LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ GIẢI QUYÊT VIỆC làm CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH hà nội TRONG QUÁ TRÌNH đô THỊ hóa - Pdf 42

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH
HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ VÀ
KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về việc làm, giải quyết việc
làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội
trong quá trình đô thị hóa
1.2. Nội dung và các nhân tố tác động đến giải quyết việc làm
cho người lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa
1.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động nông
thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hoá ở một số địa
phương và bài học rút ra cho thành phố Hà Nội
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH
HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thủ đô
Hà Nội có ảnh hưởng đến giải quyết việc làm
2.2. Thành tựu và hạn chế trong giải quyết việc làm cho người lao
động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
thời gian qua
2.3. Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra về giải quyết việc
làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội
trong quá trình đô thị hóa
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG
THÔN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm giải quyết việc làm cho người lao động nông

1. Lý do chọn đề tài
Việc làm cho người lao động là vấn đề được quan tâm hàng đầu và luôn
mang tính thời sự trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia
trên thế giới. Việc làm vừa là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người
lao động, vừa là trách nhiệm của mỗi con người đối với bản thân và xã hội.
Việc làm giúp cho người lao động vươn lên làm giàu bằng chính sức lực của
mình. Đảm bảo việc làm cho người lao động không những giúp cho bản thân
người lao động có thu nhập ổn định cuộc sống mà còn làm lành mạnh hóa các
quan hệ xã hội và là một trong những yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững.
Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì vấn đề việc làm cho người
lao động là hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong tiến trình xây dựng và
phát triển đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc
tế. Hiện nay, Việt Nam với dân số trên 90 triệu người, trong đó lao động nông
nghiệp nông thôn có nguồn nhân lực dồi dào, đây cũng là thế mạnh của chúng ta,
việc quan tâm, giải quyết việc làm cho người lao động luôn là một trong những
vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Chính vì vậy, trong văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: "Giải quyết việc
làm là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển
kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức
xúc của nhân dân". Và văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
tiếp tục nhấn mạnh: “Trên cơ sở đầu tư phát triển kinh tế, phải hết sức quan tâm
tới yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động; giải quyết việc làm cho người lao động;
tạo điều kiện giải quyết ngày càng nhiều việc làm, đặc biệt là cho nông dân” [24].
Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước, là địa
phương nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh. Vì vậy, trong thời gian qua Hà Nội đã thu hút được

3




Bài viết tổng quan lại thực trạng các chính sách việc làm mà chính phủ
đưa ra để hỗ trợ công tác giải quyết việc làm cũng như những giải pháp để
hoàn thiện cơ chế chính sách trên, nhằm phát huy cao nhất hiệu quả của
những chính sách đưa ra.
GS,TS Phạm Đức Thành: Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam - Tạp
chí Kinh tế và Phát triển 2002- số 64. Trong bài viết, tác giả đã đánh giá hiện
trạng việc làm và thất nghiệp trên cơ sở đó đề ra những quan điểm và biện
pháp giải quyết việc làm cho người lao động.
TS Nguyễn Tiệp: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn: Các
giải pháp tạo thêm việc làm, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 309 (6/2004).
Trong bài viết, tác giả đề cập đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông
thôn là phù hợp với yêu cầu của quá trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Là kết quả của phát triển lực lượng sản xuất và phân công lại lao động ở nông
thôn. Đồng thời, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn còn chịu sức
ép giải quyết việc làm, tăng mức cầu lao động trên địa bàn nông thôn.
Bùi Xuân An (2005), Giải quyết việc làm ở Thái Bình: thực trạng và
giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tác giả đã phân tích thực trạng công tác giải quyết việc làm tại tỉnh
Thái Bình, từ đó đưa ra các hạn chế còn tồn tại và đề xuất các giải pháp để
giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Nguyễn Tiệp (2004), "Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn:
Các giải pháp tạo thêm việc làm", Tạp chí Lao động và Công đoàn, (309), tr 67.
Một trong những giải pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho người
lao động là tạo ra cầu lao động, trong đó giải pháp phát triển các doanh
nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao động được coi là một trong những giải pháp
thích hợp trong điều kiện kinh tế của nước ta. Bài viết đã nêu nên những
hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam và các phương thức


thị hóa yêu cầu trình độ của người lao động phải cao hơn nên vấn đề đào tạo
là cấp bách.
6


