LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng
thương mại ii. Một số khái luận cơ bản
1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là quan hệ vay mượn tạm thời sử dụng vốn của nhau dựa trên nguyên tắc
hoàn trả và sự tin tưởng
Sinh ra từ nền sản xuất hàng hóa ,tín dụng gắn liền với sự luân chuyển vốn của quá
trình tái sản xuất và được thể hiện thông qua sự vận động giá trị vốn tín dụng dưới
hình thức tiền tệ với đặc trưng nổi bật của nó là sự hoàn trả luân được bảo tồn về mặt
giá trị và có phần tăng thêm nhờ phần lợi tức. Đây cũng là nguyên tắc bắt buộc trong
hoạt động tín dụng. Về mặt hình thức ,sự hoàn trả được thực hiện trên cơ sở thoả thuận
bằng hợp đồng tín dụng giữa người cho vay và người đi vay.
2. Chức năng của tín dụng
Tập trung tích tụ phân phối lại vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trên nguyên tắc hoàn trả.
Đây là chức năng chủ yếu của tín dụng phản ánh bản chất của tín dụng. Do quá trình
luân chuyển vốn của các loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có khác nhau về nhu
cầu về vốn. Hơn nữa ngay trong bản thân một doanh nghiệp quá trình luân chuyển các
loại vốn cũng khác nhau nên trong nền kinh tế hàng hóa luôn luôn xảy ra hiện tượng
tạm thời thừa hoặc thiếu vốn. Thông qua hoạt động tín dụng vốn tiền tệ được từ nơi
tạm thời thừa đến những nơi tạm thời thiếu. Ngoài việc thu hút vốn tạm thời nhàn rỗi
của các doanh nghiệp ,các ngân hàng còn thu hút các khoản tiền nhàn rỗi khác trong
phạm vi toàn xã hội (tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư,tiền gửi của các tổ chức
kinh tế xã hội ,tôn giáo ,các tổ chức từ thiện ) để đầu tư cho nền kinh tế và các nhu
cầu của dân cư ,của nhà nước và không ngừng mở rộng và tăng cường qui mô cho vay
của mình .
Chức năng giám đốc các hoạt động kinh tế bằng đồng tiền
Chức năng này xuất phát từ chức năng đầu tiên. Bản thân quan hệ tín dụng cũng bao
gồm nhiều mối quan hệ như: quan hệ vay quan hệ về dư nợ do đó quan hệ tín dụng
bao hàm khả năng kiểm soát các loại hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp . Để hình
tiến kỹ thuật để cải tạo sản phẩm cho thị trường ,tín dụng dài hạn có thời hạn lớn hơn
năm năm để đầu tư dài hạn phát triển sản xuất theo chiều rộng hoặc cho vay cải tạo cơ
sở hạ tầng ,cho vay dự án
Phân loại theo kỳ hạn nợ người ta chia thành :nợ chưa đến hạn ,nợ đến hạn và nợ quá
hạn. Nợ chưa đến hạn là nợ chưa đến thời hạn thanh toán khoản nợ sẽ được thu hồi
khi đến hạn.nợ đến hạn là khoản nợ đến hạn thanh toán,nó được dùng để đánh giá chất
lượng của một khoản tín dụng đã cung cấp có ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh toán
của Ngân HàngThương Mại. Nợ quá hạn là những khoản nợ vì lý do nào đó mà đến
hạn thanh toán mà chưa thanh toán được. Nợ quá hạn càng lớn ,mức độ thiếu thanh
khoản càng cao. Vấn đề gải quuyết nợ quá hạn là vấn đề quan trọng với hoạt động của
Ngân HàngThương Mại.
