ViÖc lµm cho ngêi lao ®éng ngo¹i thµnh Hµ Néi
trong qu¸ tr×nh ®« thÞ ho¸
Hµ Néi - 2006
Mục lục
Mục lục....................................................................................................i
Danh mục các chữ viết tắt......................................................iii
Danh mục các bảng........................................................................iv
Mở đầu......................................................................................................1
Ch ơng 1 ..................................................................................................... 6
Tạo việc làm cho ng ời lao động
ngoại thành Hà nội trong quá trình đô thị hoá -
một nhu cầu bức xúc ....................................................................... 6
1.1. Đô thị hoá và tác động của nó đối với vấn đề việc làm ................ 6
1.2. Tác động của quá trình đô thị hoá và sự cần thiết phải tạo việc làm
cho ng ời lao động trong quá trình đô thị hoá ở ngoại thành Hà Nội ...... 29
1.3. Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố về tạo việc làm cho ng ời
lao động (trong đó có tạo việc làm cho ng ời lao động ngoại thành) ....... 41
Ch ơng 2 ................................................................................................... 46
Thực trạng tạo việc làm
cho ng ời lao động ngoại thành Hà Nội ............................ 46
2.1. Những đặc điểm của thủ đô Hà Nội có ảnh h ởng đến tạo việc làm
................................................................................................................. 46
2.2. Thực trạng tạo việc làm cho ng ời lao động ngoại thành Hà Nội trong
thời gian qua ............................................................................................ 57
Ch ơng 3 ................................................................................................... 84
Những giải pháp cơ bản nhằm tạo việc làm
cho ng ời lao động ngoại thành Hà Nội
trong quá trình đô thị hoá ..................................................... 84
3.1. Chiến l ợc phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội với vấn đề tạo việc
làm cho ng ời lao động ngoại thành ......................................................... 84
Nội
[9, tr.122, 126, 128, 134, 138,142]...........................................................53
Bảng 2.3: Lao động đã đợc giải quyết việc làm khu
vực thành thị [13, tr.28]................................................................58
Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả GQVL 5 năm (2001- 2005)
Thành phố Hà Nội (Khu vực ngoại thành) [39, tr.2]......59
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động ngoại thành đang làm
việc chia theo nhóm ngành kinh tế [5, tr.168, 171]; [8,
tr.257, 258]; [9, tr.262, 264]..................................................................64
Bảng 2.6: Cơ cấu lao động ngoại thành chia theo
thành phần kinh tế [9, tr.286, 288]............................................66
Bảng 2.7: Vốn vay của Quỹ quốc gia giải quyết việc
làm [39, tr.5] ........................................................................................67
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm cho ngời lao động là vấn đề kinh tế- xã hội phổ biến và luôn
mang tính thời sự ở mọi quốc gia, bởi vì đảm bảo việc làm là một trong những
yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững. Đối với những nớc đang phát triển nh
Việt Nam thì vấn đề việc làm cho ngời lao động là hết sức quan trọng và có ý
nghĩa to lớn trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Chính vì vậy, trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng đã nhấn mạnh: "Giải quyết việc làm là nhân tố quyết định để phát huy nhân
tố con ngời, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện
vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân".
Hà Nội là trung tâm chính trị kinh tế và văn hoá của đất nớc, là địa phơng nằm
trong tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Vì
vậy, trong thời gian qua Hà Nội đã thu hút đợc nhiều nhà đầu t trong và ngoài nớc
tham gia vào phát triển kinh tế, tạo những bớc chuyển biến quan trọng đối với thủ đô
trên nhiều lĩnh vực trong đó có giải quyết việc làm.
Tuy nhiên, do Hà Nội đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,
gia và quốc tế.
- TS Vũ Đình Thắng: Vấn đề việc làm cho lao động ở nông thôn, Tạp chí
Kinh tế và Phát triển 2002 - số 3. Trong bài viết, tác giả đánh giá tầm quan
trọng và những kết quả đã đạt đợc về giải quyết việc làm đặc biệt là ở khu vực
nông thôn bằng cách phát triển các ngành phi nông nghiệp với phơng châm: ly
nông bất ly hơng.
- GS,TS Phạm Đức Thành: Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam - Tạp
chí Kinh tế và Phát triển 2002- số 64. Trong bài viết, tác giả đã đánh giá hiện
trạng việc làm và thất nghiệp trên cơ sở đó đề ra những quan điểm và biện pháp
giải quyết việc làm cho ngời lao động.
2
- TS Nguyễn Tiệp: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn: Các
giải pháp tạo thêm việc làm, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 309 (6/2004).
