DIỆN MẠO VĂN HÓA -XÃ HỘI CỦA VÙNG ĐẤT BẾN TRE TRONG CÁC THẾ KỶ XVII - XX L - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------

NGÔ VĂN ĐỨC

DIỆN MẠO VĂN HÓA
-
XÃ HỘI
CỦA VÙNG ĐẤT BẾN TRE

TRONG CÁC THẾ KỶ XVII - XX
DIỆN MẠO VĂN HÓA
-
XÃ HỘI
CỦA VÙNG ĐẤT BẾN TRE

TRONG CÁC THẾ KỶ XVII - XX

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẨN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ THANH THANH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
MỤC LỤC

3.1. Con người Bến Tre trong đấu tranh với thiên nhiên ............................138
3.2. Đấu tranh với xã hội .............................................................................147
3.3. Đặc điểm tính cách của con người Bến Tre .........................................168
KẾT LUẬN ............................................................................................................176
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................188
PHỤ LỤC ...............................................................................................................195
MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ lâu, Bến Tre được nhiều người biết đến không chỉ với cái tên “xứ dừa”, mà
còn là vùng đất anh hùng, nơi tôi may mắn được sinh ra và lớn lên. Tôi nhận thức
được rằng, việc tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề về lịch sử của vùng đất này là
trách nhiệm của bản thân.
Bến Tre là một bộ phận của vùng đất Nam Bộ. Nam Bộ là vùng đất mới, vùng
đất có nhiều đóng góp quan trọng đối với lịch sử dâ
n tộc trên nhiều phương diện,
trong đó có phương diện văn hóa.
Sống trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, tự nhiên khác nhau, cư dân
mỗi vùng, miền, mỗi địa phương có những biểu hiện đặc thù về phẩm chất, tính
cách, có cả những mặt tích cực và hạn chế. Nghiên cứu những nét đặc thù về văn
hóa, những truyền t
hống, phẩm chất, tính cách tốt đẹp của con người Bến Tre để
phát huy những mặt tích cực, khắc phục những mặt yếu kém, hạn chế ở hiện tại và
tương lai là việc làm hết sức cần thiết.
Trong bài viết “Nghiên cứu lịch sử địa phương ở Nam Bộ” in trong tập sách
Nam Bộ đất và người, Tiến sĩ Lê Hữu Phước cho rằng: “trong nhiều công trình lịch
sử địa phương đã có (kể cả những tập địa chí), trong khi phần lịch sử đấu tranh

con người đã sáng tạo ra trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên và xã hội. Văn
hóa là một mảng của đời sống xã hội, gắn bó hữu cơ với tổ chức cuộc sống của
cộng đồng cư dân. Văn hoá vừa là sản phẩm mà một cộng đồng dâ
n cư tạo ra, vừa
là nhân tố tác động đến hoạt động của cộng đồng dân cư.
Vùng đất Bến Tre là một bộ phận của Nam Bộ, mà Nam Bộ là một phần không
thể tách rời của Việt Nam. Lịch sử khai phá, xây dựng và phát triển của vùng đất
Bến Tre với những diễn biến phức tạp về chính trị, xã hội, văn hóa nằm
trong bối
cảnh chung của vùng đất Nam Bộ và chịu chung sự chi phối của bối cảnh cả nước.
Do vậy, nghiên cứu diện mạo văn hóa – xã hội Bến Tre từ thế kỉ XVII – XX không
thể tách rời diện mạo văn hóa – xã hội Nam Bộ cũng như diện mạo văn hóa – xã hội
Việt Nam trong giai đoạn nà
y. Trên quan điểm như thế, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu của luận văn được xác định là:

- Những yếu tố tác động đến diện mạo văn hóa và mối quan hệ giữa các yếu tố
đó như: điều kiện tự nhiên, cư dâ
n, con người trong đấu tranh với thiên nhiên, trong
đấu tranh xã hội, … tại vùng đất Bến Tre vào các thế kỉ XVII - XX, trong bối cảnh
của khu vực Nam Bộ và cả nước.
- Những mảng, những lĩnh vực cụ thể của đời sống vật chất, đời sống tinh
thần, đời sống xã hội của cư dâ
n sống trên vùng đất Bến Tre.
- Không gian nghiên cứu diện mạo văn hóa – xã hội là vùng đất Bến Tre, bao
gồm cả những nơi trước đây không thuộc Bến Tre, nhưng hiện nay nằm trong địa
phận Bến Tre. Thời gian nghiên cứu được xác định trong khoảng các thế kỷ XVII –
XX, tức là từ khi có người Việt, người Hoa đến khai phá vùng đất Bến Tre cho đến
thời điểm kết thúc một kỷ nguyên (năm
2000), mở ra một kỷ nguyên mới.

