Giải quyết việc làm cho người lao động ở các huyện ngoại thành hà nội trong quá trình đô thị hóa - Pdf 60

1

MỤC LỤC
MỤC LỤC.......................................................................................................... 1
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................... 3
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ ................................................................ 7
1.1 ĐÔ THỊ HOÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VÀ VIỆC LÀM .............................................................. 7
1.1.1 BẢN CHẤT CỦA ĐÔ THỊ HOÁ ...................................................... 7
1.1.2 TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HOÁ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ VÀ VIỆC LÀM. ................................................................................. 11
1.2 VIỆC LÀM; TẠO VIỆC LÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI
VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ
HOÁ. ........................................................................................................... 22
1.2.1 VIỆC LÀM, TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP VÀ THIẾU VIỆC
LÀM......................................................................................................... 22
1.2.2 TẠO VIỆC LÀM VÀ CÁC MÔ HÌNH TẠO VIỆC LÀM. .............. 30
1.2.3 CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO
ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ. ......................................... 37
1.3 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM Ở CÁC ĐỊA PHƢƠNG.......................................................... 41
1.3.1 KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG.................................. 41
1.3.2 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TRONG VIỆC GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM Ở CÁC ĐỊA PHƢƠNG. ......................................... 48
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO
ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ Ở CÁC HUYỆN NGOẠI
THÀNH HÀ NỘI ............................................................................................. 49
2.1 TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HOÁ ĐỐI VỚI VIỆC LÀM Ở CÁC
HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI........................................................... 49
2.1.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở CÁC HUYỆN NGOẠI

QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ. ........................................................................... 99
3.1 QUAN ĐIỂM VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG THÔN
NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ . ........ 99
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGOẠI
THÀNH HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ ........................ 99
3.2.1 KHUYẾN KHÍCH MỌI THÀNH PHẦN KINH TẾ THAM GIA
PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM. ...................... 105
3.2.2 GIẢI PHÁP VỀ ĐÀO TẠO, NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHO NGƢỜI
LAO ĐỘNG. .......................................................................................... 111
3.2.3 PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGOẠI
THÀNH VÀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐỂ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM. ........................................................................................... 113
3.2.4 CÁC GIẢI PHÁP KHÁC. ............................................................. 120
KẾT LUẬN .................................................................................................... 130
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 132


3

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn lực con ngƣời có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển bền vững
của mỗi quốc gia, dân tộc. Vấn đề nguồn lực con ngƣời đƣợc Đảng ta hết sức
coi trọng, là tƣ tƣởng cơ bản xuyên suốt trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ Đại
hội VII đến nay “... Con ngƣời Việt Nam có truyền thống yêu nƣớc, cần cù sáng
tạo, có nền tảng văn hóa, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công
nghệ... đó là nguồn lực quan trọng nhất”. Con ngƣời Việt Nam trong thời kỳ mới
đã có những bƣớc chuyển biến đáng kể, thực sự say mê, sáng tạo trong lao động,
học tập, nghiên cứu... góp phần quan trọng trong việc tạo ra bộ mặt mới của đất
nƣớc.

các huyện ngoại thành Hà Nội là những bƣớc khởi đầu quan trọng, tuy nhiên
vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tiễn đặt ra. Vì vậy, vấn đề này vẫn đòi hỏi
phải đƣợc nhận thức rõ hơn và các giải pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho
ngƣời lao động ở các huyện ngoại thành Hà Nội.
Theo hƣớng đó, luận văn tiếp tục khảo sát về việc làm ở các huyện ngoại
thành Hà Nội và đƣa ra các giải pháp trên cơ sở kế thừa và phát triển công trình
của các tác giả trƣớc.
3. Mục đích nghiên cứu
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về việc làm và đô thị hoá.
- Phân tích thực tiễn lao động và vấn đề giải quyết việc làm ở các huyện
ngoại thành Hà Nội.


