Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC ....................................................................................................................1
Lời mở đầu....................................................................................................................3
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ THỊ VÀ GIA TĂNG DÂN SỐ ĐÔ THỊ TRONG QUÁ
TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ...................................................................................................5
I.Những khái niệm cơ bản về đô thị và đô thị hoá....................................................5
1. Khái niệm đô thị và những đặc trưng của đô thị.............................................5
1.1. Khái niệm đô thị........................................................................................5
1.2. Phân loại đô thị..........................................................................................6
2. Đô thị hóa và những đặc điểm của quá trình đô thị hóa.................................6
2.1. Khái niệm đô thị hóa................................................................................6
2.2. Những đặc điểm của đô thị hóa................................................................7
II. Tổng quát về dân số đô thị..................................................................................8
1. Khái niệm dân số, dân số đô thị......................................................................8
2. Quy mô và cơ cấu dân số................................................................................8
2.1. Quy mô dân số và các chỉ tiêu liên quan đến quy mô dân số...................8
2.2. Cơ cấu dân số..........................................................................................9
3. Sự biến động dân số.......................................................................................9
3.1. Biến động tự nhiên...................................................................................9
3.2. Biến động cơ học...................................................................................10
III. Sự gia tăng dân số đô thị.................................................................................12
IV. Ảnh hưởng xã hội của sự gia tăng dân số ở đô thị............................................13
1. Ảnh hưởng đến giáo dục và y tế...................................................................13
1.1. Ảnh hưởng của gia tăng dân số đến giáo dục........................................13
1.2. Ảnh hưởng của gia tăng dân số đến y tế...............................................14
2. Ảnh hưởng của gia tăng dân số đến môi trường...........................................15
3. Ảnh hưởng của gia tăng dân số đến nhà ở đô thị..........................................16
4. Ảnh hưởng của gia tăng dân số đến nghèo đói và thất nghiệp đô thị...........16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân số là yếu tố cốt lõi của mọi quá trình phát triển của một đất nước nói chung,
hay một đô thị nói riêng. Theo xu hướng phát triển của đất nước, các đô thị sẽ phát
triển và mở rộng, xu hướng đô thị hoá cũng diễn ra mạnh mẽ, kéo theo hệ quả tất yếu
là sự gia tăng dân số. Khi đó việc nhận thức những ảnh hưởng từ sự gia tăng dân số
tới phát triển kinh tế xã hội của đô thị là điều rất cần thiết, vì dân số là yếu tố gây ảnh
hưởng đến rất nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội của đô thị và cũng chính người dân là đối
tượng được hưởng hoặc gánh chịu những kết quả hay hậu quả từ sự ảnh hưởng đó.
Hiện nay, quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta. Đặc biệt là ở các
đô thị lớn như Hà Nội, vấn đề dân số đang là vấn đề được quan tâm vì sức ép của nó
lên các ngành kinh tế và các vấn đề xã hội của Hà Nội là không nhỏ. Dân số Hà Nội
gần đây lại gia tăng do rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, vì thế việc
nghiên cứu những ảnh hưởng từ sự gia tăng đó sẽ giúp chúng ta có nhận thức đầy đủ
về những gì mà người dân và chính quyền thủ đô đang phải đối mặt, từ đó đề ra biện
pháp nhằm giảm những ảnh hưởng tiêu cực do sức ép dân số gây nên, đảm bảo cho
người dân có được chất lượng cuộc sống tốt hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận có liên quan đến đô thị, sự gia tăng dân số ở
đô thị và những ảnh hưởng xã hội của việc gia tăng dân số đến đô thị. Phân tích đánh
giá thực trạng ảnh hưởng xã hội của sự gia tăng dân số đến Hà Nội thông qua các vấn
đề về môi trường, y tế, giáo dục, nhà ở, việc làm và thất nghiệp. Đưa ra giải pháp
nhằm điều chỉnh dân số Hà Nội hợp lý và hạn chế những ảnh hưởng xấu do sự gia
tăng dân số gây ra.
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống: Phương pháp phân
tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp các thông tin từ các tài liệu có liên quan đến vấn đề
gia tăng dân số ở đô thị và những ảnh hưởng xã hội của việc gia tăng dân số đô thị
Kế thừa các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến chuyên đề. Thu
thập, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề gia tăng dân số
Đô thị là không gian cư trú tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động
phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm
chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một
miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh huyện.
Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự khác biệt về trình độ kinh tế xã hội và
hệ thống dân cư của mỗi quốc gia . Mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và
khả năng quản lí của mình. Song phần nhiều đều thống nhất lấy 2 tiêu chuẩn cơ bản:
− Quy mô và mật độ dân số: quy mô trên 2000 người sống tập trung, mật độ trên
3000 người/km2. Đây là những chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của một
đô thị được xác định trên cơ sở dân số nội thị và diện tích xây dựng trong giới hạn
nội thị của đô thị.