nói chung, Nam
Bộ nói riêng, tác giả có đề cập đến một số hiện tượng văn hóa Bến
Tre.
Sau năm 1975, nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ, trong đó có
văn hóa Bến Tre, tiêu biểu như: Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường
với Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu L
ong, Nxb Khoa học xã hội xuất bản
năm 1990; Huỳnh Lứa với Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII,
XVIII, XIX, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 2000; Thạch Phương, Hồ Lê,
Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh với Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb
Khoa học xã hội xuất bản năm 1992; Hồ Bá Thâm -Văn hóa Nam Bộ vấn đề và phát
triển, Nxb Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2003; Nguyễn P
hương Thảo với Huyền
thoại miệt vườn, Nxb Văn hóa Thông tin xuất bản 1994, Văn hóa dân gian Nam Bộ
những phác thảo, Nxb Giáo dục xuất bản năm 1994; Trần Hồng Liên với Phật giáo
ở Nam Bộ từ thế kỉ 17 đến 1945, Nxb TP. Hồ Chí Minh xuất bản năm 1996; Viện
tôn giáo với công trình Bước đầu tìm hiểu Đạo Cao Đài (công trình của nhiều tác
giả, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1995); Lê Anh Dũng với công trình Lịch sử
Đạo C
ao đài thời kỳ tiềm ẩn 1920 – 1926, Nxb Thuận Hóa xuất bản năm 1996…
Ở dạng thứ hai, diện mạo văn hóa – xã hội của Bến Tre được đề cập phần nào đó
trong các công trình nghiên cứu nhiều mặt về tỉnh, tiêu biểu là:
- Cuốn Monographie de la province de Bến Tre (Địa phương chí tỉnh Bến Tre)
do người Pháp công bố năm 1930, trình bày khá hệ thống về vị trí địa lý, tự nhiê
n,
sông ngòi, khí hậu, thủy lợi, tình hình kinh tế, cây trồng… nhưng nhìn chung còn sơ
lược.

- Tác giả Huỳnh Minh, trong nhiều sách khảo cứu các tỉnh, thành ở Nam Bộ
đư

a Bến Tre (Lư Nhất Vũ, Lê Giang,
Ty Văn hóa thông tin Bến Tre xuất bản 1981); Văn học dân gian Bến Tre (Nguyễn
Phương Thảo, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1988); Hát sắc bùa Phú Lễ Ba

Tri – Bến Tre ( Huỳnh Ngọc Trảng, N
xb TP. Hồ Chí Minh xuất bản năm 1992);
Tuyển tập văn học chữ viết Bến Tre (Nguyễn Phương Thảo – Nguyễn Nhị Hà sưu
tầm, tuyển chọn, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1996); Tìm hiểu một số hiện
tượng văn hóa dân gian Bến Tre (Nguyễn Chí Bền, Nxb Khoa học xã hội xuất bản
năm 1997); Tang lễ người già ( của tác giả Lư Văn Hội, Sở Văn hóa thông tin tỉnh
Bến Tre xuất bản năm 2002)…
Nhìn chung, công trình nghiê
n cứu về vùng đất Bến Tre có khá nhiều. Mỗi
công trình nghiên cứu đề cập một hoặc một số vấn đề có liên quan đến diện mạo
văn hóa – xã hội của vùng đất này. Hiện chưa có công trình nào đề cập đầy đủ và
có hệ thống về diện mạo văn hóa – xã hội vùng đất này qua các thời kỳ từ thế
XVII – XX.
4. PHƯƠNG P
HÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic:
- Luận văn thuộc chuyên ngành khoa học lịch sử, do vậy, chúng tôi sử dụng
phương pháp lịch sử làm phương pháp chủ đạo trong quá trình nghiên cứu. Bức
tranh văn hóa – xã hội được miêu tả dưới góc độ lịch sử, trong bối cảnh, không gian
và thời gian cụ thể.
- Phác họa bức tranh nghĩa là phải miêu tả, nhưng không chỉ dừng lại ở đó m
à
các sự kiện, hiện tượng, vấn đề đặt ra và giải quyết ở luận văn còn được phân tích,
khái quát, nhận định, xem xét trong các mối liên hệ nhân quả, xem xét tính kế thừa,
phát triển, mối liên hệ quá khứ - hiện tại- tương lai… Nói cách khác, người viết còn
kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong quá trình nghiên cứu