5
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả vấn đề giải quyết việc
làm ở các huyện ngoại thành Hà Nội.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài: việc làm cho ngƣời lao động trong thời
kỳ CNH, HĐH đất nƣớc.
- Phạm vi nghiên cứu: Giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở các
huyện ngoại thành Hà Nội, từ năm 2000 trở lại đây.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
làm phƣơng pháp luận cơ bản. Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng nhiều phƣơng
pháp khác nhau nhƣ: phƣơng pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, sử
dụng bảng biểu, số liệu thực tế để luận chứng.
6. Đóng góp của luận văn
- Phân tích thực trạng việc làm ở các huyện ngoại thành Hà Nội, từ đó
vạch ra các vấn đề còn tồn tại mà theo tác giả đó chính là nguyên nhân làm cho
giải quyết việc làm ở các huyện ngoại thành Hà Nội còn nhiều bất cập.

nhu cầu, xu hƣớng chủ đạo của thời đại chúng ta, thì những vấn nạn trong quá
trình đô thị hoá và trong quan hệ giữa đô thị với nông thôn trở thành những vấn
đề lớn của xã hội. Các đô thị hiện đại đã hình thành và phát triển và lịch sử của
chúng gắn liền với các giai đoạn phát triển của kinh tế thị trƣờng: giai đoạn kinh
tế công nghiệp kéo dài 300 năm qua và giai đoạn kinh tế tri thức mới bắt đầu từ
cuối thế kỷ 20. Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học- công nghệ phát
triển nhanh nhƣ vũ bão, kinh tế tri thức đang dần đi vào cuộc sống; Toàn cầu
hoá là một xu thế không gì có thể cƣỡng lại đƣợc, thì công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là con đƣờng giúp các nƣớc chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các
nƣớc đi trƣớc. Đồng thời với quá trình đó thì đô thị hoá cũng sẽ đƣợc đẩy mạnh.
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá là nhân tố quyết định làm thay đổi
căn bản phƣơng thức sản xuất; Chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp
truyền thống, nền kinh tế tiểu nông sang phƣơng thức sản xuất mới, hiện đại và


8
do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế – xã hội nông thôn. Trong bối cảnh
hiện nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá có sự gắn bó chặt chẽ với
nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.
Về mặt kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá làm thay đổi
phƣơng thức sản xuất và cơ cấu nền kinh tế, chuyển nền kinh tế sang một bƣớc
phát triển mới về chất, đó là nền kinh tế dựa trên nền đại công nghiệp và dịch vụ
chất lƣợng cao; Về mặt xã hội, đó là quá trình đô thị hoá và hình thành các khu
vực đô thị mới. Trong đời sống kinh tế - xã hội, đô thị hoá không chỉ đơn thuần
là sự hình thành các đô thị mới mà đó là một nấc thang tiến hoá vƣợt bậc của xã
hội với một trình độ văn minh mới, một phƣơng thức phát triển mới. Đó là cách
thức tổ chức, bố trí lực lƣợng sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế và tổ chức lại đời
sống xã hội.
Trong quá trình đô thị hoá, hiện đại hoá, tiến trình phát triển xã hội đã có sự

-

Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế – xã hội trong phạm vi cả nƣớc, một miền lãnh thổ, của một
tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong huyện.

-

Có quy mô dân số nội thị nhỏ nhất là 4000 ngƣời (vùng núi có thể thấp
hơn).

-

Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 60% trở lên trong tổng số lao
động của nội thị, là nơi sản xuất và dịch vụ thƣơng mại phát triển.

-

Có kết cấu hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cƣ
đô thị hoá từng phần hoặc đồng bộ.