Đỗ Thế Tùng (2002), “Ảnh hưởng của quy hoạch đô thị với vấn đề giải
quyết việc làm ở Việt Nam", Tạp chí Lao động và Công đoàn, (261). Bài viết
nêu lên 1 số dự án quy hoạch đô thị tiêu biểu của nước ta, đồng thời nêu thực
trạng lao động việc làm của các vùng quy hoạch sau đô thị hóa, từ đó tác giả
đã đưa ra những ảnh hưởng của vấn đề quy hoạch đô thị tới công tác giải
quyết việc làm cho các vùng này.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
đầy đủ về việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong
quá trình đô thị hoá dưới góc độ kinh tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận của giải quyết việc làm cho người lao động
trong quá trình đô thị hoá, phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho người
lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá hiện nay và
đề xuất những quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm cho người lao
động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận và khảo sát kinh nghiệm thực tiễn về giải
quyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá
trình đô thị hóa .
- Phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động nông
thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa giai đoạn 2010 - 2014. Rút
ra nguyên nhân của hạn chế và những vấn đề đặt ra trong giải quyết việc làm
cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa.
- Đề xuất quan điểm và những giải pháp đẩy mạnh giải quyết việc làm

động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá. Qua đó cung
cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành của thành phố
tham khảo để thực hiện tốt chính sách giải quyết việc làm trong những năm
tới. Luận văn cũng là tài liệu tham khảo dùng trong giảng dạy môn Kinh tế
chính trị Mác - Lê nin trong các nhà trường Cao đẳng và Đại học.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

8


luận văn gồm 3 chương (8 tiết).

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ VÀ
KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về việc làm, giải
quyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại
thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
1.1.1. Khái niệm về việc làm và giải quyết việc làm
* Khái niệm về việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã
hội và nhân khẩu, là một trong những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời
sống xã hội. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt
động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.

(làm việc được trả công)
- Những công việc tự làm hoặc làm các công việc gia đình, được hiểu là
các công việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong gia đình để thu lợi nhuận cho
bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng
tiền hoặc hiện vật cho công việc đó (việc làm không được trả công). Trên thực
tế, phần thu nhập mà bản thân hay gia đình nhận được, phục vụ cho nhu cầu
sinh hoạt hàng ngày chính là tiền công, tiền lương mà bản thân người lao
động nhận được, hay nói cách khác, trong trường hợp này bản thân người lao
động tự trả công cho lao động của mình. Việc làm không được trả công này
khác với việc làm không được trả công khi người lao động làm việc cho tư
bản, bởi việc làm không được trả công của người lao động khi làm việc cho
nhà tư bản thì đó chính là phần lao động tạo ra giá trị thặng dư và lại bị giai
cấp tư sản chiếm đoạt.
Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, thị trường lao động
còn đang trong giai đoạn khởi phát, hình thức tìm việc và làm việc còn rất hạn
chế, do đó tỷ trọng lao động tự làm việc và làm việc cho gia đình là lớn so với
tổng số người đang làm việc, đặc biệt trong khu vực nông thôn. Trong sản