nghiên cứu những hình ảnh, những
câu chuyện, những hoạt động thực tế, sinh động. Đây là một trong những nguồn tư
liệu quý giá trong công tác nghiên cứu lịch sử. Trong quá trình nghiên cứu đề tài,
người viết đã trực tiếp khảo sát, tiếp xúc với các di tích, hiện vật lịch sử, văn hóa;
phỏng vấn những người am hiểu những vấn đề có liên quan đến đề tài nhằm
thu
thập thêm thông tin, tư liệu, làm cơ sở để so sánh, đối chiếu với tư liệu thành văn,
góp phần miêu tả bức tranh văn hóa - xã hội.
4.5. Phương pháp so sánh:
- Việc sử dụng phương pháp so sánh trong nghiên cứu lịch sử là rất cần thiết,
nhằm tìm ra sự giống nhau, khác nhau, nét chung, nét riêng, mối quan hệ nhân quả,
sự kế thừa, phát triển của các sự kiện, hiện tượng. Trong quá trình nghiên cứu đề
tài, chúng tôi đã sử dụng phương phá
p so sánh lịch đại để tìm ra sự giống nhau,
khác nhau, kế thừa, phát triển theo thời gian của các yếu tố, hiện tượng văn hóa.

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phương phá
p so sánh đồng đại để nhận diện sự
giống nhau, khác nhau, những điểm chung, những nét đặc thù của diện mạo văn hóa
– xã hội Bến Tre với khu vực Nam Bộ và cả nước trong từng thời điểm, giai đoạn.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Thông qua việc chọn lọc và phân tích tư liệu lịch sử, luận văn dựng lại bức
tranh toàn cảnh về văn hóa-xã hội của Bến Tre qua các thời kì, trong các thế kỉ
XVII-XX.
Luận văn cung cấp thê
m những thông tin về diễn trình văn hóa-xã hội của địa
phương nhằm bổ sung tư liệu về vùng đất này, làm cơ sở cho việc biên soạn, giảng
dạy lịch sử địa phương nhằm bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu quê hương,
đất nước, ý thức trân trọng, giữ gìn và phát huy những thành quả, truyền thống mà


chung là sông Mỹ Tho; phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh,
ranh giới chung là sông Cổ Chiên; phía Đông giáp Biển Đông, bờ biển dài 65km.
Về tọa độ địa lý, điểm cực nam của Bến Tre nằm trên vĩ độ 9
0
48’ bắc, thuộc
huyện Thạnh Phú; cực Bắc nằm trên vĩ độ 10
0
20’ bắc, thuộc huyện Châu Thành;
điểm cực đông nằm trên kinh độ 106
0
48’ đông, thuộc huyện Bình Đại; điểm cực
Tây nằm trên kinh độ 105
0
57’ đông, thuộc huyện Chợ Lách.
Đường bộ đi từ thị xã Bến Tre đến thành phố Hồ Chí Minh (qua Tiền Giang
và Long An) dài 86km. Quốc lộ 60 từ phà Rạch Miễu, qua thị xã Bến Tre, phà Hàm
Luông, thị trấn Mỏ Cày, đến phà Cổ Chiên dài 35,39km. Quốc lộ 57 nối với quốc lộ
60 ở thị trấn Mỏ Cày, qua Chợ Lách, sang Vĩnh Long, đoạn trên đất Bến Tre dài
40,65km. Bến Tre có 6 tỉnh lộ. Tỉnh lộ 882 nối quốc lộ 60 từ ngã ba chợ Xếp đến
quốc lộ 57,
dài 10 km. Tỉnh lộ 883, từ ngã tư huyện Châu Thành đến Thới Thuận,
Bình Đại, dài 58,33km. Tỉnh lộ 883B từ ngã ba Đê Đông đến bờ biển xã Thừa Đức
dài 8,1km. Tỉnh lộ 884 từ ngã ba Tân Thành đến bến phà Tân Phú dài 24,45km.
Tỉnh lộ 885 từ Thị xã đến Tiệm Tôm, Ba Tri dài 45,5km. Tỉnh lộ 886 từ ngã tư Phú
Khương đến ngã ba Phú Hưng, tiếp giáp với đường tỉnh 885, dài 5,3km
. Tỉnh lộ 887
từ Thị xã đến ngã ba Sơn Đốc, dài 23,57km. Tỉnh lộ 888 từ ngã ba Thom, Mỏ Cày
đến Khâu Băng, Thạnh Phú, dài 51,62km.