Trong bài viết, tác giả đề cập đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông
thôn là phù hợp với yêu cầu của quá trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Là kết quả của phát triển lực lợng sản xuất và phân công lại lao động ở nông
thôn. Đồng thời, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn còn chịu sức
ép giải quyết việc làm, tăng mức cầu lao động trên địa bàn nông thôn.
- TS Trơng Văn Phúc: Thực trạng lao động việc làm qua kết quả điều tra
1- 7- 2004, Tạp chí Lao động - xã hội, số 251 (16- 30/11/2004). Trong bài viết,
tác giả đề cập đến tình trạng lao động và việc làm của lực lợng lao động ở các
tỉnh, thành phố cũng nh ở những vùng kinh tế trọng điểm. Nó đánh giá một
cách khái quát những kết quả đã đạt đợc về giải quyết việc làm cho lực lợng lao
động. Trong đó, có đề cập đến lao động ngoại thành, một bộ phận quan trọng
cấu thành lực lợng lao động chung của xã hội.
Tuy nhiên, cho đến nay cha có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ
về việc làm cho ngời lao động ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá d-
ới góc độ kinh tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
làm.
Ngoài ra luận văn còn dựa trên kết quả nghiên cứu, đánh giá của các công
trình khoa học đã đợc công bố, để nghiên cứu vấn đề việc làm và tạo việc làm ở
ngoại thành Hà Nội
- Luận văn sử dụng phơng pháp phân tích và tổng hợp, phơng pháp logíc
kết hợp với lịch sử, phơng pháp trừu tợng hoá khoa học. Ngoài ra luận văn còn
sử dụng phơng pháp thống kê, so sánh
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn, đã trình bày một số lý luận cơ bản về việc làm và tạo việc làm,
đã đề xuất những giải pháp để đẩy mạnh tạo việc làm cho lao động ngoại thành
Hà Nội.
4
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chơng, 8 tiết.
5
Chơng 1
Tạo việc làm cho ngời lao động
ngoại thành Hà nội trong quá trình đô thị hoá - một
nhu cầu bức xúc
1.1. Đô thị hoá và tác động của nó đối với vấn đề việc làm
1.1.1. Đô thị hoá - một xu thế tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa
1.1.1.1. Tính tất yếu, nội dung và tác động của quá trình đô thị hoá
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá (CNH, HĐH& ĐTH) là con
đờng phát triển của mọi quốc gia trên thế giới. Trong thời đại ngày nay, thời đại
khoa học- công nghệ phát triển nhanh nh vũ bão, kinh tế tri thức đang dần đi
vào cuộc sống và toàn cầu hoá là một xu thế không gì có thể cỡng lại đợc thì
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đờng giúp các nớc chậm phát triển rút
ngắn thời gian so với các nớc đi trớc.Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ đi lên
kinh tế mới, có thể thu hút đợc một số lợng lao động nhất định. Nhng nhìn
chung, tình hình ngời lao động không có việc làm vẫn tăng nhanh hơn tỷ lệ ngời
lao động tìm đợc việc làm.
Nh vậy CNH,HĐH sẽ dẫn đến sự thay đổi to lớn về nhiều mặt. Về mặt
kinh tế, CNH, HĐH làm thay đổi phơng thức sản xuất và cơ cấu nền kinh tế,
làm cho nền kinh tế có một bớc phát triển mới về chất, đó là nền kinh tế dựa
trên nền đại công nghiệp và dịch vụ chất lợng cao. Về mặt xã hội, đó là quá
trình đô thị hoá. Trong nền kinh tế hiện đại, đô thị hoá không chỉ đơn thuần là
sự hình thành các đô thị mới mà đó là một nấc thang tiến hoá vợt bậc của xã hội
với một trình độ văn minh mới, một phơng thức hoạt động mới. Đó là cách thức
tổ chức, bố trí lực lợng sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế. Có nhiều quan niệm
khác nhau về đô thị hoá: Đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố lại lực l-
ợng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân c, hình thành, phát triển
các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị
theo chiều rộng và theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ
7
thuật và tăng quy mô dân số ở các đô thị. Đó là quá trình tập trung, tăng c-
ờng, phân hoá các hoạt động trong đô thị và nâng cao tỷ lệ số dân thành thị
trong các vùng, các quốc gia cũng nh trên toàn thế giới. Đồng thời, đô thị hoá
cũng là quá trình phát triển của các thành phố lớn và phổ biến rộng rãi lối
sống thành thị trong dân c.
