Luận văn
VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NGOẠI
THÀNH HÀ NỘI TRONG QUÁ TRèNH ĐÔ THỊ
HOÁ
Mục lục
hoá 129
3.3. Giải pháp để tạo việc làm cho người lao
động ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị
hoá 130
Kết luận 168
Danh mục tài liệu tham khảo 170
Phụ lục 177
Danh mục các chữ viết tắt
CNH, HĐH Công nghi
ệp hóa,
hiện đại hóa
CNKT Công nhân kỹ thuật
CNNT Công nghi
ệp nông
thôn
DNN&V Doanh nghiệp nhỏ v
à
vừa
DVVL Dịch vụ việc làm
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
ĐTH Đô thị hoá
GDP T
ổng sản phẩm quốc
nội
GQVL Giải quyết việc làm
Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả GQVL 5 năm (2001-
2005) Thành phố Hà Nội (Khu vực ngoại thành) 88
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động ngoại thành đang làm
việc chia theo nhóm ngành kinh tế 95
Bảng 2.6: Cơ cấu lao động ngoại thành chia theo
thành phần kinh tế 98
Bảng 2.7: Vốn vay của Quỹ quốc gia giải quyết
việc làm 100 1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm cho người lao động là vấn đề kinh tế-
xã hội phổ biến và luôn mang tính thời sự ở mọi quốc
gia, bởi vì đảm bảo việc làm là một trong những yếu
tố cơ bản cho sự phát triển bền vững. Đối với những
nước đang phát triển như Việt Nam thì vấn đề việc
làm cho người lao động là hết sức quan trọng và có ý
nghĩa to lớn trong tiến trình xây dựng và phát triển
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì
vậy, trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: "Giải quyết việc làm là
nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn
định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp
ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của
nhân dân".
Hà Nội là trung tâm chính trị kinh tế và văn hoá
của đất nước, là địa phương nằm trong tam giác kinh tế
Nội trong quá trỡnh đô thị hoá " làm luận văn thạc
sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có nhiều đề tài nghiên
cứu về việc làm và giải quyết việc làm. Có thể nêu
ra một số đề tài sau:
- TS Nguyễn Hữu Dũng: Giải quyết vấn đề lao động
và việc làm trong quá trình đô thị hoá công nghiệp
hoá nông nghiệp, nông thôn - Tạp chí Lao động - Xã
hội số 247 (từ 16- 30/9/2004). Tác giả đề cập đến
thực trạng về lao động và việc làm ở nông thôn trong 3
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị
hoá đồng thời đưa ra những phương hướng và giải pháp
cơ bản để giải quyết vấn đề lao động và việc làm
nông thôn.
- PGS,TS Nguyễn Sinh Cúc: Giải quyết việc làm ở
nông thôn và những vấn đề đặt ra, Tạp chí Con số và
sự kiện- 2003- số 8. Trong bài viết tác giả đã đề
cập những biến động của tính hình dân số ở nông thôn
và những xu hướng mới tạo việc làm ở nông thôn: từ
kinh tế trang trại, khôi phục và phát triển các làng
nghề nông thôn, tạo việc làm mới từ phát triển công
nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản theo hướng sản
xuất hàng hoá lớn, từ các chương trình dự án quốc
gia và quốc tế.
- TS Vũ Đình Thắng: Vấn đề việc làm cho lao động
viết, tác giả đề cập đến tình trạng lao động và việc
làm của lực lượng lao động ở các tỉnh, thành phố
cũng như ở những vùng kinh tế trọng điểm. Nó đánh
giá một cách khái quát những kết quả đã đạt được về
giải quyết việc làm cho lực lượng lao động. Trong
đó, có đề cập đến lao động ngoại thành, một bộ phận
quan trọng cấu thành lực lượng lao động chung của xã
hội.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách đầy đủ về việc làm cho người lao
động ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá
dưới góc độ kinh tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: 5
- Góp phần nghiên cứu và giải quyết một số vấn
đề về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực việc làm,
tạo việc làm cho người lao động trong quá trình đô
thị hoá.
- Phân tích về thực trạng, chỉ ra phương hướng
tạo việc làm cho lao động ngoại thành Hà Nội trong
quá trình đô thị hoá hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản để tạo việc làm
trong cho lao động ngoại thành trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ bản chất của việc làm, bản chất của tạo
việc làm, nội dung của nó và sự cần thiết phải tạo
với những chủ trương và chính sách của Nhà nước về
vấn đề lao động việc làm.
