DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CDCCKT
Chuyển dịch cơ cấu lao động
CDCCLĐ
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Cơ cấu kinh tế
CCKT
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
CCKTNN
Kinh tế - xã hội
KT - XH
Tổng sản phẩm địa phương
Hưng Yên
Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
của một số địa phương và bài học rút ra cho Hưng Yên
Trang
3
11
11
16
24
Chương 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HƯNG YÊN TRONG
THỜI GIAN QUA
2.1.
2.2.
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên ảnh
hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt
ra trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ở tỉnh Hưng Yên
32
32
35
tế ổn định và bền vững đòi hỏi phải xác định được một CCKT hợp lý, giải quyết
hài hòa mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ và
giữa các thành phần kinh tế. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Cộng sản Việt Nam đề ra nhiệm vụ “đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế” như
là một giải pháp quan trọng để phát triển nền kinh tế theo hướng CNH, HĐH, để
nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đại hội khẳng
định: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng,
coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng
phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức” [18, tr. 98]. Trong đó
CDCCKT nông nghiệp luôn giữ vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng.
Nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm phía
Bắc, Hưng Yên là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều tiềm năng và lợi thế về
phát triển ngành nông nghiệp. Từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến nay, nông
nghiệp vẫn là ngành sản xuất chủ yếu, đóng vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên. Sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã đạt
được những kết quả khá toàn diện: Tốc độ tăng trưởng đạt 3,15% bình quân
năm, cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi, chuyển dịch tích cực theo
hướng tỷ trọng trồng trọt giảm dần, tỷ trọng của chăn nuôi, thủy sản không
ngừng tăng. Tuy nhiên, kết quả đó mới chỉ là bước đầu, chưa tương xứng với
tiềm năng lợi thế của Tỉnh. Đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp còn chậm; đất đai còn nhỏ lẻ phân tán; chưa có nhiều vùng sản xuất
chuyên canh hàng hóa; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn
thấp; nông nghiệp chưa gắn bó chặt chẽ với công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ; nguồn lực đầu tư còn hạn chế; các thành phần kinh tế hoạt động
3
chưa hiệu quả; chất lượng lao động nông nghiệp còn thấp… đó là những điểm
nghẽn cản trở sự phát triển nông nghiệp bền vững…
Để thực hiện những mục tiêu phát triển nông nghiệp đã đề ra trong bối
vấn đề chủ yếu về lý luận và thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên quan
điểm phát triển bền vững, Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng
kinh tế trọng điểm Bắc bộ trên quan điểm phát triển bền vững. Định hướng và
các giải pháp bảo đảm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng kinh tế trọng
điểm Bắc bộ trên quan điểm phát triển bền vững.
Đề tài, “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam - Thông tin
chung” của PGS.TS Bùi Tất Thắng, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm
2009. Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành, những tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, đề
tài đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời
kỳ thực hiện chính sách đổi mới kinh tế. Trong đó, bao gồm cả quá trình
chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành và trong nội bộ các ngành. Phân tích, khái
quát tác động của những nhân tố mới cả trên thế giới và trong nước đối với xu
hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.
Bài báo, “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của tác giả Phan Ngọc Mai Hương, tạp
chí Kinh tế và Dự báo số 5, năm 2006. Bài báo đã tập trung trình bày về thực
trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, phân tích những ưu, khuyết điểm của
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở
phân tích thực trạng, tác giả đưa ra bốn quan điểm có tính chất định hướng
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên. Các định
hướng đề cập đến cơ sở và những yêu cầu thực hiện nhằm đảm bảo quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đúng hướng, đạt được những mục tiêu đã
định. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu để thúc đẩy quá
trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm hướng tới việc thực hiện thắng
lợi mục tiêu đặt ra đến 2020.
5
Bài báo “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - thực trạng và những vấn đề đặt
bản có tính khả thi nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những năm tới ở vùng này.