Theo quan niệm trên chúng tôi cho rằng: Đô thị hoá đợc hiểu đó là quá
trình biến đổi, chuyển biến về nhiều mặt kinh tế- xã hội của các khu vực trớc
đây là sản xuất nông nghiệp, khu vực nông thôn để trở thành các khu đô thị,
khu chế xuất, khu công nghiệp phục vụ cho sản xuất công nghiệp và các
ngành dịch vụ. Nh vậy, ta thấy về bản chất của đô thị hoá là sự phát triển các
cụm kinh tế công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng cơ sở, phát triển các cụm dân
c theo hình thức và điều kiện sống mang tính chất công nghiệp, đô thị sầm uất.
Đây là một xu thế tất yếu xảy ra đối với tất cả các quốc gia, các thành phố lớn
khi thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công
hóa.
Hai là, đô thị hoá theo chiều sâu, đó là quá trình hiện đại hoá và nâng cao
trình độ của các đô thị hiện có. Mật độ dân số có thể tiếp tục tăng cao, phơng
thức và các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, thực lực khoa học kỹ thuật,
công nghệ ngày càng tăng cờng; hiệu quả kinh tế - xã hội cũng ngày càng đợc
cải thiện và nâng cao. Đô thị hoá theo chiều sâu là quá trình thờng xuyên, là
yêu cầu tất yếu của quá trình tăng trởng và phát triển. Quá trình đó đòi hỏi các
nhà quản lý đô thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thờng xuyên
vận động và phải biết điều tiết, tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt
động có hiệu quả cao trên cơ sở hiện đại hoá trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội ở
đô thị.
Đô thị hoá là một tiến trình rất đa dạng, trong nó có chứa đựng nhiều hiện
tợng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển. Trên quan điểm một
vùng, đô thị hoá là quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện
sống theo kiểu đô thị. Trên quan điểm kinh tế quốc dân, đô thị hoá là một quá
trình biến đổi về phân bố các lực lợng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố
9
trí dân c những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô
thị hiện có theo chiều sâu. Đô thị hoá là quá độ từ hình thức sống nông thôn lên
hình thức sống đô thị của các nhóm dân c, gắn liền với những biến đổi sâu sắc
về kinh tế - xã hội của và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao
thông vận tải, xây dựng, dịch vụ.v.v.. Do vậy, đô thị hoá gắn liền với sự phát
triển kinh tế - xã hội. Đô thị hoá nông thôn là xu hớng bền vững có tính quy
luật; đó là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho các
vùng nông thôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt ); Thực
chất đó là tăng trởng đô thị theo xu hớng bền vững. Đô thị hoá ngoại vi là quá
trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của thành phố do kết quả phát triển công
nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng, tạo ra các cụm đô thị, liên đô thị, góp phần
đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn.
Trong quá trình CNH, HĐH sự hình thành các đô thị hiện đại có vai trò
nhu cầu của nhiều vùng trong nớc và nguồn hàng cho xuất khẩu. Số liệu sau đây cho
thấy rõ vai trò của bốn đô thị lớn nhất ở Việt Nam ( Xem phụ lục 2).
+ Các đô thị lớn thực sự là các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa
học kỹ thuật, thơng mại của các vùng và cả nớc là những đầu tàu trong nhiều
lĩnh vực, đặc biệt là hợp tác và giao lu quốc tế. Các hoạt động dịch vụ quan
trọng nh xuất nhập khẩu, tài chính, tiền tệ, vận tải, du lịch, khoa học công nghệ
từ các đô thị lớn bắt đầu có sức lan toả và thúc đẩy sự phát triển chung của các
lãnh thổ trên phạm vi cả nớc.
+ Các đô thị có u thế về nhân lực đợc đào tạo chất lợng cao, có khả năng
nhanh chóng tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, trên cơ sở đó tạo ra các công
nghệ và các trang thiết bị hiện đại không chỉ phục vụ cho sự phát triển của bản
thân đô thị mà còn đáp ứng cho nhu cầu của các vùng lãnh thổ khác trên toàn
quốc.
+ Với những u thế về hệ thống kết cấu hạ tầng so với các lãnh thổ khác,
các đô thị từng bớc bảo đảm sự tiếp cận nhanh chóng, kịp thời các nguồn thông
tin, đặc biệt là thông tin kinh tế, thông tin về thị trờng để lại tiếp tục cung
11
cấp, chuyển tải và phản hồi các thông tin này tạo điều kiện cho các vùng cùng
tham gia trao đổi thông tin và hoà nhập vào sự phát triển của thị trờng trong n-
ớc, khu vực và quốc tế.