11


xuất nông nghiệp, người nông dân thường bỏ công sức để trồng lúa, hoa màu,
cây công nghiệp, chăn nuôi…phục vụ cho nhu cầu của họ. Những dạng lao
động kiểu này thường không được định giá và người lao động không được
nhận tiền lương hay thu nhập nhưng những sản phẩm bằng hiện vật mà người
lao động thu được cũng là một phần thu nhập của họ.
Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai
điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích nhưng đồng thời tạo ra thu nhập cho
người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Những hoạt động lao

công việc.
Bốn là, tính chất thành thạo của việc làm: cho biết năng lực và phẩm
chất của người lao động được thể hiện trong quá trình làm việc.
Năm là, tính chất kinh tế của việc làm: cho thấy hiệu quả kinh tế của
việc làm.
Sáu là, tính chất cơ động của việc làm: cho thấy khả năng thay đổi nghề
nghiệp và năng lực thích nghi với điều kiện làm việc mới của người lao động.
Như vậy, việc làm có nhiều tính chất khác nhau và luôn mang tính
chất động. Vì vậy người ta chia việc làm thành những phạm trù xã hội nghề nghiệp khác nhau, từ đó có sự phân biệt các loại nghề nghiệp của lao
động khác nhau. Đó là:
Việc làm chính thức: được hiểu là công việc chính mang lại thu nhập
chính (đối với những việc làm được trả công) và những thu nhập về của cải vật
chất cho bản thân và gia đình (đối với những việc làm không được trả công)
Việc làm không chính thức: được hiểu là những công việc làm thêm
ngoài làm chính. Như vậy, đối với người nông dân, việc làm chính của họ là
sản xuất nông nghiệp trong mùa vụ, còn việc làm không chính thức là việc
làm thêm trong lúc nông nhàn.
Việc làm bền vững: theo ILO, việc làm bền vững là những việc làm có
năng suất và chất lượng cho nam giới và nữ giới, trong điều kiện tự do, bình
đẳng, an toàn và nhân phẩm được tôn trọng. Việc làm bền vững bao gồm các

13


cơ hội làm việc một cách hiệu quả; có thu nhập công bằng; đảm bảo an toàn
tại nơi làm việc và bảo vệ xã hội cho người lao động cũng như gia đình họ; có
triển vọng phát triển cá nhân và khuyến khích hòa nhập xã hội; cho phép mọi
người được tự do bày tỏ những mối quan tâm của mình, được tự do tổ chức và
tham gia vào các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ; và đảm bảo cho
tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng và được đối xử bình đẳng. Như vậy,

những cơ hội sử dụng tối đa sức lao động kết hợp với tư liệu sản xuất trong
phát triển kinh tế - xã hội mang lại thu nhập hợp pháp cho người lao động,
người sử dụng lao động và cho xã hội. Ở nước ta hiện nay với chủ trương
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã và đang tạo mọi
điều kiện thuận lợi để hình thành thị trường sức lao động đa dạng và phong
phú, cả thị trường trong và ngoài nước. Người lao động được làm chủ sức lao
động của mình, tự do tìm kiếm việc làm theo năng lực của mình ở mọi lúc,
mọi nơi... Người sử dụng lao động ở các loại hình doanh nghiệp khác nhau
cũng được tự do thuê mướn lao động theo số lượng, chất lượng, theo nhu cầu
sản xuất kinh doanh mà pháp luật cho phép. Đó thực chất là quá trình đẩy
mạnh phân công lao động, tạo ra các ngành, nghề mới để nhằm thu hút lực
lượng lao động xã hội hiện đang chưa có việc làm hoặc có việc làm chưa
ổn định, thu nhập thấp.
Hai là, GQVL là quá trình tạo ra nhu cầu về việc làm để thu hút
người lao động có nhu cầu, mong muốn được làm việc có thể tìm đến. Đó
thực chất là quá trình tạo ra những điều kiện kinh tế - xã hội, các chính sách
của Nhà nước, các giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, các giải
pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao; các giải pháp về mở
rộng thị trường xuất khẩu lao động; về tiền lương, trợ cấp nghề nghiệp; về chế
độ hưu trí… GQVL còn cần phải được xem xét cả phía người lao động, người
sử dụng lao động và vai trò của Nhà nước.
Ba là, GQVL là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc, đòi hỏi phải có
sự chung sức của cả hệ thống chính trị. Trong bất cứ xã hội nào nhu cầu được có
việc làm và khả năng GQVL của xã hội và bản thân nền kinh tế luôn có sự lệch