Lê Anh Vũ, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Viện Kinh tế
học, Hà Nội 2001. Tác giả đã hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về cơ cấu
kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng làm cơ sở vận dụng
vào quá trình xem xét, phân tích chuyển dịch cơ cấu nông thôn Tây Bắc. Thực
trạng chuyển dịch cơ cấu nông thôn Tây Bắc từ 1989 đến nay, phương hướng
và hệ quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vùng Tây Bắc. Một số
giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn Tây Bắc theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Nguyễn Đăng Bằng, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Trung
bộ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án Tiến sĩ khoa học kinh
tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Hà Nội, 2001. Tác giả đã trình
bày cơ sở lý luận, thực tiễn chuyển dịch cơ cấu nông thôn; đặc điểm tự nhiên,
kinh tế, xã hội Bắc trung bộ có ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu
nông thôn. Những giải pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Bắc Trung bộ gắn với tình hình đổi mới kinh tế đất nước.
Nguyễn Đức Thăng, Định hướng và những giải pháp kinh tế chủ yếu
để chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn tỉnh Lào Cai đến năm
2010, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà
Nội, 1996. Tác giả đã chỉ rõ thực trạng chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế
ở nông thôn tỉnh Lào Cai từ năm 1991 đến nay. Phương hướng và giải pháp
kinh tế về chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế (chủ yếu cơ cấu kinh tế nông
- lâm nghiệp) ở Lào Cai năm 2000 và 2010.
Nguyễn Thị Thanh Tâm, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh
Nam Định trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án Tiến sĩ
Kinh tế, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội. 2012. Tác giả đã khái quát những
7
Những bài viết trên của các tác giả nghiên cứu về nông nghiệp, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy
nhiên, ở phạm vi địa phương, theo nhận biết của tác giả, đến nay chưa có đề
tài, công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên dưới dạng một luận văn khoa học kinh tế chính
trị. Để thực hiện đề tài này, tác giả có lựa chọn và kế thừa một số kết quả
nghiên cứu đã được công bố, kết hợp khảo sát thực tiễn chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Hưng Yên
những năm qua để phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình
thực tế của địa phương trên cơ sở đường lối, quan điểm, chủ trương, chính
sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Hưng Yên.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Hưng
Yên trong thời gian qua.
- Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
*Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HƯNG YÊN
1.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
* Cơ cấu kinh tế
“Cơ cấu” là một thuật ngữ được dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỉ lệ
các mối quan hệ hợp thành hệ thống và được biểu hiện như là một tập hợp
mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định.
CCKT là một khái niệm rộng, phức tạp. Việc xác định đúng khái niệm
cơ cấu kinh tế sẽ góp phần làm rõ nội dung cơ cấu kinh tế và phương hướng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Bàn về CCKT của nền kinh tế quốc dân trong tác phẩm “Góp phần
phê phán kinh tế chính trị học”, khi phân tích quá trình phân công lao
động xã hội. C.Mác cho rằng: CCKT xã hội là toàn bộ những quan hệ sản
xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật
chất. Sở dĩ như vậy, vì ở mỗi trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất sẽ
quyết định những quan hệ sản xuất khác nhau, mối quan hệ giữa các bộ
phận cấu thành cũng khác nhau, tạo thành CCKT khác nhau, đặc biệt là cơ
cấu ngành, bởi gắn với mỗi ngành sản xuất khác nhau sẽ có tư liệu sản
xuất khác nhau, tổ chức quản lý khác nhau…Các bộ phận này cấu thành
lực lượng sản xuất vật chất của một xã hội nhất định. Bên cạnh đó, C.Mác
còn nhấn mạnh: CCKT là một sự phân chia về chất và một tỷ lệ về số
lượng của những quá trình sản xuất xã hội. Vì vậy, khi phân tích CCKT
phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng.
Do cách tiếp cận, mục đích, đối tượng nghiên cứu khác nhau nên cũng
có những cách hiểu khác nhau về CCKT, nhưng xét cho cùng thì CCKT là
11
Thông thường, các ngành trong CCKT được phân chia thành 3 nhóm:
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Trong từng nhóm ngành lại có sự phân
chia thành những phân ngành nhỏ hơn.