Phân loại theo tính chất đảm bảo của khoản nợ. Theo cách này các khoản nợ được
chia làm hai loại: nợ có đảm bảo và nợ không có đảm bảo. Trong khoản nợ có đảm
bảo có hai hình thức là cho vay thế chấp đó lá người đi vay phải thế chấp tài sản
nhưng tài sản thế chấp vẫn thuộc quyền sử dụng của khách hàng,một hình thức nữa là
cho vay cầm cố tài sản thế chấp thuộc quyền quản lý của ngân hàng.nợ không có tài
sản đảm bảo có hai hình thức là cho vay tín chấp khi các khoản cho vay không căn cứ
vào tài sản thế chấp mà căn cứ vào uy tín của khách hàng lòng tin của ngân hàng với
khách hàng, một hình thức nữa là cho vay bảo lãnh ngân hàng cho vay dựa vào sự bảo
lãnh của một người thứ ba
Phân loại theo mức độ rủi ro của các khoản nợ. Dựa vào cách phân loại này,Ngân
HàngThương Mại có khả năng quản lý chặt chẽ các khoản nợ,phát hiện sớm các khoản
nợ có vấn đề để xử lý kịp thời,đảm bảo khả năng thanh toán khi đến hạn.
5. Nguyên tắc tín dụng
Nguyên tắc tín dụng là kim chỉ nam cho việc điều hành hoạt động tín dụng ,là chuẩn
mực và thước đo để cán bộ thừa hành thực thi nhiệm vụ một cách tốt nhất.thông
thường nguyên tắc tín dụng phải đảm bảo nội dung cơ bản là giải quyết hợp lý giữa ba
thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với
nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
7. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
a. Các nhân tố khách quan:
Về mặt vĩ mô nền kinh tế ổn định sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố lạm phát ,khủng hoảng làm cho khả
năng tín dụng và khả năng trả nợ vay không biến động lớn. Song với mục tiêu tăng
trưởng kinh tế nhà nước sử dụng mức lạm phát vừa phải để tăng trưởng tín dụng kích
thích đầu tư nhưng có một vấn đề đặt ra là qui mô của hoạt động tín dụng sẽ ảnh
hưởng đến chất lượng tín dụng. Nếu mở rộng qui mô quá mức giới hạn các Ngân
HàngThương Mại sẽ chịu thiệt hại lớn do lạm phát.
Lãi suất của nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Doanh nghiệp chỉ
tham gia hoạt động tín dụng khi họ kỳ vọng lợi tức thu được từ các khoản đầu tư bù
đắp được lãi suất mà ngân hàng đưa ra. Lợi tức của ngân hàng được bị giới hạn bởi
mức lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy khi lãi suất cao hơn lợi nhuận của doanh
nghiệp ,các doanh nghiệp sẽ không có khả năng trả nợ ngân hàng ảnh hưởng tới quá
trình tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh
tế
Nhóm nhân tố trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng là các tác nhân trực tiếp
tham gia quan hệ tín dụng ,đó là người gửi tiền,ngân hàng và người vay tiền. Tín dụng
nghĩa là sự vay mượn dựa trên cơ sở tín nhiệm ,lòng tin. Vì vậy chất lượng tín dụng
phụ thuộc vào ba yếu tố: khách hàng ,ngân hàng và sự tín nhiệm , trong đó sự tín
nhiệm là cầu nối giữa mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Sự tín nhiệm càng
cao,thu hút khách hàng càng lớn. Khách hàng vừa là chủ thể đại diện cho bên cung về
vốn vừa là người đại diện cho bên cầu về vốn. Với tư cách người cung vốn tín dụng
họ mong muốn nhận được từ ngân hàng một khoản lãi từ tiền gửi. Hay những dịch vụ
thanh toán thuận tiện. Sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng sẽ làm tăng
ngân hàng thương mại có đúng đắn hay không. Bất cứ một ngân hàng nào muốn có
chất lượng tín dụng đều phải có chính sách tín dụng rõ ràng, thích hợp cho ngân hàng
mình.
Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng tín dụng , nhờ có
thông tin tín dụng người quản lý có thể đưa ra những quyết định cần thiết đến cho
vay,theo dõi và quản lý tài sản cho vay. Thông tin tín dụng có thể thu được từ các
nguồn có sẵn từ ngân hàng, từ khách hàng ,từ các nguồn thông tin khác(các cơ quan
thông tấn báo chí, toà án). Số lượng, chất lượng của thông tin thu nhận được có liên
quan đến độ chính xác trong việc phân tích ,nhận định thị trường, khách hàng để đưa
ra những quyết định phù hợp. Thông tin càng đầy đủ nhanh nhạy chính xác,toàn diện
thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng càng cao.