-

Mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 ngƣời/km2.
Về phậm vi thì đô thị hoá có thể diễn ra theo hai xu hƣớng:
Một là, đô thị hoá theo chiều rộng, trong đó quá trình đô thị hoá diễn ra

tại các khu vực trƣớc đây không phải là đô thị. Đó cũng chính là quá trình mở




11
hội của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải,
xây dựng, dịch vụ.v.v. Do vậy, đô thị hoá gắn liền với sự phát triển kinh tế – xã
hội. Đô thị hoá nông thôn cũng là một xu hƣớng có tính quy luật; đó là quá
trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho các vùng nông
thôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…); Thực chất đó là
CNH,HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đô thị hoá ngoại vi là quá trình
phát triển mạnh vùng ngoại vi của thành phố do kết quả phát triển công nghiệp,
dịch vụ và kết cấu hạ tầng, tạo ra các cụm đô thị, liên đô thị, góp phần đẩy
nhanh đô thị hoá nông thôn.
Trong quá trình CNH, HĐH, sự hình thành các đô thị hiện đại có vai trò
đặc biệt quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Bên cạnh nông thôn,
đô thị là hình thái quần cƣ cơ bản thứ hai của xã hội loài ngƣời. Trên thế giới, đô
thị ra đời rất sớm, nhƣng chỉ thật sự phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỷ 19, đầu
thế kỷ 20 và đến nay, đô thị đã trở thành một hiện tƣợng xã hội, một hiện tƣợng
kinh tế có ảnh hƣởng hết sức quan trọng tới mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống
kinh tế xã hội.
1.1.2 Tác động của đô thị hoá đối với sự phát triển kinh tế và việc làm.
* Đối với kinh tế.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế – xã hội của một đất nƣớc. Sự phát triển đô thị kích thích tăng
trƣởng và phát triển của các vùng lãnh thổ xung quanh và toàn bộ nền kinh tế
thông qua quá trình phân bố lại các cơ sở kinh tế, lan truyền tiến bộ công nghệ,
văn hoá, xã hội. Với sự phát triển của hệ thống các đô thị, nhiều nƣớc đã từng
bƣớc hình thành đƣợc những vùng lãnh thổ phát triển không chỉ đảm nhận chức
năng động lực thúc đẩy sự phát triển toàn bộ kinh tế - xã hội đất nƣớc mà còn
đảm nhận chức năng hợp tác và hội nhập quốc tế, vừa đảm nhận vai trò tiếp




82069,8 3082,8
100,0

3,75

362092 30526,7

lại

6063,0

1772,5

763,3

70388,2

7,38

2,15

0,93

85,79

79121

12521,5 9564,4 230358,4


8,69

18,2

21,7

10,01

12,5

…….

Hệ số GDP bình quân so với

1,0

2,09

2,49

1,15

1,43

…….

cả nƣớc (lần)


13

Tỷ trọng GTXK (%)

100,0

8,3

37,7

2,7

1,2

50,1

Giải quyết việc làm (ngƣời)

……

78000

221600

39100

24400

…….

Nguồn: Tính từ số liệu của Niên giám thống kê Hà Nội 2004, Cục Thống kê
Hà Nội.

triển nói riêng.
+ Với lợi thế về lực lƣợng và tiềm lực khoa học kỹ thuật, sự tập trung số
lƣợng lớn các cơ sở đào tạo và khoa học, trong đó có các trƣờng đại học, các
viện nghiên cứu khoa học đầu ngành, các đô thị lớn còn giữ vai trò đào tạo
nguồn nhân lực chất lƣợng cao cho đất nƣớc, góp phần từng bƣớc nâng cao chất
lƣợng nguồn lao động cho nền kinh tế.
+ Do GDP/ngƣời tăng nhanh, cộng với sự phát triển của các cơ sở công
nghiệp chế biến, xuất khẩu làm cho sức mua của các đô thị tăng nhanh, trong đó
phải kể đến sức mua về hàng nông lâm thuỷ sản với chất lƣợng cao. Việc các đô
thị trở thành nơi tiêu thụ hàng nông sản chất lƣợng cao sẽ tác động đến sự phát
triển các cơ sở cung cấp nguyên liệu và dịch vụ, góp phần chuyển đổi tập quán
sản xuất truyền thống của nhiều vùng nông thôn, mở ra khả năng nâng cao chất
lƣợng và giá trị nông sản, mở rộng thị trƣờng … Nhƣ vậy, sự phát triển các đô
thị sẽ tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn
và của cả nƣớc theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
+ Sự phát triển của các đô thị cũng đƣợc đánh giá là đã tạo điều kiện để
bổ sung nguồn vốn đầu tƣ cho sự phát triển của các vùng nông thôn, vùng kém
phát triển thông qua việc các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức từ các thành phố
lớn chuyển vốn đầu tƣ phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh công nghiệp, du