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu: CCKT là mối quan hệ tỷ lệ
giữa các nhân tố, các bộ phận cấu thành một chỉnh thể nhất định của nền
kinh tế; trong đó, tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế có vị
trí, vai trò khác nhau, phụ thuộc lẫn nhau và có mối quan hệ tương hỗ
tương đối ổn định hợp thành.
* Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đặc biệt, là một ngành kinh tế
sinh học có từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Sản xuất nông nghiệp có đối
tượng là những cơ thể sinh vật sống luôn tồn tại gắn với môi trường tự nhiên.
Đối với hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển, ngành nông nghiệp
hiện vẫn là ngành sản xuất vật chất cơ bản có vai trò to lớn, có chức năng cung
cấp những tư liệu sinh hoạt tối cơ bản và cần thiết cho con người. Cùng với sự
phát triển của sản xuất và tiêu dùng, sự tăng lên của thu nhập... phương thức thỏa
mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm của con người thay đổi cả về số lượng và
chất lượng, do vậy phương thức sản xuất ra sản phẩm và cách thức mà nông
nghiệp đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm cũng thay đổi. Đây chính
là cơ sở của việc đa dạng hoá các hoạt động kinh tế trong nông nghiệp.
Trong các loại cơ cấu kinh tế: CCKTNN, CCKT vùng, lãnh thổ và cơ
cấu thành phần kinh tế, CCKT ngành giữ vai trò quan trọng nhất và cũng là
bộ phận động nhất trong CCKT nói chung.
Theo cách phân loại của Liên hợp quốc: nền kinh tế của mỗi quốc gia
được chia làm 3 nhóm ngành (khu vực) lớn:
* Khu vực 1: là những ngành sản xuất sản phẩm sơ chế, có đầu vào từ
tự nhiên: nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp và công nghiệp khai thác.
* Khu vực 2: Công nghiệp chế biến, xây dựng.
quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng yêu cầu đó. Như vậy, CCKT
14
nói chung và CCKTNN nói riêng, trước hết tùy thuộc vào trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Song lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất nông nghiệp là hai mặt thống nhất. Thực chất của quan hệ
sản xuất trong nông nghiệp cũng được biểu hiện trên ba mặt: Quan hệ sở hữu
về tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức quản lý hay trao đổi hoạt động lao
động cho nhau và quan hệ về phân phối sản phẩm.
Tính lịch sử của CCKTNN thể hiện ở chỗ CCKTNN thường xuyên vận
động biến đổi làm cho số lượng và tỷ trọng các ngành, phân ngành nông nghiệp
thay đổi. Sở dĩ như vậy vì gắn với mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của lực
lượng sản xuất, của phân công lao động, có quan hệ sản xuất khác nhau tạo nên
sự biến đổi số lượng, tỷ trọng và vai trò khác nhau của các ngành nghề. Hơn thế,
quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt thống nhất trong một phương
thức sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung là yếu tố động nhất, cách
mạng nhất, lực lượng sản xuất luôn vận động và biến đổi; quan hệ sản xuất phải
vận động và biến đổi theo nó. Do vậy, CCKT nói chung và CCKTNN thay đổi
là một điều tất yếu.
Một CCKTNN hợp lý, hiện đại là cơ cấu có khả năng tạo ra quá
trình tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp và đáp ứng các điều kiện:
phù hợp các quy luật khách quan; tạo ra khả năng huy động, khai thác sử
dụng cao nhất, có hiệu quả nhất mọi nguồn lực (trước hết là nguồn lực của
nông thôn, nông dân), đáp ứng yêu cầu mở cửa, hội nhập quốc tế, nhằm
xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, phát triển
bền vững; phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới.