Tổ chức ngân hàng được xắp xếp một cách có khoa học đảm bảo sự phối hợp chặt
chẽ,nhịp nhàng giữa các phòng ban trong từng ngân hàng trong toàn bộ hệ thống ngân
hàng cũng như giữa ngân hàng với các cơ quan khác như tài chính pháp lý sẽ tạo điều
kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng , theo dõi, quản lý sát sao các khoản vốn
huy động cũng như các khoản vốn cho vay.
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng cũng như
trong hoạt động của ngân hàng. Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự
ngày càng cao để có thể đối phó kịp thời , có hiệu quả với các tình huống khác nhau
của hoạt động tín dụng. Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt và giỏi
chuyên môn sẽ giúp cho ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy
ra khi thực hiện chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng.
Một nhân tố cũng không kém phần quan trọng đó là sự kiểm tra kiểm soát nội bộ. Đây
là biện pháp giúp ban lãnh đạo ngân hàng có được những thông tin về tình trạng kinh
doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động kinh doanh đang được xúc tiến phù hợp
với mục tiêu đề ra. Các hoạt động đó bao gồm việc kiểm tra chính sách tín dụng và
các thủ tục có liên quan đến các khoản vay(thẩm quyền về điều hành quản lý , giám sát
hiệu quả sản xuất xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động.
b.Với sự tồn tại và phát triển của Ngân HàngThương Mại
Chất lượng tín dụng làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các ngân hàng thương
mại do đó tạo thêm vốn do việc tăng thêm vòng quay vốn tín dụng và thu hút được
nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm , dịch vụ tạo ra hình ảnh tốt về biểu
tượng và uy tín của ngân hàng và sự trung thành của khách hàng. Chất lượng tín dụng
tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm , dịch vụ do giảm được , giảm chi phí nghiệp
vụ,quản lý.
Chất lượng tín dụng cải thiện tình hình tài chính của ngân hàng , tạo thế mạnh cho
ngân hàng trong quá trình cạnh tranh. Thực tế cho thấy ngân hàng chỉ tồn tại và phát
triển khi hoạt động có hiệu quả, tức là thu được lợi nhuận từ các dịch vụ của mình. Mà
trong các dịch vụ của ngân hàng cung cấp cho khách hàng thì quan trọng nhất là hoạt
động tín dụng ,do đó chất lượng tín dụng có liên quan hệ mật thiết và cực kỳ quan
trọng tới sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Ngân hàng thương mại là một doanh
nghiệp đặc biệt hoạt động trên lĩnh vực tài chính và tiền tệ nhưng mục tiêu của nó
cũng không khác các doanh nghiệp khác đó là cũng bỏ vốn ra kinh doanh để thu được
lợi nhuận do dó việc nâng cao chất lượng tín dụng là một tất yếu nhất là trong điều
kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt không khoan nhượng hiện nay.
iii. Thực trạng hoạt động tín dụng
1. Trước thời kỳ đổi mới (trước năm 1986)
Ngày 6 tháng 5 năm 1951 chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số15/SL thành lập ngân
hàng quốc gia Việt Nam. Kể từ ngày đó hệ thống ngân hàng đã từng bước lớn lên cùng
với đất nước qua các giai đoạn của sự phát triển.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống ngân hàng một cấp. Ngân hàng nhà nước
vừa đóng vai trò phát hành tiền, quản lý lưu thông tiền tệ, vùa đóng chức năng của một
ngân hàng chuyên doanh đó là hoạt động nhận tiền gửi của nhân dân và cho vay đối
với nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng được xác lập theo địa giới hành chính, mỗi tỉnh
có một chi nhánh ngân hàng trung ương tỉnh, mỗi huyện có một chi nhánh ngân hàng
XN thương nghiệp
XN dịch vụ
70
70
30
30
30
30
70
70
50
50
30
10
50
50
70
90
Tín dụng được tập trung chủ yếu cho kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể .
Trong tín dụng ngắn hạn, tổng dư nợ không ngừng tăng thêm, dư nợ đến cuối năm
1985 đã tăng 43 lần so với cuối năm 1980. Tốc độ tăng bình quân hàng năm 150,3%.
Sự bất cập trong hệ thống ngân hàng là nguyên nhân gây ra hiện tượng ngân hàng nhà
nước vừa là người phát hành vừa là người cho vay; vừa quản lý vừa kinh doanh. Hoạt
động tín dụng chỉ coi trọng tín dụng ngắn hạn coi nhẹ tín dụng trung hạn và dài hạn,
bao cấp vốn tín dụng thay cấp vốn ngân sách cho các đơn vị kinh tế. Lấy tiền phát
hành làm nguồn vốn, lấy vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn và cho vay xây dựng cơ
bản. Coi nhẹ công cụ lãi suất trong điều hoà cung cầu vốn điều chỉnh tiền tệ và nâng
đích kiếm lời lừa đảo. Tính đến 20/11/1990 chỉ còn có 18 đơn vị hoạt động bình
thường trên 100 đơn vị có khó khăn , số còn lại mất khả năng chi trả trầm trọng hoặc
vỡ nợ.
Hoạt động tín dụng chưa thực hiện được cơ chế kinh doanh theo chế độ hạch toán kinh
tế thể hiện lãi âm lãi suất cho vay <lãi suất tiền gửi< tốc độ lạm phát (trong thời kỳ
1987-1990 lãi suất tiền gửi bình quân là 72% cho vay bình quân là 51,6%, mức độ lạm
phát bình quân là 183,8%), nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên do đây là giai đoạn
chuyển tiếp từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường nên cơ chế quản lý
mới chưa hoàn chỉnh chưa đủ mạnh để bứt khỏi cơ chế cũ. Mọi hoạt động tín dụng còn
mang nặng ảnh hưởng của cơ chế bao cấp, tuy vậy chất lượng tín dụng bắt đầu tiếp
cậnvới thị trường , đáp ứng nhu cầu vốn theo tín hiệu thị trường góp phần chống bao
cấp qua tín dụng tăng tính sáng tạo chủ động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy
vậy tín dụng còn bị động chưa có hiệu quả kinh tế chưa thực sự là đòn bẩy kinh tế.
Nhìn chung đây là bước thay đổi lớnđánh dấu bước chuyển biến căn bản làm tiền đề
cho hoạt động tín dụng chuyển hẳn sang kinh doanh theo cơ chế thị trường.
3. Giai đoạn 1990 đến nay
a. Tích cực
Đặc điểm nổi bật nhất đánh dấu cho thời kỳ này là Nghị định 53/HĐBT về việc thành
lập hệ thống ngân hàng hai cấp thể hiện qua hai pháp lệnh:pháp lệnh về Ngân hàng nhà
nước và pháp lệnh về Ngân hàng ,hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính có hiệu lực
từ tháng 10/1990 đã tạo nhân tố mới cho nền kinh tế nhưng đã đem lại những hình
thức và nội dung mới trong lĩnh vực hoạt động chu chuyển vốn. Với sự thay đổi này
của hoạt động tín dụng đã góp phần khắc phục tình trạng rối loạn và lạm phát trầm
trọng kéo dài,khắc phục một bước tình trạng doanh nghiệp quốc doanh ỷ vào vốn bao
cấp của ngân sách nhà nước,với phương châm đi vay để cho vay các ngân hàng thương
mại đã tích cực huy động vốn với nhiều hình thức phong phú thích hợp như : Phát
hành kỳ phiếu ,trái phiếu ,đa dạng hoá các loại tiền gửi tiết kiệm nên đã tăng trưởng