Trước đây, từ ba cù la


Theo tài liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường, khoảng 4.500 năm – 5.000
năm cách đây, có một cồn sông khá lớn xuất hiện ở phía dưới khu vực Chợ Lách
hiện tại. Sau đó, một số giồng cát được hình thành ở phía đầu cồn, dấu vết ngày nay

hiện c
òn ở phía nam Chợ Lách. Một cù lao lớn thứ hai xuất hiện ở khu vực Châu
Thành, tạo nên một cửa sông mới, đó là cửa sông Mỹ Tho. Cùng lúc đó, sông Ba
Lai, sông Hàm Luông được hình thành. Các con sông này lấn biển và bồi đất rất
nhanh chóng, tạo nên các giồng cát nằm sát nhau.
Trước kia, Bến Tre vốn là những cù lao được hình thành riêng lẻ do phù sa
của sông Tiền lắng đọng. Những nhánh sông chia cắt các cù lao cũng bị phù sa dần
dần lắp nghẽn. Các cù lao dần dần đư
ợc chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre như hiện
tại. Trên địa bàn Bến Tre, dấu tích của những dòng sông cổ bị lấp vẫn còn ở nhiều
nơi như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Thạnh Phú. Đó là những dải đất phèn,
những vùng đất thấp với nhiều hợp chất hữu cơ, đặc biệt là những dòng nước ngọt
ngầm sâu hàng chục mét.
Thực trạng sông Ba Lai hiện nay đang tái lập hình ảnh của các dòng sông cổ
bị lấp. Sự bồi tích nhanh của sông Mỹ Tho làm
cho sông Ba Lai bị nghẽn ở đầu phía
trên. Do vậy, lòng sông đã bị xóa hẳn ở đoạn qua huyện Châu Thành, gần xóa ở
đoạn qua huyện Giồng Trôm, sắp sửa bị xóa ở huyện Bình Đại. Xu thế bồi tụ vùng
cửa sông ven biển ở Bến Tre vẫn đang tiếp diễn.
1.3. Địa hình
Bến Tre t
hấp và bằng phẳng, độ cao trung bình từ 1 – 2m so với mực nước
biển, có hướng thấp dần từ Tây Bắc đến Đông Nam.
Phần đất cao thuộc khu vực Chợ Lách, Châu Thành, nằm ở phía bắc và tây
bắc thị xã Bến Tre. Đây là khu vực của cồn sông cổ bị lũ hàng năm mang phù sa

Đất đê giữ độ ẩm tốt vào mùa nắng. Sau đất giồng, đê tự nhiên là nền m
óng tốt hơn
hết so với các đơn vị bồi tích khác. Đất ở đê rất phù hợp cho việc sử dụng làm đất
thổ cư, trồng cây ăn trái.
Phía sau đê sông là khu đất thấp hơn, được gọi là bưng sau đê. Đất của bưng
sau đê không có phèn. Nếu có phèn là do thảm thực vật úng thối tại chỗ tạo nê
n, với
tổng lượng lưu huỳnh không quá 1%. Loại phèn nước ngọt này, nói chung, không
gây hại đến cây trồng.
Bưng sau đê ở Bến Tre thường phủ lên cồn sông cổ, đất ẩm, không phèn, nên
bưng sau đê rất thích hợp đối với cây lúa, rau màu và cây dừa. Đây là một loại đất
nông nghiệp khá tốt, song diện tích không lớn so với các loại đất khác.
Trầm tích do lũ đưa về, gồm cát lơ lửng trong lòng nước và sạn sỏi chạy dài
trên đáy s
ông. Chúng tích tụ lại thành lượn, gọi là lượn cát sông. Ban đầu lượn cát