15


pha và thông thường số lượng người muốn có việc làm hay còn gọi là cầu về
việc làm luôn lớn hơn khả năng GQVL hay cung về việc làm. Việc giải quyết



người, vấn đề bức xúc đối với nước ta hiện nay là phải tính đến đầy đủ các
yếu tố cơ bản tác động, nhất là, vấn đề an toàn việc làm, an toàn lương thực
và môi trường bền vững; trong đó an toàn việc làm, có việc làm thường
xuyên, ổn định cho người lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu.
Từ những phân tích luận giải trên, có thể quan niệm: “Giải quyết việc làm
cho người lao động là quá trình tạo ra và kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm sức
lao động, tư liệu sản xuất và các điều kiện kinh tế - xã hội khác để đảm bảo cho
người có khả năng lao động được lao động và duy trì hoạt động lao động đó”.
1.1.2. Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến việc làm
* Đô thị hóa
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá (CNH, HĐH& ĐTH) là
con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới. Trong thời đại ngày nay,
thời đại khoa học - công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, kinh tế tri thức
đang dần đi vào cuộc sống và toàn cầu hoá là một xu thế không gì có thể
cưỡng lại được thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường giúp các nước
chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước.Việt Nam đang
trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu
và bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, có
nghĩa là chúng ta đang chuyển từ một nền kinh tế tiền tư bản đi lên chủ nghĩa
xã hội, vì vậy chúng ta phải từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong đó, nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của chúng ta là phải thực hiện CNH, HĐH đất nước.
Chúng ta biết rằng, đi kèm với việc áp dụng máy móc, kỹ thuật vào
trong sản xuất sẽ làm thay đổi tính chất của quá trình sản xuất. Quá trình sản
xuất chỉ sử dụng ít lao động sống và sử dụng nhiều máy móc thay thế. Hệ quả
của việc này là dư thừa lao động: người lao động không có việc làm hoặc có
việc làm nhưng không đầy đủ. Mặt khác quá trình CNH, HĐH cũng làm xuất
hiện những ngành kinh tế mới, có thể thu hút được một số lượng lao động

của đô thị là sự phát triển các cụm kinh tế công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng
cơ sở, phát triển các cụm dân cư theo hình thức và điều kiện sống mang tính
công nghiệp, đô thị sầm uất. Đây là một xu thế tất yếu xảy ra đối với tất cả các

18


quốc gia, các thành phố lớn khi thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp
sang nền kinh tế công nghiệp từng bước tiếp cận với nền kinh tế tri thức, vì đô
thị hoá tạo ra cơ sở thúc đẩy sự phát triển phân công lao động xã hội, cơ cấu lại
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó có thủ đô Hà Nội.
Khái niệm pháp quy về đô thị hoá ở Việt Nam: Điểm dân cư được coi là
đô thị hoá phải có các tiêu chí sau đây: Là trung tâm tổng hợp hay chuyên
ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi cả nước,
một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hay
huyện; có quy mô dân số nội thị nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp
hơn); tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 60% trở lên trong tổng số lao động
của nội thị, là nơi sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hoá phát triển; có kết
cấu hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị hoá
từng phần hoặc đồng bộ; mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km2.
Đô thị hoá có hai hình thức biểu hiện chủ yếu:
Một là, đô thị hoá theo chiều rộng trong đó quá trình đô thị hoá diễn ra
tại các khu vực trước đây không phải là đô thị. Đó cũng chính là quá trình mở
rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các khu đô thị
mới, các quận, phường mới. Với hình thức này, dân số và diện tích đô thị
không ngừng gia tăng, các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và các hoạt
động của kinh tế đô thị không ngừng mở rộng; các hoạt động sản xuất kinh
doanh và điểm dân cư ngày càng tập trung. Sự hình thành các đô thị mới được
tạo ra trên cơ sở phát triển các khu công nghiệp và trung tâm công nghiệp,
thương mại, dịch vụ ở vùng nông thôn và ngoại ô là xu hướng tất yếu của sự

Đô thị hoá nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật; đó là quá
trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho các vùng nông
thôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…); Thực chất đó là
tăng trưởng đô thị theo xu hướng bền vững.
Đô thị hoá ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của
thành phố do kết quả phát triển công nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng, tạo ra
các cụm đô thị, liên đô thị, góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn.