15
lịch, văn hoá… đến các vùng kém phát triển. Thông qua việc thu hút lao động
tới các đô thị, một phần đáng kể trong thu nhập của ngƣời lao động đƣợc đƣa
trở về các vùng nông thôn, vùng kém phát triển để giúp đỡ gia đình xây dựng,
sửa sang nhà cửa, đƣờng sá, phát triển kinh tế nông hộ...v.v.
Tóm lại, đô thị tƣợng trƣng cho thành quả kinh tế, văn hoá, xã hội của
mỗi quốc gia, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật
chất kỹ thuật và văn hoá. Sự phát triển của các đô thị có vai trò quan trọng thúc
đẩy phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia. Nhiều đô thị đã và đang chuyển

thôn ra thành thị còn chặt chẽ. Những năm gần đây, tỷ lệ đô thị hoá có xu hƣớng
tăng, năm 2002 đạt 25,11%, là biểu hiện tích cực của quá trình đô thị hoá, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và tăng trƣởng, phát triển kinh tế.
- Sự phát triển của dân số đô thị ở nƣớc ta dƣới các hình thức là đô thị hoá
do tăng cơ học, tăng tự nhiên của chính cƣ dân đang sống trong đô thị, sát nhập
lãnh thổ của đô thị hiện có với các vùng phụ cận quanh đô thị, hình thành các đô
thị mới do nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt, quá trình đô thị hoá ở
nƣớc ta có tốc độ lớn hơn là ở vùng ven các thành phố loại I, II nhƣ: Hà nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải phòng... và ở các khu công nghiệp tập
trung, các khu dịch vụ du lịch, các địa phƣơng thuộc vùng kinh tế động lực có
tốc độ tăng trƣởng kinh tế nhanh, vùng ven biển, cảng biển...
- Đô thị hoá nƣớc ta mang tính chất đan xen mối quan hệ đậm nét giữa
nông thôn và thành thị trong không gian đô thị, xã hội học, dân số học, nếp
sống, sinh hoạt và mối quan hệ kinh tế.
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các đô thị nƣớc ta còn lạc hậu, thiếu tính
đồng bộ về giao thông, điện, nƣớc, xử lý vệ sinh môi trƣờng, ... từ đó dẫn đến
khó khăn cho phát triển đô thị hiện đại, cho sự phát triển sản xuất kinh doanh và
xây dựng đời sống văn hoá, văn minh công nghiệp.


17
- Đầu tƣ cho phát triển đô thị của nƣớc ta thấp, nên phát triển mang tính
chắp vá, thiếu quy hoạch hiện đại và cách tiếp cận tổng thể... nên nhanh chóng
bị lạc hậu, gây cản trở đối với phát triển kinh tế – xã hội.
- Trong quá trình đô thị hoá, sự hẫng hụt của một bộ phận lao động nông
thôn về việc làm, thu nhập, nhà cửa, phong tục, tập quán, các mối quan hệ sinh
sống khi bị thu hồi đất, di chuyển đến các nơi khác sinh sống là vấn đề cần đƣợc
quan tâm giải quyết.
- Quá trình đô thị hoá làm gia tăng các nhân tố tác động gây ô nhiễm môi
trƣờng sinh thái bởi rác thải sinh hoạt, chất thải, nƣớc công nghiệp... nên rất cần