− Cơ cấu lao động: trên 60% lao động là lao động phi nông nghiệp
Hiện nay người ta bổ sung thêm một tiêu chuẩn nữa là cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô
thị: là đô thị, cơ sở hạ tầng có thể đồng bộ, hoàn chỉnh hoặc chưa đồng bộ, chưa hoàn
chỉnh nhưng phải có một quy hoạch chung cho tương lai. Yếu tố này phản ánh trình
độ phát triển, mức tiện nghi sinh hoạt của người dân đô thị và được xác định theo
những chỉ tiêu cở bản như: chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt, chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt,
mật độ đường phố, đặc điểm giao thông, tầng cao trung bình…
So với các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam quy định đô thị là những thành
phố, thị xã, thị trấn,thị tứ với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn nhưng cơ cấu lao
động phi nông nghiệp thấp hơn. Điều đó xuất phát từ đặc điểm của nước ta là một
nước đông dân , đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp lên chủ nghĩa xã hội …
và cũng thể hiện sự nhân thức đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất trong điều kiện cụ thể của nước ta.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2. Phân loại đô thị
Đô thị được phân loại theo nhiều khía cạnh khác nhau tùy theo các mục đích
nghiên cứu. Các tiêu thức thường được sử dụng để phân loại là quy mô dân số, cơ
cấu lao động, chức năng hoạt động, tính chất hành chính, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ
tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, nâng cao trình độ cơ sở hạ tầng kĩ
thuật, tăng vai trò thúc đẩy trong khu vực. Điểm nổi bật của vấn đề chính là sự đô thị
hóa ngoại vi, đó là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của thành phố do kết quả
phát triển của công nghiệp, cơ sở hạ tầng, tạo ra các cụm đô thị, liên đô thị góp phần
đô thị hóa nông thôn.
2.2. Những đặc điểm của đô thị hóa
Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số lượng,
nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các hệ thống đô thị .
Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế xã hội của đô thị và nông
thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng dịch vụ…do vậy
đô thị hóa gắn liền với chế độ kinh tế xã hội
Ở các nước phát triển, đô thị hóa đặc trưng cho sự phát triển của các nhân tố
chiều sâu( điều tiết và khai thác tối đa các lợi ích, hạn chế bất lợi của quá trình đô thị
hóa). Đô thị hóa nâng cao điều kiện sống và làm việc, nâng cao dân chủ và công bằng
xã hội, rút ngắn khoảng cách thành thị và nông thôn.
Ở các nước đang phát triển, đô thị hóa tượng trưng cho sự bùng nổ về dân số và
sự phát triển công nghiệp. Cùng với sự yếu kém của công tác quản lí đô thị thì đô thị
hóa ở các nước đang hoặc kém phát triển là sự gia tăng dân số không dựa trên cơ sở
phát triển kinh tế. Những vấn đề đô thị như giao thông, môi trường nảy sinh và không
thể giải quyết một sớm một chiều. Mâu thuẩn giữa thành thị và nông thôn trở nên sâu
sắc hơn do sự mất cân đối, do độc quyền kinh tế…
Qúa trình đô thị hóa trên thế giới bắt đầu từ cách mạng thủ công nghiệp, sau đó là
cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp đã tập trung hóa lực lượng sản
xuất ở mức độ cao hơn dẫn đến hình thành đô thị mới, mở rộng quy mô đô thị cũ.
Ngày nay với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mà tượng trưng cho nó là những cỗ
máy tính vi và những siêu xa lộ thông tin, điện thoại di động… thì đô thị hóa có tiền
đề vững chắc hơn và tốc độ đô thị hóa đã và sẽ mạnh hơn bao giờ hết.
Như vậy, về bản chất, đô thị hóa là quá trình phát triển lực lượng sản xuất và sự
đổi mới về quan hệ sản xuất mà nguồn gốc là sự phát triển khoa học kỹ thuật.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là hết sức cần thiết trong tính toán phân tích, so sánh các chỉ tiêu kinh tế xã hội nhằm
lý giải nguyên nhân của tình hình và hoạch định chiến lược phát triển. Quy mô dân số
là đại lượng không thể thiếu trong việc xác định các thước đo chủ yếu như mức sinh,
chết, di dân…
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Người ta không chỉ dừng lại ở việc tính quy mô dân số trong một thời điểm nhất
đinh, mà còn sử dụng các chỉ tiêu khác như dân số trung bình và mật độ dân số. Chỉ
tiêu dân số trung bình được tính toán trong một khoảng thời gian xác đinh, cho ta biết
số dân trung bình sinh sống trong cả một thời kỳ nào đó tại một khu vực nhất định.