+ Sự phát triển các đô thị góp phần nâng cao năng suất và chất lợng lao
động cho toàn bộ nền kinh tế. Chẳng hạn, tại các đô thị của Việt Nam đã bớc
đầu hình thành đội ngũ lao động và cán bộ quản lý có trình độ và tác phong lao
động công nghiệp hiện đại. Hầu hết lực lợng lao động có trình độ từ cao đẳng
và đại học trở lên của cả nớc tập trung tại các đô thị. Tay nghề của ngời lao
động đợc nâng cao cùng các kinh nghiệm quản trị kinh doanh đ ợc tiếp tục lan
toả sang các lãnh thổ còn lại của đất nớc thông qua việc phát triển của các chi
nhánh, các cơ sở sản xuất kinh doanh đặt tại các địa phơng khác, góp phần từng
bớc nâng cao trình độ và hiệu quả quản lý kinh doanh, nâng cao năng suất và
chất lợng lao động cho toàn bộ nền kinh tế nói chung và các vùng kém phát
Tác động lan toả của các đô thị đợc mở rộng cả về phạm vi không gian và biến
đổi về chất. Nhiều đô thị đã thực sự trở thành các hạt nhân động lực cho sự phát
triển của nhiều vùng.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con
ngời, sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây
ảnh hởng đáng kể đến môi trờng và tài nguyên thiên nhiên, đến cân bằng sinh
thái do tài nguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, khối lợng khai
thác và sử dụng nớc sạch tăng, ô nhiễm các chất thải công nghiệp và sinh hoạt,
giảm diện tích cây xanh và mặt nớc, bùng nổ giao thông cơ giới.
Ngoài ra, sự gia tăng dòng ngời di dân từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên
những áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trờng, hình thành các khu nhà ổ
chuột và khu nghèo đô thị, gây nên những khó khăn cho công tác quản lý đô
thị do sự phức tạp về mặt tổ chức đời sống và sản xuất v.v Do đó, khi quy
hoạch đô thị, cần phải tính đến các biện pháp ngăn chặn và hạn chế những hiện
tợng không có lợi đó.
13
1.1.1.2. Đô thị hoá trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam nói chung và Hà Nội nói riêng
Đối với nớc ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống muốn trở
thành nớc có nền công nghiệp hiện đại thì phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc và đó là con đờng để sớm đa nớc ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Cũng nh ở nhiều n-
ớc khác công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nớc ta cũng tất yếu kéo theo quá trình
đô thị hoá. Tốc độ công nghiệp hoá càng nhanh trình độ đô thị hoá sẽ càng cao.
Đô thị hoá là hệ quả tất yếu của CNH, HĐH. Đô thị hoá và sự hình thành các đô
thị hiện đại là một trong những chỉ tiêu cơ bản phản ánh trình độ CNH, HĐH.
Về thực chất CNH, HĐH và đô thị hoá là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo
hớng phát triển mạnh khu vực công nghiệp, dịch vụ và chuyển dịch cơ cấu lao
động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, tăng nhanh lao động làm công nghiệp
và dịch vụ, giảm mạnh lao động làm nông nghiệp. CNH diễn ra đồng thời với
tạo nghề. Năm 2002 tỷ lệ công nhân kỹ thuật, cao đẳng, đại học trở lên ở khu
vực nông thôn chỉ chiếm 5,74%, nếu kể từ những ngời có chứng chỉ nghề trở lên
là 11,95%. Nguồn nhân lực trình độ thấp trở thành lực cản cho việc thúc đẩy sự
phát triển các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ có năng suất cao cũng nh các
nghề truyền thống nhằm tạo việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình đô
thị hoá.
