trong toàn hệ thống ngân hàng )đã chứng tỏ vai trò chủ đạo của các
ngân hàng thương mại quốc doanh đối với nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng ngân hàng được đổi mới, đã chuyển hướng thực sự theo cơ chế
thị trường , phương thức hoạt động kinh doanh đa năng , tác phong lề nối đổi mới ,
lấy chất lượng làm mục tiêu chính cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Các
điều kiện vay vốn và phương thức đầu tư vôns luôn được cải tiến. Hiệu quả sử dụng
vốn cao , hầu hết các món vay vùa qua đều được sử dụng đúng mục đích, doanh
1997 tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn cao, trong số nợ quá hạn chủ yếu là nợ có khả
năng thu hồi do các ngân hàng còn nắm giữ tài sản thế chấp, có thể thanh lý để giảm
tỷ lệ nợ quá hạn .
Việc chấp hành các điều luật và thể lệ tín dụng ngắn hạn và trung hạn chưa nghiêm
túc còn vi phạm nguyên tắc đối tuợng cho vay. Một biểu hiện của hiện tượng này là
cho vay trong trường hợp vốn tự có của doanh nghiệp quá nhỏ, chênh lệch giữa vốn
tự có của doanh nghiệp và vốn vay tới hàng chục thậm chí hàng trăm lần nhất là
các khoản vay cho xây dựng cơ bản nhiều trường hợp doanh nghiệp làm ăn thua lỗ ,
có nợ quá hạn vẫn được vay. Cho vay thiếu vật tư đảm bảo , việc thế chấp tài sản
còn nhiều sơ hở. Hồ sơ thế chấp vay vốn còn nhiều trường hợp chỉ mang tính hình
thức, chưa đảm bảo cơ sở pháp lý. Việc lưu trữ tài sản thế chấp tại ngân hàng còn
gặp nhiều khó khăn do bị hạn chế bởi thiếu kho đảm bảo. Cho vay sai chức năng
không đúng đối tượng ví dụ như công ty Đất Việt tại thành phố Hồ Chí Minh không
có chức năng kinh doanh nghành may mặc nhưng ngân hàng ngoại thương Hồ Chí
Minh vẫn cho vay 2 triêụ USD để mua lại toàn bộ phân xưởng may mặc của công ty
Minh Phụngdẫn tới không trả được nợ theo hợp đồng.
Hoạt động tín dụng còn chưa phản ánh đúng thực chất của các khoản nợ do việc xác
định thời hạn cho vay, gia hạn nợ,chuyển nợ quá hạn , cho vay mới trả nợ cũ nhiều
nơi còn tuỳ tiện. Một hiện tượng có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đó là nhiều
ngân hàng thương mại cho vay khi không có đầy đủ thông tin về khách hàng, cán bộ
tín dụng chưa nắm chắc tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp có trường hợp nhiều ngân hàng thương mại cùng cho vay một doanh nghiệp
dẫn đến nợ khó đòi hoặc bị lừa đảo. Việc một số ngân hàng thương mại tập trung
cho vay một số khách hàng quá lớn trên 10% vốn tự có của ngân hàng dẫn đến rủi
ro lớn về khả năng trả nợ như những vụ đã đi vào dư luận của cả nước như
TAMEXCO,dệt Nam Định
dụng trực tiếp kiểm tra thu hồi nợ , chưa có sự phối hợp giữa các bộ phận. Mặt khác
trong điều kiện địa bàn hoạt động rộng gây khó khăn trong việc theo dõi khách
hàng.
Các phương tiện máy móc phục vụ nghiệp vụ và thông tin ở nhiều chi nhánh ngân
hàng còn yếu kém , chất lượng thông tin cung cấp còn chưa cao đây cũng là một
trong các nguyên nhân làm cho phân tích , nhận định khách hàng kém chính xác,
các quyết định tín dụng kém hiệu lực.
Vai trò chủ động kiểm tra , kiểm soát chưa thường xuyên , sâu sát ,nghiêm túc là
một yếu tố trựe tiếp ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Hệ thống thông tin phòng
ngừa rủi ro chưa thực sự phát huy hiệu quả. Việc phối hợp giữa các ngân hàng
thương mại trong việc cung cấp thông tin về khách hàng và việc kiểm tra cũng còn
nhiều hạn chế.
Tuy đã bắt đầu bắt nhịp với kinh tế thị trường nhưng các chính sách và cơ chế quản
lý vĩ mô của nhà nước đang trong quá trình điều chỉnh , đổi mới và hoàn thiện.Mặt
khác quá trình thích ứng của các doanh nghiệp với cơ chế thị trường còn chậm ,việc
điều chỉnh và chuyển hướng phương án sản xuất kinh doanh không theo kịp với
kinh tế thị trường và chính sách kinh tế vĩ mô. Điều đó dẫn đến sự khó khăn trong
việc đảm bảo chất lượng tín dụng. Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng chưa
đầy đủ , chưa đồng bộ. Một số văn bản pháp lý có liên quan đến vấn đề thế chấp vay
vốn ngân hàng còn chưa đầy đủ và thiếu văn bản hướng dẫn nên quá trình thực hiện
còn gặp nhiều khó khăn.hiệu lực của các cơ quan hành pháp chưa đáp ứng được yêu
cầu giải quyết các tranh chấp, thanh lý tài sản thế chấp, bảo lãnh Chưa có các tiêu
chuẩn quản lý tín dụng được quy định bằng văn bản có tính thống nhất đối với các
ngân hàng thương mại, các nguyên tắc tín dụng chưa được chỉnh sửa cho phù hợp
với thực tế đã gây không ít khó khăn trong quản lý hoạt động tín dụng.
vi. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
Khách hàng liên quan trực tiếp tới chất lượng tín dụng , họ vừa là người cho vay
,vừa là người đi vay ,thiết lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng giúp ngân hàng
có điều kiện nắm vững các thông tin liên quan tới khách hàng để có đối sách thích
hợp để đứng vững trong cạnh tranh.
Ngày nay vai trò của ngân hàng trong việc trực tiếp và chủ động tìm hiểu khách
hàng đã trở nên phổ biến cùng với hiệu quả của nó đem lại với chất lượng hoạt động