nằm dưới mặt nước, về sau nhô dần lên khỏi mặt nước và có thực vật phủ lên, trở
thành cồn sông hoặc cù lao. Dọc các sông lớn c
òn có rất nhiều cù lao (cồn), được
hình thành. Trên sông Mỹ Tho có Cồn Phụng, Cồn Tàu. Sông Hàm Luông có Cồn
Ốc, Cồn Linh. Sông Cổ Chiên có Cồn Phú Đa, Cồn Dung…
Đối với nông nghiệp, cù lao hay cồn sông có giá trị kinh tế khá cao. Đất cồn
không có phèn, thích hợp cho nhiều loại cây trồng.
Phần đất thấp, từ 1 – 1,5m
, gồm có 2 dạng. Trước hết, đó là khu vực các lòng
máng của các lòng sông cổ và mới, đã bị lấp hoàn toàn hoặc một phần bởi trầm tích
lũ, cụ thể là các khu vực như Phước An, Phước Tú (Châu Thành), Phong Phú, Phú
Hòa (Giồng Trôm). Dạng thứ hai là những vũng mặn cổ, hiện cũng đã được lấp đầy
từng phần như xóm chợ cũ, Mỹ Hòa (Ba Tri), Bình Quới (Giồng Trôm).
Phần đất trũng thật thấp ở khu vực ven biển, có độ cao không quá


sống thuận lợi của hàu, nga
o, sò huyết. Nhiều nơi, người ta đã phát hiện được
những đống vỏ lớn, nhân dân gọi đó là những mỏ hào, mỏ ngao, mỏ sò huyết. Ở
Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú đều có lác đác những đống vỏ như vậy.
Bờ biển Bến Tre chủ yếu là những bãi bồi rộng. Khi triều rút, bãi bồi trải
rộng ra phía biển hàng ngàn mét, rất thuận lợi cho việc nuôi t
hủy sản nước mặn như
nghêu, sò.
Chất trầm tích ở bãi thủy triều chứa các loại vi sinh vật khá phong phú, là
nguồn thức ăn cho các vật nuôi, đặc biệt là tôm.

Địa hình vùng đất Bến Tre khá đa dạng, bị chia cắt bởi sông ngòi, kênh rạch,
địa hình tương đối bằng phẳng, có những khu vực tương đối cao, như các giồng đất
và đê tự nhiên, có những vùng đất thấp như bưng, trũng, bãi bồi. Những khu đất cao
là nơi thuận tiện cho cư trú trong buổi đầu khai phá, để rồi, từ những khu đất cao
này, các thế hệ lưu dân đã mở rộng diện tích khai phá xuống các vùng bưng, t
rũng.
1.4. Thổ nhưỡng
Đất đai ở Bến Tre là sản phẩm của quá trình bồi tụ phù sa của đồng bằng
sông Cửu Long. Do có lịch sử canh tác lâu đời, đất đai ở đây đã trải qua những biến
chuyển quan trọng. Nhiều vùng đất mặn, đất phèn đã được ngọt hóa. Việc đào
mương, lên liếp đã làm thay đổi gần một nửa diện tích đất đai trong tỉnh.
Đất ở vùng Bến Tre gồm 4 nhóm chính: đất phù sa, đất mặn, đất phèn và đất
giồng cát.
Đất phù sa chiếm
66.471 ha (26,9% diện tích đất toàn tỉnh), phân bố chủ yếu
ở khu vực tây bắc của tỉnh như Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ
Cày. Loại đất này thích hợp cho việc phát triển nghề làm vườn, trồng cây ăn trái.
Đất phù sa ở Bến Tre được hình thành từ trầm tích của các lòng sông cổ. Đây là