Ngoài ra luận văn còn dựa trên kết quả nghiên
cứu, đánh giá của các công trình khoa học đã được
công bố, để nghiên cứu vấn đề việc làm và tạo việc
làm ở ngoại thành Hà Nội
- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng
hợp, phương pháp logíc kết hợp với lịch sử, phương
pháp trừu tượng hoá khoa học. Ngoài ra luận văn còn
sử dụng phương pháp thống kê, so sánh…
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn, đã trình bày một số lý luận cơ bản về
việc làm và tạo việc làm, đã đề xuất những giải pháp
để đẩy mạnh tạo việc làm cho lao động ngoại thành Hà
Nội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. 7
Chương 1
Tạo việc làm cho người lao động
ngoại thành Hà nội trong quá trình đô thị hoá - một
nhu cầu bức xúc
1.1. Đô thị hoá và tác động của nó đối với vấn đề việc
làm
1.1.1. Đô thị hoá - một xu thế tất yếu trong quá
hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính
sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp
tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của
công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo
ra năng xuất lao động xã hội cao [18, tr.4].
Như vậy CNH,HĐH là một khái niệm rộng, thực hiện
CNH,HĐH trong tất cả các mặt hoạt động của đời sống
xã hội, trong đó nội dung nổi bật chính là quá trình
cải biến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sử
dụng máy móc và áp dụng kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến, hiện đại để đạt được năng suất lao động cao.
Kết quả mà quá trình này đem lại là tạo ra những
điều kiện cần thiết về vật chất - kỹ thuật về con
người và khoa học- công nghệ thúc đẩy qúa trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huy động và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế. Một vấn đề
quan trọng trong quá trình CNH,HĐH là phải làm sao
giải quyết đồng thời mối quan hệ giữa phát triển nền
sản xuất với giải quyết được các vấn đề xã hội nảy
sinh trong quá trình CNH,HĐH như vấn đề giải phóng
việc làm và các vấn đề xã hội khác.
Chúng ta biết rằng, đi kèm với việc áp dụng máy
móc, kỹ thuật vào trong sản xuất sẽ làm thay đổi 9
tính chất của quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất
chỉ sử dụng ít lao động sống và sử dụng nhiều máy
10
hoạt động trong đô thị và nâng cao tỷ lệ số dân
thành thị trong các vùng, các quốc gia cũng như trên
toàn thế giới. Đồng thời, đô thị hoá cũng là quá
trình phát triển của các thành phố lớn và phổ biến
rộng rãi lối sống thành thị trong dân cư.
Theo quan niệm trên chúng tôi cho rằng: Đô thị
hoá được hiểu đó là quá trình biến đổi, chuyển biến
về nhiều mặt kinh tế- xã hội của các khu vực trước
đây là sản xuất nông nghiệp, khu vực nông thôn để
trở thành các khu đô thị, khu chế xuất, khu công
nghiệp phục vụ cho sản xuất công nghiệp và các ngành
dịch vụ. Như vậy, ta thấy về bản chất của đô thị hoá
là sự phát triển các cụm kinh tế công nghiệp, dịch
vụ, kết cấu hạ tầng cơ sở, phát triển các cụm dân cư
theo hình thức và điều kiện sống mang tính chất công
nghiệp, đô thị sầm uất. Đây là một xu thế tất yếu
xảy ra đối với tất cả các quốc gia, các thành phố
lớn khi thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và từng bước
tiếp cận với nền kinh tế tri thức, vì đô thị hoá tạo
ra cơ sở thúc đẩy sự phát triển phân công lao động
xã hội, cơ cấu lại kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Trong đó có thủ đô Hà Nội.
Khái niệm pháp quy về đô thị hoá ở Việt Nam:
Điểm dân cư được coi là đô thị hoá phải có các tiêu
chí cơ bản sau đây:
- Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành có vai
trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong phạm
yếu của sự phát triển là nhân tố mở đường thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển. Đô thị hoá theo chiều 12
rộng là hình thức phổ biến hiện nay ở các nước đang
phát triển trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa.
Hai là, đô thị hoá theo chiều sâu, đó là quá
trình hiện đại hoá và nâng cao trình độ của các đô
thị hiện có. Mật độ dân số có thể tiếp tục tăng cao,
phương thức và các hoạt động kinh tế ngày càng đa
dạng, thực lực khoa học kỹ thuật, công nghệ ngày
càng tăng cường; hiệu quả kinh tế - xã hội cũng ngày
càng được cải thiện và nâng cao. Đô thị hoá theo
chiều sâu là quá trình thường xuyên, là yêu cầu tất
yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển. Quá
trình đó đòi hỏi các nhà quản lý đô thị và các thành
phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên vận
động và phải biết điều tiết, tận dụng tối đa những
tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả cao trên
cơ sở hiện đại hoá trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã
hội ở đô thị.
Đô thị hoá là một tiến trình rất đa dạng, trong
nó có chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện khác
nhau trong quá trình phát triển. Trên quan điểm một
vùng, đô thị hoá là quá trình hình thành, phát triển
các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.