được nguồn vốn để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế ,nguồn vốn huy động
trương trình dự án lớn như : mở rộng cho vay hộ nông dân và hộ cá thể. Cho vay sinh
viên các trường đại học cao đẳng, cho vay với hộ nghèo trên toàn bộ các tỉnh trên ba
miền của đất nước. Ngoài ra còn thực hiện nhiều hình thức tín dụng tài trợ khác từ các
nguồn vốn tài trợ uỷ thác
như các chương trình tín dụng Việt Đức cho vay người nghèo từ Đức trở về
Việc thực hiện đa dạng hoá các loại hình tín dụng (tài trợ nhập khẩu và xuất khẩu trực
tiếp cho vay phát triển kinh tế biển tín dụng hỗ trợ sản xuất kinh doanh )để đáp ứng
nhu cầu vốn của thị trường trên cơ sở phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng. Lãi suất
chuyể dần từ lãi suất âm sang lãi suất dương tiến dần đến lãi suất thị trường. Sự tiến bộ
trong chính sách tín dụng chứng tỏ khả năng thích nghi của các ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế thị trường. Các ngân hàng đã cố gắng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
tăng vòng quay tiền tệ , giảm nợ quá hạn lãi ngày càng cao góp phần tăng trưởng kinh
tế hạn chế lạm phát.
Tuy nhiên trong bước đầ chuyển sang kinh tế thị trườngbên cạnh những thành tựu đã
đạt hoạt động tín dụng còn có những hạn chế nhất định đòi hỏi các ngân hàng thương
mại cần phải tiếp tục xem xét để cải tiến không ngừng chất lượng tín dụng
b. Những tồn tại
Nhìn chung nợ quá hạn đã giảm nhiều so với trước đây nhưng vẫn còn cao so với
thông lệ quốc tế. Tỷ lệ nợ quá hạn từ 16% năm 1990 giảm xuống 12,5% năm 1992 ;
9,6% năm 1993 ;4,6% năm 1994; 3,5% năm 1995; 1,87% năm 1996 ;1,72% năm 1997
tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn cao, trong số nợ quá hạn chủ yếu là nợ có khả năng thu hồi
do các ngân hàng còn nắm giữ tài sản thế chấp, có thể thanh lý để giảm tỷ lệ nợ quá
hạn .
Việc chấp hành các điều luật và thể lệ tín dụng ngắn hạn và trung hạn chưa nghiêm túc
còn vi phạm nguyên tắc đối tuợng cho vay. Một biểu hiện của hiện tượng này là cho
vay trong trường hợp vốn tự có của doanh nghiệp quá nhỏ, chênh lệch giữa vốn tự có
của doanh nghiệp và vốn vay tới hàng chục thậm chí hàng trăm lần nhất là các khoản
sản xuất. Tình hình trên cho thấy tín dụng chưa nhạy bén với cơ chế thị trường , chưa
dự tính được sự thay đổi của môi trường kinh doanh , cũng như chưa có định hướng
lâu dài với nhưng phương án dự phòng rủi ro trong khi cơ chế lại chưa ổn định dẫn tới
tín dụng chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng.
4. Một số nguyên nhân
Một trong số nguyên nhân chủ quan là do một số ngân hàng và cán bộ ngân hàng
buông lỏng quản lý , thiếu tinh thần trách nhiệm đã không kiểm tra chặt chẽ trước
trong và sau khi vay nên các đơn vị đã sử dụng sai mục đích nhưng cán bộ tín dụng
không phát hiện và ngăn chặn kịp thời dẫn đến đơn vị không trả được nợ đúng hạn.
Trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng tuy đã được quan tâm đào tạo song vẫn còn nhiều
bất cập chưa đáp ứng nhu cầu của cơ chế thị trường, chưa đủ khả năng, trình độ ,kinh
nghiệm đánh giá đúng tính hiệu quả và mức độ rủi ro của dự án, vốn cho vay nên đã
không ngăn ngừa có hiệu quả rủi ro ngay từ khi xét duyệt cho vay. Một số ít cán bộ
còn cố ý làm sai không chấp hành nghiêm chỉnh thể lệ làm phát sinh những hiện tượng
tiêu cực dãn đến bị lừa đảo, cho vay không thu hồi được nợ. Việc kiểm tra kiểm soát
các khoản tiền vay của khách hàng chủ yếu giao cho cán bộ tín dụng trực tiếp kiểm tra
thu hồi nợ , chưa có sự phối hợp giữa các bộ phận. Mặt khác trong điều kiện địa bàn
hoạt động rộng gây khó khăn trong việc theo dõi khách hàng.
Các phương tiện máy móc phục vụ nghiệp vụ và thông tin ở nhiều chi nhánh ngân
hàng còn yếu kém , chất lượng thông tin cung cấp còn chưa cao đây cũng là một trong
các nguyên nhân làm cho phân tích , nhận định khách hàng kém chính xác, các quyết
định tín dụng kém hiệu lực.
Vai trò chủ động kiểm tra , kiểm soát chưa thường xuyên , sâu sát ,nghiêm túc là một
yếu tố trựe tiếp ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Hệ thống thông tin phòng ngừa rủi
ro chưa thực sự phát huy hiệu quả. Việc phối hợp giữa các ngân hàng thương mại
trong việc cung cấp thông tin về khách hàng và việc kiểm tra cũng còn nhiều hạn chế.
Tuy đã bắt đầu bắt nhịp với kinh tế thị trường nhưng các chính sách và cơ chế quản lý
Thế chấp thể hiện mức độ an toàn của vốn tín dụng do đó nó cần được quan tâm đúng
mức khi đánh giá khách hàng. Khả năng trả nợ của khách hàng liên quan trực tiếp đến
tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ,chỉ tiêu đó thể hiện ở tỷ lệ lãi so với
tổng số vốn:
Lãi ròng sau thuế
Tỷ lệ lãi =
Vốn tự có
Tỷ lệ này phản ánh mức sinh lời trên một đồng vốn tự có là cơ sở đánh giá khả năng
tồn tại của khách hàng. Ngoài những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ngân hàng pải quan
tâm đến tình hình nợ của doanh nghiệp có bao nhiêu ngân hàng đã cung cấp tín dụng
cho doanh nghiệp ,có nợ quá hạn không, khả năng thu hồi các khoản nợ này.
2. Thiết lập và duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng
Khách hàng liên quan trực tiếp tới chất lượng tín dụng , họ vừa là người cho vay ,vừa
là người đi vay ,thiết lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng giúp ngân hàng có điều
kiện nắm vững các thông tin liên quan tới khách hàng để có đối sách thích hợp để
đứng vững trong cạnh tranh.
Ngày nay vai trò của ngân hàng trong việc trực tiếp và chủ động tìm hiểu khách hàng
đã trở nên phổ biến cùng với hiệu quả của nó đem lại với chất lượng hoạt động của
ngân hàng,do đó tầm quan trọng của Marketing ngân hàng đã thể hiện rõ.mỗi ngân
hàng cần thiết lập bộ phận tiếp thị để nghiên cứu thị trường xem xét đánh giá các mối
quan hệ với khách hàng tìm hiểu ,thăm dò khách hàng về đặc điểm ,nhu cầu khách
hàng cũng như các động cơ của khách hàng. Định kỳ phân tích đánh giá mối quan hệ
với khách hàng để tìm ra những khúc mắc và giải quyết kịp thời. Không ngừng nâng
cao và củng cố uy tín của ngân hàng trên thị trường thông qua việc cải thiện các thể
chế cho vay .
3. Tăng cường quản lý nợ ,giải quyết nợ quá hạn
Tiến hành đánh giá phân loại các khoản nợ để quản lý rủi ro tín dụng cho các khoản nợ
quỹ này cần được các nhà quản trị ngân hàng quan tâm một cách đúng đắn.