rác ở từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn, cụ thể là ở những nơi có địa hình thấp,
khó tiêu nước.
Hầu hết đất phèn ở Bến Tre có tầng phèn sâu trên 50 cm, nên chưa phải là
loại đất hoàn toàn hạn chế đối với sự sinh trưởng của cây lúa. Ở Bến Tre, các vùng
đất phè
n đều phát sinh từ nguồn gốc bưng, trũng hoặc sông cổ. Do quá trình bồi tụ
của các dòng sông, các lớp đất phèn được phủ lên mặt bởi lớp trầm tích sông. Bằng
các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh, lập vườn, người dân đã làm cho các
khu vực đất phèn trở nên thoáng khí và khô ráo. Tuy nhiên, ở một số nơi thuộc vùng
lợ và vùng mặn (khu vực Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, trong mùa khô, sự xâmnhập mặn vào đất phèn làm cho đất vừa phèn, vừa mặn nên cây t
rồng rất khó sinh
trưởng).
Nói chung, đất phèn ở Bến Tre có thể tận dụng để canh tác lúa, nhưng năng
suất thường không cao.
Đất cát, chủ yếu là đất giồng, chiếm 14.248ha (6,44% diện tích toàn tỉnh).
Loại đất này được hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong quá
trình lấn biển của vùng cửa sông. Dưới tác động của khí hậu và của con người qua
hàng trăm năm, n
hững giồng đất được hình thành sớm không còn tơi xốp như
những giồng hình thành sau ở khu vực Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Ở những nơi
không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước, tầng mặt thường rất khô. Loại đất
này ít cua ở tầng mặt, nghèo hữu cơ, độ phì thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Do đất
cát giồng có khả năng giữ nước và giữ phân kém, nên chủ yếu đư
ợc sử dụng làm đất
cư trú kết hợp với trồng rau màu và cây lâu năm.
Kết quả khảo sát của Sở Tài nguyên và Môi trường từ 1990 – 2000 cho thấy,
mặc dù đất đai ở Bến Tre có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho

C - 27
0
C, không
có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 20
0
C. Do nằm ở vĩ độ thấp nên Bến Tre tiếp
nhận ánh nắng dồi dào, độ dài ban ngày lớn, bức xạ và nhiệt độ cao, thích hợp cho
sự phát triển của cây trồng. Mùa khô, số giờ nắng trung bình mỗi ngày từ 8 – 9 giờ.
Mùa mưa, mỗi ngày nắng khoảng 5 – 7 giờ.
Trong mùa mưa, gió thịnh hành là gió tây nam đến tây tây nam, tốc độ trung
bình cấp 3 – cấp 4. Từ tháng 5 – tháng 11, gió chuyển tiếp yếu, gồm có cả gió đông
bắc đến gió đông nam, tốc độ tr
ung bình ở khoảng cấp 2.
Từ tháng 12 đến tháng 4, đây là thời kỳ khô hạn, Bến Tre chịu ảnh hưởng
của gió chướng. Đây là loại gió có hướng đông bắc đến đông nam, gây trở ngại cho
trồng trọt, nhất là các huyện ven biển. Gió chướng thổi mạnh sẽ đẩy nước biển chảy
ngược vào các sông lớn, tràn vào hệ thống kênh rạch, làm nhiễm mặn đồng ruộng.
Bọt nước biển được gi
ó đưa vào bám các mầm non, làm hạn chế sự phát triển của
cây lúa và nhiều loại hoa màu khác.
Nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, hàng năm, Bến Tre có một
mùa mưa, từ tháng 5 – tháng 11 và một mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.250 mm – 1.500 mm. Ở vùng ven biển, lượng
mưa thấp hơn các khu vực khác. Lượng mưa tại khu vực thị xã Bến Tre nhiều hơn
cả.