Mật độ dân số biểu thị số dân trên một đơn vị diện tích ( thông thường là số người
trên 1 km2 ). Thông qua chỉ tiêu này, người ta có thể nhận biết đặc điểm phân bố dân
cư của từng vùng, vùng này đông dân hay vùng kia thưa dân, và so sánh mức độ dân
số sinh sống đông đúc hay thưa thớt giữa các vùng với nhau.
2.2. Cơ cấu dân số
Sự phân chia toàn bộ dân số thành các bộ phân khác nhau theo các tiêu thức khác
nhau tạo nên cơ cấu dân số. Các đặc trưng chủ yếu được dùng để phân chia là: độ
tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, trình độ văn hóa, mức sống…Với cách tiếp cận như
vậy sẽ có nhiều cơ cấu dân số ứng với mỗi đặc trưng, trong đó cơ cấu tuổi và giới
tính của dân số là những cơ cấu dân số nền tảng và được sử dụng nhiều trong phân
tích dân số học cũng như các vấn đề khác có liên quan.
Thông thương, người ta phân chia toàn bộ dân số theo từng độ tuổi (một năm),
hoặc nhóm tuổi ( thông thường là các nhóm tuổi 5 năm, 10 năm ) và các khoảng tuổi
lớn hơn ( dưới tuổi lao động từ 0 đến 15 tuổi, trong tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi,
và trên tuổi lao động từ 60 tuổi trở lên..) hoặc khoảng tuổi có khả năng sinh đẻ ( 15
đến 60 tuổi) và không có khả năng sinh đẻ…
Cơ cấu tuổi, giới tính chịu ảnh hưởng của các yếu tố sinh chết, đi, đến. Nếu một
dân số có mức sinh cao và suy trì trong thời gian dài thì cơ cấu tuổi của dân số thuộc
mô hình trẻ. Ngược lại, nếu mức sinh thấp liên tục trong nhiều năm thì dân số xuất
hiện quá trình “ già hóa”. Khác với sinh chết là các yếu tố ảnh hưởng lâu dài, di dân
Khác với biến động tự nhiên, biến động cơ học phản ánh sự thay đổi dân số về
mặt không gian, lãnh thổ, đó chính là quá trình di dân, một quá trình có mối quan hệ
chặt chẽ với quá trình đô thị hóa
Khái niệm về di dân
Trong cuộc sống, con người di cư bởi nhiều nguyên nhân với nhiều mục đích
khác nhau, với khoảng cách xa gần khác nhau và các thời điểm khác nhau. Qúa trình
này chịu sự tác động bởi nhiều nhân tố kinh tế xã hội, bởi vậy nó chứa đựng bản chất
kinh tế xã hội sâu sắc. Đây là điểm mấu chốt phân biệt hai bộ phận biến động dân số
nêu trên.
Không phải mọi sự di chuyển của con người đều được coi là di dân. Trước hết
người ta phân biệt di dân với các hình thức di chuyển thông thường hàng ngày như:
dời khỏi nhà để đi học, đi làm, đi chơi, đi tham quan du lịch… Nhưng trong thực tế
có nhiều hình thức di chuyển như đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, công tác biệt
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phái xa nhà, di chuyển làm việc theo thời vụ, chuyển cư do hôn nhân của phụ nữ theo
các khoảng cách đủ xa nhất định, với những mục tiêu nghiên cứu đặc biệt, lại được
coi là di dân. Việc đưa ra một định nghĩa di dân có ý nghĩa làm sáng tỏ thêm nội dung
và các hình thức di dân.
Di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời
gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên. Hiểu về
di dân theo cách tiếp cận trên đây là dựa vào các đặc điểm chủ yếu sau:
Một là, con người di chuyển khỏi địa dư nào đó đến một địa điểm nào đó, với một
khoảng cách nhất định. Nơi đi (nơi xuất cư) và nơi đến ( nơi nhập cư) phải được xác
định, có thể là vùng lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính. Khoảng cách giữa hai điểm là
độ dài di cư.
Hai là, con người khi di cư bao giờ cũng với mục đích nhất định, họ đến nơi đó và
ở lại trong một khoảng thời gian nhất định. Nơi đi là nơi ở thường xuyên được quy
định theo hình thức đăng kí hộ khẩu hoặc đăng kí dân sự xác định của cấp quản lí
hành chính có thẩm quyền và nơi đến là nơi ở mới. Tính chất cư trú là điều kiện để
tố quan trọng làm nên sự khác biệt đó trình độ học vấn ở thành thị cao hơn nông thôn,
giao thông và thông tin liên lạc thuận tiện và hiệu quả hơn, chất lượng dịch vụ và
phúc lợi xã hội tốt hơn, địa bàn thành thị có nhiều khả năng kiếm việc làm hơn và thu
nhập cũng cao hơn…. Vì thế, người dân tìm mọi cách để có thể nhập cư vào đô thị
hình thành nên dòng dịch chuyển vào đô thị, chính dòng này đã gây nên sự gia tăng
dân số với tốc độ nhanh chóng ở các đô thị ở các nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam.