- Đô thị hoá làm cho cho một bộ phận dân cƣ bị mất việc làm.
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, giai đoạn 2000-2004, số
diện tích đất nông nghiệp đã đƣợc chuyển đổi mục đích sử dụng là gần 157.000
ha, trong đó xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất gần 22.000 ha, xây
dựng cụm công nghiệp vừa và nhỏ gần 35.000 ha, xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị
gần 100.000 ha. Trong tổng số diện tích các khu công nghiệp cả nƣớc, diện tích
các khu công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm 62,5% và
bằng 73,2% tổng diện tích các khu công nghiệp của cả 3 vùng kinh tế trọng
điểm (không kể diện tích khu công nghiệp Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi 10.300
ha, khu kinh tế mở Chu Lai 4000 ha). Theo một khảo sát của Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội mới đây, trung bình mỗi hộ nơi thu hồi đất có 1,5 lao
động rơi vào tình trạng không có việc làm và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi
có tới 13 lao động mất việc làm trong nông nghiệp, thì với 157.000 ha đất đã
đƣợc chuyển đổi trong giai đoạn 2000-2004 có tới 20,41 vạn lao động nông
nghiệp phải chuyển đổi nghề nghiệp, trong số đó hiện nay nhiều ngƣời hiện vẫn
chƣa có việc làm và rơi và tình trạng thất nghiệp toàn phần.
Nhƣ vậy, trong giai đoạn 2001-2005, tại 14 tỉnh, thành phố kể trên, số lao
động bị mất việc làm trong nông nghiệp là 265.709 ngƣời. Các tỉnh, thành phố


19
có nhiều lao động bị mất việc làm trong nông nghiệp là Hà Nội, Hải Phòng, Hà
Tây, Hải Dƣơng, Thái Bình, Đà Nẵng.v.v.
Diện tích đất bị thu hồi phần lớn tập trung vào đất nông nghiệp, đất khu
đông dân cƣ và vào một số xã, nhất là ở ven các đô thị lớn (khoảng 70-80%), có
xã thậm chí phải thu hồi 100% diện tích đất sản xuất. Vì vậy, mặc dù diện tích
đất nông nghiệp bị thu hồi chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích đất nông
nghiệp của nhiều tỉnh (1-2%), nhƣng tình trạng khó khăn về việc làm của ngƣời
lao động lại tập trung vào một số khu vực nhất định.
Đô thị hoá làm cho một bộ phận lớn dân cƣ sống dựa vào nông nghiệp bị
mất tƣ liệu sản xuất chủ yếu, do đó tạo ra sức ép về việc làm đối với ngƣời lao


2001-2005

1. Hà Nội

104000

2. Hải Phòng

17600

3. Hà Tây

52838

4. Hải Dƣơng

12000

5. Nam Định

8000

6. Thái Bình

17045

7. Ninh Bình

2500


265709

Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2005
- Đô thị hoá làm cho một bộ phận ngƣời lao động ngoại thành tìm cách di
chuyển vào thành thị để tìm việc từ đó tạo sức ép rất lớn đối với thành thị.
Khi tiến hành quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hƣớng hiện đại thì nó sẽ kéo theo quá trình đô thị hoá, khi đó ngƣời lao động
đang sinh sống và làm việc ở khu vực ngoại thành sẽ tìm cách di chuyển vào
khu vực thành thị để tìm việc làm, tăng thu nhập cũng nhƣ tiếp cận với đời sống
hiện đại. Điều này, nó sẽ trở thành sức ép rất lớn đối với khu vực thành thị cũng
nhƣ những bất ổn về kinh tế – xã hội của khu vực ngoại thành do đó để giải