1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
CDCCKT nông nghiệp luôn được coi là nhiệm vụ trọng yếu, một nội
dung cơ bản lâu dài trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước
nhân dân trên địa bàn Tỉnh, trong đó giai cấp nông dân giữ vai trò nòng
cốt, quyết định.
Mục đích của CDCCKT nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh là nhằm xây
dựng, phát triển nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội
16
nhập kinh tế quốc tế, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của người lao động và góp phần thực hiện thắng lợi mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
CDCCKT nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên không chỉ đơn thuần là sự
thay đổi về tỷ trọng giữa ngành trồng trọt - chăn nuôi và các phân ngành
(cây lương thực; cây công nghiệp, rau quả; chăn nuôi gia súc, gia cầm…)
mà còn bao gồm sự thay đổi vị trí, tính chất mối quan hệ giữa các ngành,
phân ngành của lĩnh vực nông nghiệp. Việc CDCCKT nông nghiệp phải
dựa trên cơ sở của một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là
cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu tiên tiến,
hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới
hiện đại và phù hợp hơn.
Quá trình CDCCKT nông nghiệp là một quá trình diễn ra liên tục và gắn
liền với sự phát triển kinh tế. Ngược lại nhịp độ phát triển, tính chất bền vững
của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế lại phụ thuộc vào khả năng
CDCCKT nói chung và CDCCKT nông nghiệp nói riêng linh hoạt, phù hợp với
những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế so sánh tương đối của nền
kinh tế. Là một nước nông nghiệp, mối quan hệ giữa CDCCKT nông nghiệp và
sự phát triển chung của nền kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là
cả một động thái về phân bổ nguồn lực có hạn của quốc gia nói chung và của tỉnh
Hưng Yên nói riêng trong những thời điểm nhất định. Chính vì vậy, kết quả của
quá trình CDCCKT nông nghiệp còn là thước đo thể hiện tính hiệu quả của việc
nghiệp
CCKT nói chung và CCKTN nói riêng phản ánh cả về mặt lượng và
chất mối tương quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành của cơ cấu đó nên khi
đánh giá kết quả quá trình CDCCKT nói chung và CDCCKT nông nghiệp nói
riêng, cần chú ý cả những quan hệ tỷ lệ về mặt lượng cũng như phân tích sự
18
thay đổi về chất của các mối tương quan ấy. Theo đó, những tiêu chí cơ bản
có thể sử dụng để đánh giá kết quả CDCCKT nông nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm địa
phương (GRDP) của Tỉnh.
Đây là tiêu chí đầu tiên, quan trọng để đánh giá kết quả CDCCKT nông
nghiệp. Theo đó, trong cơ cấu GRDP tỷ trọng của ngành nông nghiệp luôn có xu
hướng giảm. Thậm chí ở những địa phương có điều kiện thuận lợi, tỷ lệ của ngành
nông nghiệp trong cơ cấu GRDP thường giảm rất nhanh. Mặt khác, trong so sánh
tương quan giữa ngành nông nghiệp với các ngành công nghiệp, dịch vụ, quá trình
CDCCKT nông nghiệp sẽ cho kết quả là: tỷ trọng nông nghiệp giảm, tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ tăng. Thời kỳ kết thúc CNH, HĐH tỷ trọng nông nghiệp giảm
với tốc độ rất nhanh đạt tới mức tối ưu, trong khi đó, tỷ trọng công nghiệp tăng
chậm (thậm chí có xu hướng giảm) còn tỷ trọng của ngành dịch vụ tăng với tốc
độ cao và trở thành ngành kinh tế chủ lực của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cùng với quá trình CDCCKT nông nghiệp, mặc dù tỷ
trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu GRDP giảm nhưng giá trị sản xuất của
ngành nông nghiệp thường vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng. Đây chính là
kết quả của việc áp dụng công nghệ - kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất nông
nghiệp góp phần tăng năng suất lao động của ngành.
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành (phân ngành) trồng trọt và
chăn nuôi và trong nội bộ ngành trồng trọt, chăn nuôi.