Khi đem so sánh tỉ lệ sinh của nông thôn so với thành thị ở các nước đang phát
triển, mặc dù tỉ lệ sinh ở nông thôn cao hơn rất nhiều so với ở thành thị, nhưng tỷ lệ
gia tăng dân số nông thôn lại thấp hơn nhiều so với thành thị. Đây không phải là điều
khó hiểu, vì các nước đang phát triển đều đang ở trong giai đoạn công nghiệp hóa
mạnh mẽ và quá trình đô thị hóa cũng diễn ra với tốc độ nhanh chóng, vì thế dân số ở
nông thôn luôn bị hút về phía các thành thị, kết quả là dân số đô thị tăng.
Thành tố thứ hai của quá trình tăng dân số đô thị là sự gia tăng tự nhiên bởi chính
dân thành thị, tuy không đóng góp phần nhiều cho sự gia tăng dân số đô thị bằng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nguồn dân nhập cư. Nhìn chung tỷ lệ tăng tự nhiên trung bình năm của dân số thành
thị tuy vẫn còn cao ở các nước đang phát triển nhưng lại thấp hơn của dân số nông
thôn. Sự gia tăng này của dân thành thị về mặt số lượng chất lượng có thể không đáp
ứng được nhu cầu phát triển nói chung, đặc biệt là nhu cầu lao động, chính vì thế một
lần nữa lại dẫn đến quá trình di dân từ nông thôn vào thành thị để cung cấp đủ số lao
động cần thiết cho đô thị
Thành tố thứ ba của quá trình tăng dân số đô thị là sự mở rộng về địa giới hành
chính. Các đô thị phát triển đến một mức nào đó khi dân số tăng quá mức sẽ tạo sức
ép buộc phải mở rộng địa giới hành chính, trước hết là mở rộng hoặc thành lập mới
các đơn vị hành chính nội thành như quận, phường, phát triển thêm các thị trấn, các
thành phố vệ tinh, các vùng ven đô thị. Việc mở rộng địa giới hành chính này nhằm
làm giảm sức ép dân cư quá tải lên đô thị cũ( nơi có mật độ dân số quá cao ), giãn
dân ra khỏi khu vực trung tâm.. nhằm phát bảo vệ và tiếp tục phát triển đô thị, mang
1.2. Ảnh hưởng của gia tăng dân số đến y tế
Sự phát triển hệ thống y tế của mỗi quốc gia phu thuộc vào các yếu tố sau:
+ Trình độ phát triển kinh tế xã hội ( công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, khoa
học kĩ thuật)
+ Điều kiện vệ sinh môi trường
+ Tình hình phát triển dân số ( quy mô, tốc độ gia tăng, cơ cấu, phân bố dân số )
+ Chính sách của Nhà nước đối với y tế và các điều kiện chăm sóc sức khoẻ nhân
dân (chính sách đầu tư, đào tạo cán bộ, động viên các nguồn lực…)
Như vậy, dân số là một yếu tố có tính chất khách quan và cùng với các yếu tố
khác , nó quy định sự phát triển của y tế về số lượng, chất lượng, hiệu quả cũng như
cơ cấu ngành của y tế.
Nhiệm vụ của hệ thống y tế là khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân
dân. Vì vậy quy mô dân số quyết định số lượng y bác sĩ và số lượng cơ sở y tế. Dân
số đô thị tăng quá nhanh sẽ dẫn đến số lần khám chữa bệnh của một người tăng lên
và làm cho tổng cầu về khám chữa bệnh tăng lên. Thật vây, dân số đông và tăng dẫn
đến nhà ở quá chật chội, vệ sinh không đảm bảo, nhất là nguồn nước sinh hoạt, dinh
dưỡng kém của những hộ gia đình khó khăn và môi trường bị ô nhiễm là những điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển của bệnh tật. Ở các nước đang phát triển, nhiều người
đổ về đô thị dẫn đến tình trạng không có việc làm, tai nạn giao thông, tai nạn lao
động…góp phần làm tăng bệnh tật và thương tật, từ đó gây sức ép lên hệ thống y tế ở
đô thị. Thêm vào đó, dân số tăng nhanh dẫn đến việc đẩy mạnh kế hoạch hoá gia đình
cũng làm tăng nhu cầu về y tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368