Để có thể hình thành những nhà máy, xởng chế biến, sản xuất, hạ tầng đô thị
đòi hỏi phải hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất với diện tích lớn tới vài
trăm hécta, điều này khiến cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp. Việc hình
thành các khu đô thị lớn, phát triển các trung tâm dịch vụ lớn sẽ ảnh hởng rất nhiều
mặt đến đời sống của ngời dân ở khu vực ngoại thành, nhất là khi những ngời lao
động ở khu vực ngoại thành chủ yếu dựa vào ruộng đất để sản xuất. Khi t liệu sản
xuất là ruộng đất không còn thì có sự tách rời giữa t liệu sản xuất và sức lao động,
sẽ có một bộ phận dân c trớc đây sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp nay chuyển
sang làm ngành, nghề khác khiến cho tỷ trọng và lao động trong ngành công
15
nghiệp, dịch vụ tăng dần còn tỷ trọng và lao động trong ngành nông nghiệp ngày
càng giảm đi. Nhiều vấn đề kinh tế- xã hội sẽ nảy sinh, trong đó nóng bỏng nhất là
vấn đề phải làm sao tạo đợc nhiều việc làm nông dân mất đất. Theo nhiều kết quả
nghiên cứu, ở những nơi thu hồi đất thì trung bình mỗi hộ có 1,5 lao động rơi vào
tình trạng không có việc làm và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao
động mất việc làm. Theo số liệu của Bộ Tài nguyên - Môi trờng, giai đoạn 2000-
2004 diện tích đất nông nghiệp đã đợc chuyển đổi mục đích sử dụng là gần
157.000 ha và có tới 20,41 vạn lao động nông nghiệp phải chuyển đổi nghề
nghiệp, nhiều ngời trong số đó hiện nay cha có việc làm [52, tr. 41, 42]
1.1.2. Tác động của đô thị hoá đối với việc làm cho ngời lao động ở
ngoại thành nói chung (trong đó có ngoại thành Hà Nội)
Việc đô thị hoá tác động trên các mặt sau đây:
1.1.2.1. Tác động đến cung về sức lao động
Cung về lao động biểu hiện khối lợng lao động sống (số lợng, chất lợng
854,4 ha với 20.000 lao động bị mất việc [52, tr. 42].
Trong thời gian 13 năm, từ năm 1990 đến năm 2003 Nhà nớc ta đã thu hồi
697.410 ha đất phục vụ cho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Đặc biệt, ở một số tỉnh có tốc độ đô thị
hoá nhanh là: Lào Cai, Hà Nội, Hải Dơng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hng Yên, Đà
Nẵng, Hà Tây, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hoà, Lâm Đồng, Bình
Dơng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Long An, Đồng
Tháp và Cần Thơ. Trong giai đoạn 2001- 2005, các địa phơng này đã thu hồi
44.720 ha mà chủ yếu là đất nông nghiệp [52, tr.31, 32, 33].
Hai là, do quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong quá trình CNH,HĐH
theo hớng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ nên tỷ trọng về cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế cũng biến đổi.
Những ngời trớc đây sống dựa vào nguồn thu nhập từ nông nghiệp thì nay
không còn hoặc bị giảm sút về thu nhập . Muốn nuôi sống đợc bản thân phải
tìm việc làm. Cung lao động vì thế cũng tăng lên. Theo thống kê lao động nông
17
nghiệp đã giảm từ 62,6% năm 2000 xuống còn 56,8% năm 2005, trong khi lao
động công nghiệp và xây dựng tăng từ 13,10% lên 17,9% còn lao động dịch vụ
tăng tơng ứng từ 24,30% lên 25.3% . Đô thị hoá thúc đẩy chuyển dịch lao động
nông thôn sang làm các công việc phi nông nghiệp với các hoạt động rất đa
dạng tại các vùng trung tâm, thị trấn, thị tứ, các vùng nông thôn ven các thành
phố, thị xã hình thành thị trờng lao động khá sôi động.
Ba là, khu vực ngoại thành thờng là khu vực có tỷ lệ gia tăng dân số cao,
lực lợng lao động trẻ nhiều, do đó cũng tác động đến cung lao động trên thị tr-
ờng. Một số lợng lớn lao động bớc vào độ tuổi lao động thiếu việc làm đã tham
gia vào thị trờng lao động. Năm 2005, quy mô lực lợng lao động ở khu vực
nông thôn, ngoại thành là 33.313.874 ngời chiếm 75,06%, trong số đó lực lợng
lao động trẻ chiếm tỷ lệ lớn. Đặc biệt, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ từ 15-
24 tuổi chiếm 13,44% và cao gấp 2,5 lần tỷ lệ thất nghiệp chung [2, tr.5].
Bốn là, theo kết quả của cuộc Điều tra lao động và việc làm đợc công bố
một thời điểm nhất định, thể hiện qua số lợng những chỗ làm việc trống và chỗ
làm viịc mới.
Cầu tiềm năng về lao động: là nhu cầu về lao động cho tổng số chỗ làm
việc có thể có đợc, sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hởng đến khả năng tạo
việc làm trong tơng lai nh vốn, đất đai, t liệu sản xuất, công nghệ và cả những
điều kiện khác nh chính trị, xã hội v.v..
Cầu về lao động bao gồm hai mặt:
Thứ nhất, là cầu về chất lợng lao động.
Thứ hai, là cầu về số lợng lao động.
Xét từ góc độ số lợng, trong điều kiện năng suất lao động không biến
đổi cầu về sức lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc độ sản xuất.
Nếu quy mô sản xuất không đổi, cầu về sức lao động tỷ lệ nghịch với năng
suất lao động.
19