Trên quan điểm kinh tế quốc dân, đô thị hoá là một
quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất
trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng
của đời sống kinh tế - xã hội.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân,
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
của cả nước. Sự phát triển đô thị kích thích tăng 14
trưởng, phát triển của các vùng lãnh thổ xung quanh
và toàn bộ nền kinh tế thông qua quá trình phân bố
lại các cơ sở kinh tế, lan truyền tiến bộ công nghệ,
văn hoá, xã hội. Với sự phát triển của hệ thống các
đô thị, nhiều nước đã từng bước hình thành được
những vùng lãnh thổ phát triển, không chỉ đảm nhận
chức năng động lực, thúc đẩy sự phát triển toàn bộ
kinh tế - xã hội đất nước mà còn đảm nhận chức năng
hợp tác và hội nhập quốc tế, vừa đảm nhận vai trò
tiếp nhận thông tin, các thành tựu về phát triển khoa
học, công nghệ, kinh tế, văn hoá của thế giới rồi lan
rộng ra các vùng xung quanh (Xem phụ lục 1).
Sự hình thành các đô thị có những đóng góp hết
sức quan trọng cho sự phát triển của một quốc gia:
+ Các đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra
thu nhập quốc dân, tích luỹ của nền kinh tế và nguồn
thu cho ngân sách quốc gia. Chẳng hạn chỉ tính riêng
bốn thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ
Chí Minh, Đà Nẵng năm 2004 chiếm khoảng 14% dân số,
tạo ra 36,4% GDP, 45,7% giá trị sản lượng công
nghiệp và gần 50% giá trị xuất khẩu của cả nước. Các
đô thị này đã trở thành những vùng động lực có tốc
độ tăng trưởng cao và có đóng góp quan trọng vào
so với các lãnh thổ khác, các đô thị từng bước bảo
đảm sự tiếp cận nhanh chóng, kịp thời các nguồn
thông tin, đặc biệt là thông tin kinh tế, thông tin
về thị trường… để lại tiếp tục cung cấp, chuyển tải
và phản hồi các thông tin này tạo điều kiện cho các
vùng cùng tham gia trao đổi thông tin và hoà nhập 16
vào sự phát triển của thị trường trong nước, khu vực
và quốc tế.
+ Sự phát triển các đô thị góp phần nâng cao
năng suất và chất lượng lao động cho toàn bộ nền
kinh tế. Chẳng hạn, tại các đô thị của Việt Nam đã
bước đầu hình thành đội ngũ lao động và cán bộ quản
lý có trình độ và tác phong lao động công nghiệp
hiện đại. Hầu hết lực lượng lao động có trình độ từ
cao đẳng và đại học trở lên của cả nước tập trung
tại các đô thị. Tay nghề của người lao động được
nâng cao cùng các kinh nghiệm quản trị kinh doanh…
được tiếp tục lan toả sang các lãnh thổ còn lại của
đất nước thông qua việc phát triển của các chi
nhánh, các cơ sở sản xuất kinh doanh đặt tại các địa
phương khác, góp phần từng bước nâng cao trình độ và
hiệu quả quản lý kinh doanh, nâng cao năng suất và
chất lượng lao động cho toàn bộ nền kinh tế nói
chung và các vùng kém phát triển nói riêng.
+ Với lợi thế về lực lượng và tiềm lực khoa học
kỹ thuật, sự tập trung số lượng lớn các cơ sở đào
tạo và khoa học trong đó có các trường đại học, các
động được đưa trở về các vùng nông thôn, vùng kém
phát triển để giúp đỡ gia đình xây dựng, sửa sang
nhà cửa, đường sá, phát triển kinh tế nông hộ v.v.
Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn
hoá, xã hội của mỗi quốc gia, là sản phẩm mang tính
kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ
thuật và văn hoá. Sự phát triển của các đô thị có
vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã 18
hội của cả nước. Nhiều đô thị đã và đang chuyển dần
từ chức năng hành chính thuần tuý sang cả chức năng
kinh tế, đồng thời tùy theo các cấp độ khác nhau mà
đảm nhận các chức năng trung tâm chính trị, kinh tế,
văn hoá. Tác động lan toả của các đô thị được mở
rộng cả về phạm vi không gian và biến đổi về chất.
Nhiều đô thị đã thực sự trở thành các hạt nhân động
lực cho sự phát triển của nhiều vùng.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đối với
sản xuất và đời sống con người, sự phát triển nhanh
chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây
ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên
nhiên, đến cân bằng sinh thái do tài nguyên đất bị
khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, khối lượng
khai thác và sử dụng nước sạch tăng, ô nhiễm các
chất thải công nghiệp và sinh hoạt, giảm diện tích
cây xanh và mặt nước, bùng nổ giao thông cơ giới.
Ngoài ra, sự gia tăng dòng người di dân từ nông
thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về
phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế
mở, khu công nghiệp tập trung, các trung tâm dịch vụ
lớn, cùng với nó là quá trình mở rộng các khu đô
thị, các thị trấn, thị tứ… Điều đó dẫn đến dân số
thành thị cũng sẽ tăng lên. Và như vậy, một phần lớn
lao động nông thôn làm nông nghiệp sẽ phải chuyển