20


Trong quá trình CNH, HĐH, sự hình thành các đô thị hiện đại có vai
trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Bên cạnh nông
thôn, đô thị là hình thái quần cư cơ bản thứ hai của xã hội loài người. Trên thế
giới, đô thị ra đời sớm nhưng chỉ thật sự phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỷ 19,
đầu thế kỷ 20 và đến nay đô thị đã trở thành một hiện tượng xã hội, một hiện
tượng kinh tế có ảnh hưởng hết sức quan trọng tới mọi lĩnh vực hoạt động của
đời sống xã hội.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Sự phát triển đô thị kích thích tăng
trưởng, phát triển của các vùng lãnh thổ xung quanh và toàn bộ nền kinh tế
thông qua quá trình phân bổ lại các cơ sở kinh tế, lan truyền tiến bộ công
nghệ, văn hoá, xã hội. Với sự phát triển của hệ thống các đô thị, nhiều nước
đã từng bước hình thành được những vùng lãnh thổ phát triển, không chỉ đảm
nhận chức năng động lực, thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã
hội đất nước mà còn đảm nhận chức năng hợp tác và hội nhập quốc tế, vừa
đảm nhận vai trò tiếp nhận thông tin, các thành tựu về phát triển khoa học,
công nghệ, kinh tế, văn hoá của thế giới rồi lan rộng ra các vùng xung quanh.
* Tác động của đô thị hóa đến giải quyết việc làm cho người lao động
nông thôn ngoại thành

thời gian tới, nông nghiệp đô thị sẽ là giải pháp và là hướng đi chiến lược cho
sự phát triển nhanh, bền vững của các đô thị trong tiến trình đô thị hóa hiện
nay của nước ta nói chung và tại các vùng ngoại thành Hà Nội nói riêng, từ đó
góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân.
Đô thị hóa còn đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng lao động tại nông
thôn. Đô thị hóa hình thành, mọc lên các khu thương mại dịch vụ lớn, cụ thể
như tại Hà Nội có các khu siêu thị như Metro, BigC…ở các huyện Từ Liêm,
Gia Lâm… các khu chế xuất, các cụm công nghiệp như ở Thanh Oai, Thường
Tín, Hoài Đức, Thạch Thất, Quốc Oai… khi đó, nền kinh tế chuyển dịch từ
nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương
mại dịch vụ…Theo đó, các công việc tại các khu đô thị đòi hỏi chất lượng lao

22


động cao hơn, không chỉ là lao động thủ công như trước, mà cần có sự học
hỏi, có nhận thức và khả năng điều khiển các máy móc, tuân thủ các quy trình
công nghệ theo yêu cầu đặt ra, có như vậy mới có thể tăng năng suất và hiệu
quả lao động, ngoài ra yêu cầu các kỹ năng như giao tiếp, ngoại ngữ, vi tính…
nhiều hơn. Theo đó, chất lượng nhân lực trong nông nghiệp vùng ngoại thành
cũng vì đó được nâng cao.
Thứ hai, đô thị hóa góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động
giữa các ngành nghề
Theo các chuyên gia thuộc trung tâm định cư của Liên hợp quốc
(Habitat), đô thị hóa là quá trình mà nhờ nó, dân số của các quốc gia, chuyển
dịch từ các nghề nghiệp nông thôn sang các nghề nghiệp đô thị, và vì thế mà
diễn ra sự chuyển dịch từ các điểm dân cư nông thôn sang các điểm dân cư đô
thị ở các quy mô khác nhau. Đô thị hóa không đơn thuần là vấn đề dân số
học, nó là vấn đề bao trùm về sự phân bố; đô thị hóa có thể được hiểu như là
sự biểu hiện của các mô hình phát triển các điểm dân cư.