5. Đa dạng hoá các hình thức tín dụng để giảm thiểu rủi ro
Việc đa dạng hoá các loại hình tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng giảm thiểu được rủi ro,
tạo uy tín với khách hàng ,có cơ sở để mở rộng tín dụng. Nguyên tắc của vấn đề này là
khi đa dạng hoá các hình thức tín dụng sẽ giúp sử dụng tối đa nguồn vốn huy động
được các khoản tín dụng sẽ phân tán cho các khách hàng không tập trung vào một
khách hàng quá lớn để khi xảy ra rủi ro ,khả năng thu hồi vốn của ngân hàng sẽ hiệu
quả hơn do mức độ rủi ro đã dược phân tán. Do đòi hỏi của thị trường các hình thức tín
dụng không chỉ bó hẹp trong các nghiệp vụ truyền thống mà phải mở rộng các hình
thức nghiệp vụ khác như: tín dụng thue mua , nghiệp vụ thị trừng hối đoái , cầm cố
nhất là khi Việt Nam đã có thị trường chứng khoán nên các nghiệp vụ của thị trường
chứng khoán cần được thiết lập và mở rộng như ủy thác đầu tư , môi giới chứng
khoán. Tuy nhiên các phương án đưa ra phải có tính thực tiễn và có hiệu quả. Ngân
hàng nên tận dụng lợi thế của mình trong lĩnh vực tư vấn thông tin đối với khách hàng
mà điển hình là lập và thẩm định dự án đầu tư. Để thực hiện được những dịch vụ loại
này đòi hỏi ngân hàng phải thực sự là nơi sản xuất thông tin và khách hàng phải thực
sự thấy được điều đó ngoài ra ngân hàng cần có đội ngũ cán bộ có năng lực và trình độ
để làm tốt công việc này.
6. Hoàn thiện bộ máy tổ chức , công nhân viên
Cơ cấu tổ chức có hiệu quả là phải đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận
chức năng trong nội bộ của ngân hàng thương mại và điều quan trọng là phải xác định
rõ phạm vi quyền hạn trách nhiệm của từng bộ phận. Cần phải coi quản lý chất lượng
tín dụng như bất cứ một chức năng quản lý chủ yếu nào. Cán bộ cấp cao có trách
nhiệm hướng dẫn cấp dưới về những phương pháp và thủ tục phù hợp, giám sát những
nguyên nhân có thể xảy ra và có biện pháp xử lý kịp thời. Đối với nhân viên cấp dưới
không thể dạt được sự tiến bộ thực sự về chất lượng tín dụng nếu không có sự hợp tác
và cam kết đầy đủ của toàn bộ cán bộ công nhân viên. Cần bồi dưỡng tinh thần trách
nhiệm cho nhân viên bên cạnh đó có những biện pháp khen thưởng hoặc kỷ luật
nghiêm minh, giúp đỡ các nhân viên tretrong công tác chuyên môn ,là tấm gương tốt
cho họ noi theo.
Nguyên tắc cho vay có vật tư bảo đảm là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tín dụng,
nó có liên quan trực tiếp đến chất lượng tín dụng và hiệu quả của ngân hàng. Nguyên
tắc đó được thể hiện trong thực tế trong việc thế chấp của khách hàng để vay vốn.
Dưới góc độ ngân hàng khi cho vay vốn đòi hỏi các doanh nghiệp phải có thế chấp
theo mức độ tín nhiệm. Mức độ tín nhiệm được thể hiện bằng các chỉ tiêu tài chính , uy
tín trên thương trường Hiện nay các ngân hàng thương mại áp dụng các nguyên tắc
thế chấp còn chưa đầy đủ hoặc thiếu linh hoạt dẫn đến rủi ro tín dụng mất vốn hoặc
tình trạng ứ đọng vốn do không cho vay được. Sự đa dạng hoá trong các loại hình thế
chấp, sự thông thoáng trong các quy định và việc áp dụng linh hoạt sẽ đem lại hiệu
quả trong hoạt động tín dụng. Đối với các doanh nghiệp mạnh ,nổi tiếng họ luôn luôn
coi trọng chữ tín vì mất uy tín trên thị trường là mất tất cả đối với họ chữ tín còn quý
hơn tài sản vì vậy các ngân hàng cần linh hoạt trong việc thế chấp trong việc cho vay
đối với họ để việc giải phóng các khoản tiền huy động được quay vòng vốn nhưng vẫn
đảm bảo hiệu quả. Một hình thức phổ biến trong hoạt động thế chấp đó là thế chấp
bằng tài sản cố định , tài sản cố định có thể là tài sản cố định hữu hình hoặc vô hình.