22
quyết đƣợc tận gốc vấn đề này cần thông qua giải quyết việc làm, tạo việc làm
cho ngƣời lao động tại khu vực ngoại thành bị ảnh hƣởng của quá trình đô thị
hoá.
Bên cạnh đó, dòng di chuyển quá lớn của lao động từ nông thôn ra thành
phố trong khi số lƣợng việc làm tại các khu vực đô thị không thể tăng nhanh để
có thể thu hút hết sự tăng lên của dân số trong độ tuổi lao động và do di dân
cũng là một nguyên nhân gây ra tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm với tỷ lệ
khá cao.
- Đô thị hoá làm cho nguy cơ thất nghiệp ở độ tuổi trên 35 là rất lớn.
Ở hầu hết các địa phƣơng, số lƣợng lao động trên 35 tuổi chiếm tỷ lệ lớn
(35%). Trong sản xuất nông nghiệp, đây là lực lƣợng có kinh nghiệm, song khi
bị thu hồi đất thì đây là bộ phận có nguy cơ thất nghiệp kéo dài lớn nhất vì tuổi
cao nên khả năng đƣợc tuyển vào các doanh nghiệp rất ít và khó thích nghi với
những công việc mới. Trong khi đó, ở độ tuổi này, số lao động chƣa qua đào tạo
rất nhiều và việc tham gia các khoá đào tạo chuyển nghề đối với họ cũng không

- Việc làm đã đƣợc mở rộng rất lớn, bao gồm tất cả các thành phần kinh
tế, trong mọi hình thức và cấp độ của tổ chức sản xuất kinh doanh và sự đan xen
giữa chúng. Nó cũng không bị hạn chế về mặt không gian.
- Ngƣời lao động đƣợc tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết, tự do
thuê mƣớn lao động theo luật pháp và sự hƣớng dẫn của nhà nƣớc để tự tạo việc
làm cho mình và thu hút thêm lao động xã hội theo quan hệ cung cầu về lao
động trên thị trƣờng lao động.
Chính từ quan niệm trên về việc làm trong cơ chế thị trƣờng, trong Bộ
luật lao động đầu tiên của Việt Nam đƣợc Quốc hội khoá IX phê duyệt đã khẳng
định: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm
đều được thừa nhận là việc làm.


24
Từ quan điểm trên cho thấy khái niệm việc làm bao gồm các nội dung:
+ Là hoạt động lao động của con ngƣời.
+ Là hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập.
+ Là hoạt động lao động đó không bị ngăn cấm.
Khái niệm này đã đƣợc thể chế hoá thành các chỉ tiêu quản lý nhà nƣớc
về việc làm và thống nhất trong cả nƣớc. Để tạo điều kiện thuận lợi trong các
hoạt động thực tế, khái niệm này đã đƣợc cụ thể hoá nhƣ sau:
Việc làm là hoạt động đƣợc thể hiện ở một trong ba dạng:
+ Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lƣơng bằng tiền mặt hoặc
bàng hiện vật cho công việc đó.
+ Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuật
nông nghiệp trên đất do chính thành viên đó sở hữu; hoặc hoạt động kinh tế
ngoài nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.
+ Làm công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣời
hình thức tiên lƣơng, tiền công cho công việc đó, bao gồm sản xuất nông nghiệp
trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ gia đình quản lý hay có quyền

vấn đề trung tâm trong các xã hội hiện đại”. Khi mức thất nghiệp cao, tài nguyên
bị lãng phí và thu nhập của dân giảm. Trong những thời kỳ nhƣ vậy nền kinh tế
sẽ gặp nhiều khó khăn và ảnh hƣởng đến tình cảm và cuộc sống gia đình trong
nhân dân. Một thiệt hại nghiêm trọng nữa do thất nghiệp đƣa lại đó là sự mất đi
về sản lƣợng là những khoản lãng phí to lớn nhất trong nền kinh tế hiện đại.
Thất nghiệp luôn luôn gắn với sản lƣợng. Với nền kinh tế suy thoái thì tỷ lệ thất
nghiệp tăng vì khi đó các đơn đặt hàng và sản lƣợng đều giảm sút. Trong một
nền kinh tế bình ổn vẫn tồn tại một tỷ lệ thất nghiệp nhất định, đó là tỷ lệ thất



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status