tại các vùng nông thôn và cung ứng lao động cho thị trường lao động ở các
thành phố lớn, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu du lịch. Đây
là nguồn cung cấp dồi dào về lao động cho sự phát triển của các khu đô thị.
Nhưng ở khía cạnh nào đó, nó cũng trở thành sức ép do lao động giản đơn là
chủ yếu cũng như sức ép do hệ thống hạ tầng cơ sở không đáp ứng được số
lượng lao động gia tăng qúa nhanh. Từ đó dẫn đến tình trạng quá tải, gây biến
động lớn về các vấn đề kinh tế - xã hội của khu vực thành thị.
Theo tính toán hàng năm số lao động từ khu vực nông thôn, ngoại
thành chuyển sang thành người dân ở khu vực thành thị tăng giảm khoảng
0,52%, chưa kể đến số lao động nhàn rỗi di chuyển ra khu vực thành thị tìm
kiếm việc làm cũng chiếm số lượng không nhỏ.
Quá trình đô thị hóa đã tạo ra một dòng di chuyển ồ ạt dân cư ở các địa
phương ngoại thành vào Hà Nội. Dự kiến dân số Hà Nội đến 2020 là 8 triệu với
tỷ lệ đô thị hóa là 54%, 2030 lên tới 9 triệu và 70%. Tình trạng tăng vọt dân số
cơ học ở Hà Nội làm đậm thêm sự mất cân đối trong phân bố dân cư, lao động

24


trên phạm vi toàn quốc. Hà Nội phải gánh chịu áp lực quá tải rất nặng nề về dân
số, áp lực về tạo công ăn việc làm, chỗ ở cho người dân nghèo, nâng cao chất
lượng môi trường, về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Ðô thị hóa nhanh, đất nông nghiệp bị thu hồi để thực hiện các dự án
phát triển kinh tế - xã hội đang tạo sức ép với vấn đề giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn, đặc biệt là bộ phận lao động trẻ. Trong những năm qua,
để phục vụ quá trình đô thị hóa, buộc Nhà nước phải đưa ra chính sách thu
hồi đất nông nghiệp để phát triển các khu đô thị, phát triển hạ tầng cơ sở, các
khu thương mại dịch vụ, trong khi tư liệu sản xuất của nông dân là đất đai, khi
bị thu hồi đất, người dân không còn tư liệu sản xuất nữa, một số người dân
chuyển hướng sang lao động ngành khác, nhưng còn một số người dân không

Mục đích của GQVL cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà
Nội trong quá trình đô thị hóa là nhằm tạo ra nhiều việc làm bền vững cho
người lao động nông thôn dưới tác động của quá trình đô thị hóa, nhằm giúp
họ ổn định đời sống, phát triển kinh tế địa phương hay nói cách khác là làm
tăng lên số người có việc làm và giảm bớt số người lao động không có việc
làm hoặc có việc làm thiếu ổn định.
Chủ thể GQVL cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội bao
gồm: Chính bản thân người lao động phải chủ động sử dụng sức lao động của
mình để có thể tự do tìm kiếm một công việc phù hợp; Người sử dụng lao
động có thể tìm kiếm được người lao động thỏa mãn các yêu cầu của mình về
mặt số lượng và chất lượng; Nhà nước với tư cách là chủ thể lớn nhất phải
đảm bảo tạo ra môi trường thuận lợi để lao động nông thôn có thể thực hiện
quá trình lao động của họ.
Phương thức GQVL là kết hợp chặt chẽ giữa sự chủ động, tích cực của
Nhà nước thông qua quy hoạch, chiến lược, chương trình, mục tiêu quốc gia
về giải quyết việc làm với sự năng động, chủ động và tích cực của bản thân
người lao động; kết hợp giữa các giải pháp kinh tế với các giải pháp về mặt xã
hội; kết hợp giữa Nhà nước - doanh nghiệp - người lao động.
GQVL cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa tại ngoại

26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status