Một thực tế xảy ra đối với rất nhiều ngân hàng là do trình độ còn hạn chế hoặc do việc
thiếu trách nhiệm mà trong khi đánh giá giá trị tài sản thế chấp gây tổn thất cho ngân
hàng. Việc đánh giá giá trị tài sản thế chấp cần phải tiến hành thường xuyên, không chỉ
dánh giá giá trị hiện tại mà còn đánh giá giá trị tương lai tránh tình trạng khi khách
hàng vay vốn giá trị tài sản thế chấp được ngân hàng chấp thuận nhưng khi có rủi ro
xảy ra ngân hàng xử lý bằng cách phát mại hoặc sử dụng vào mục đích khác thì do
biến động của thị trường và các yếu tố khác mà tài sản thế chấp không còn giá trị như
trước và làm ngân hàng chịu thiệt thòi.
Việc xử lý các tài sản thế chấp khi không thu hồi được các khoản nợ là một yêu cầu
bức bách. Đối với các tài sản cầm cố thế chấp mà ngân hàng đã thu để gán nợ ,xiết nợ
hướng chủ yếu là phát mại để thu hồi vốn về phục vụ kinh doanh nhưng trong từng
điều kiện nhất định khi chưa phát mại được thì phải có giải pháp khai thác sử dụng để
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn / Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ tổn thất = Tỷ lệ nợ quá hạn / Quỹ dự phòng tổn thất
Tỷ lệ cho vay thị trường = Cho vay thị trường/ Tổng tài sản có
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số cho vay / Dư nợ bình quân
11. Một số giải pháp vĩ mô.
Bên cạnh các giải pháp của chính ngân hàng thương mại được áp dụng để nâng cao
chất lượng tín dụng cũng cần phải có những biện pháp vĩ mô của nhà nước cũng như
của ngân hàng trung ương để tạo một môi trường thực sự thuận lợi cho các ngân hàng
thương mại hoạt động một cách hiệu quả.
Một giải pháp cụ thể mà các ngân hàng thương mại mong muốn là việc hoàn thiện và
tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng. Một trong những
nguyên nhân chính của những tồn tại hiện nay về chất lượng tín dụng là chưa có một
môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng. Ví dụ trong vấn đề thế chấp và cầm cố tài
sản chưa có quy định rõ những vấn đề về giấy chứng nhận về quyền sở hữu, thủ tục
chuyển giao quyền sở hữu khi giải quyết tài sản thế chấp , các vấn đề về sở hữu khi
tranh chấp ,thể chế trong quá trình kiện tụng và xét xử tịch thu tài sản thế chấp, những
điều chỉnh cơ bản về chính sách tài chính ,tiền tệ
Từng bước hoàn thiện chính sách tín dụng của nhà nước cho phù hợp với yêu cầu trình
độ phát triển của nền kinh tế để chỉ đạo hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương
mại. Trong phạm vi nghành ngân hàng nhà nước cần có các quy định cụ thể hơn
hướng dẫn thực hiện các quy định đã ban hành ,đồng thời có những quy chế kịp thời
cho những vấn đề phát sinh tránh ‘trống đánh xuôi kèn thổi ngược ‘. Việc sử dụng có
hiệu quả các công cụ quản lý tiền tệ tạo hướng và là căn cứ của nhiều hoạt động của
ngân hàng thương mại, do đó sự điều chỉnh kịp thời mang tính chất quan trọng. Những
công cụ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng cần điều chỉnh thường xuyên tuỳ
vào điều kiện thực tế là : chính sách dự trữ bắt buộc, lãi suất , hạn mức tín dụng ,chính