Nhờ hệ thống s
ông ngòi, kênh rạch chằng chịt, nên độ ẩm trong không khí
tương đối cao. Trong mùa khô, độ ẩm trung bình từ 83 – 90%. Độ ẩm nhỏ nhất
thường xảy ra vào tháng 12 và tháng 1, từ 40 – 50%.
1.6.
Sông ngòi
Sông Tiền, trước khi đổ ra biển Đông, đã tách thành bốn nhánh như hình nan
quạt, ôm gọn ba dải cù lao Bến Tre. Đó là các sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông
Hàm Luông, sông Cổ Chiên.
Sông Mỹ Tho là tên của một nhánh sông Tiền bắt đầu từ cù lao Minh, ngang
Vĩnh Long đến Cửa Đại. Sông Mỹ Tho chảy theo chiều dọc của tỉnh, dài 90 km, là
ranh giới tự nhiên giữa Bến Tre và Tiền Giang. Lòng sông sâu, càng ra biển càng
rộng, trung bình từ 1.500 đến 2000 m. Tàu có trọng tải 500 tấn có thể đi từ Cửa Đại
đến tận P
hnom Penh của Campuchia. Trên sông có nhiều cồn lớn như cồn Thới
Sơn, cồn Rồng, cồn Phụng, cồn Tàu. Đây là những địa điểm thuận lợi cho việc khai
thác dịch vụ du lịch sinh thái.
Sông Ba Lai có chiều dài 55 km, nằm trọn vẹn trong vùng đất Bến Tre.
Trước kia, sông sâu và rộng, từ đầu thế kỷ XX, do phù sa từ thượng nguồn đổ về,
sông bị cạn dần. Dưới đáy sông c
ó nhiều cồn ngầm, vào mùa gió chướng, mặt sông
thường có sóng lớn, nước xoáy, rất nguy hiểm cho tàu thuyền đi lại. Giữa năm
2000, tỉnh tiến hành xây dựng cống đập, ngăn dòng Ba Lai nhằm ngọt hóa phần đất
phía bắc Bến Tre.
Sông Hàm Luông là ranh giới tự nhiên giữa hai cù lao Bảo và cù lao Minh.
Sông dài 70 km, sâu từ 12-15 m, rộng trung bình từ 1.200 – 1.500 m, gần cửa biển
rộng hơn 3000 m. So với các sông khác của tỉnh, sông Hàm Luông có lưu lượng
nước dồi dào nhất. Trên sông, có nhiều c
ù lao, cồn đất như cù lao Tiên Long, cù lao
Thanh Tân, cù lao Ốc, cù lao Lá, cồn Đất, cồn Lợi…
Sông Cổ Chiên dài khoảng 80 km, là ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và
hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Sông Cổ Chiên mang đặc điểm tương tự như sông

Đức, Phước Thạnh (Châu Thành), Sơn Phú (Giồng Trôm), Cồn Phụng (Chợ Lách).
Ngoài các mỏ cát này, dưới lòng các đoạn sông còn có một lượng cát khá lớn dùng
cho san lấp, có thể liên tục được bổ sung sau khai thác.
Về độ sâu của đáy sông ở các cửa sông lớn, cụ thể Cửa Đại sâu từ 5 – 9m
,
cửa Hàm Luông, sâu từ 6 –7m, cửa Cổ Chiên sâu từ 7 –8m, cửa Ba Lai sâu từ 5 –
7m. Với độ sâu như vậy, vùng cửa sông Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên tương đối
thuận lợi cho việc xây dựng cảng cá.
Sông rạch giữ một vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế, văn hóa của
nhân dân Bến Tre. Sông đã chuyên chở phù sa từ thượng nguồn về bồi đắp cho
vùng đất, cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và nông nghiệp, cung cấp thức ăn già
u
đạm như tôm, cá, cua, ốc. Sông rạch góp phần làm đẹp cảnh quan, điều hòa khí hậu

của v
ùng đất cù lao. Vùng sông nước như Bến Tre, ven đôi bờ sông là những xóm
làng đông đúc dân cư, những vườn cây ăn trái, những bến sông, bến phà, chợ búa
tấp nập thuyền bè. Sông rạch tạo nên mạng lưới giao thông thủy thuận tiện, góp
phần thúc đẩy giao lưu văn hóa.
1.7. Thủy văn
Sông ở Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà
hàng ngày, hàng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy và
o.
Vùng biển Bến Tre thuộc khu vực bán nhật triều không đều. Mỗi ngày đều
có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống. Chênh lệch giữa đỉnh triều và chân triều ở
những ngày triều lớn có thể từ 2,5 – 3,5m. Những ngày triều kém, chênh lệch giữa
đỉnh triều và chân triều khoảng 1m. Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu 1,2 ngày
triều kém, sau đó là triều cường, cuối chu kỳ lại có 1,2 ngà
y triều kém. Kỳ nước
cường diễn ra ở đầu tháng âm lịch và ngày rằm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status