động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng. Thời kỳ hậu CNH, HĐH tỷ lệ
lao động nông nghiệp sẽ giảm nhanh xuống dần tới tỷ lệ tối thiểu, tỷ lệ lao
động công nghiệp bắt đầu có xu hướng giảm dần và tỷ lệ lao động trong ngành
dịch vụ sẽ có xu hướng tăng với tốc độ lớn.
Trong nội bộ ngành nông nghiệp, lao động trồng trọt sẽ giảm, trong khi lao
động trong lĩnh vực chăn nuôi tăng lên. Trong ngành trồng trọt, lao động trồng
cây lương thực (đặc biệt là trồng lúa) giảm, còn lao động trồng cây công nghiệp,
dược liệu, hoa, rau, quả… sẽ có xu hướng tăng mạnh. Đặc biệt, quá trình
20
CDCCKT nông nghiệp sẽ là quá trình giảm nhanh lao động thuần nông và hộ gia
đình có thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp.
1.2.3. Những nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên
Một là, tiến bộ khoa học - công nghệ.
Trong thời đại ngày nay, khoa học - công nghệ phát triển nhanh như vũ
bão. Tiến bộ khoa học và công nghệ diễn ra trên thế giới và trong nước có
ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế. Trước hết nó làm thay đổi
vị trí của các ngành kinh tế quốc dân. Sự phát triển của khoa học - công nghệ
không những làm thay đổi các công cụ sản xuất, tạo điều kiện nâng cao năng
suất lao động, hiệu quả sản xuất, mà nó còn làm thay đổi cả phương thức lao
động, tạo khả năng đổi mới khoa học - công nghệ trong các ngành kinh tế. Từ
đó làm cho năng suất lao động ngày càng tăng cao, tạo ra khả năng mở rộng
sản xuất của các ngành truyền thống; đồng thời hình thành nên các ngành sản
xuất kinh doanh mới. Sự thay đổi về tốc độ phát triển của các ngành cũng như
hệ thống các ngành mới chính là sự CDCCKT nông nghiệp nói riêng dưới tác
động của khoa học và công nghệ.
Trong kinh tế nông nghiệp, khoa học, kỹ thuật có những tác động với
chuyển và tiêu thụ sản phẩm, phát sinh nhu cầu mới từ khu vực lân cận nhằm
phát huy các tiềm năng tự nhiên, khai thác các lợi thế mới của vùng, tạo điều
kiện phát triển các ngành nghề kinh doanh mới. Đồng thời, đầu tư vốn giúp cho
người nông dân tiếp cận công nghệ hiện đại như công nghệ sinh học, các giống
cây trồng vật nuôi cho năng suất cao, vượt khỏi khả năng tích lũy của họ.
Do đó, cần có một giải pháp về vốn phù hợp sẽ thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Ba là, thị trường và trình độ phát triển của kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế hàng hóa, thị trường là khâu trung gian giữa sản xuất
và tiêu dùng, do đó luôn là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế và đặc biệt
nó làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và biến đổi giữa các ngành
22
kinh tế, nói đến thị trường là nói đến nhu cầu của con người cần được thỏa
mãn thông qua thị trường. Hơn nữa ở nước ta lượng dân cư tương đối lớn tập
trung ở vùng nông thôn nên nó đã tạo ra một thị trường sôi động với các hàng
hóa nông sản có giá trị kinh tế cao, rất gần gũi và quen thuộc đối với đời sống
hàng ngày của con người, nếu mức thu nhập của nhân dân cao tạo sức mua
lớn thị trường nông thôn; đồng thời cũng phụ thuộc vào việc nền kinh tế xây
dựng cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế như thế nào? Và điều hết sức quan
trọng là phải giải quyết được vấn đề cơ bản của thị trường: sản xuất cái gì, sản
xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Sản xuất cái gì? Vấn đề cơ bản kinh tế
nhất phải lựa chọn là sản xuất những loại hàng hóa và dịch vụ, số lượng bao
nhiêu, chất lượng ra sao để có thể thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường. Muốn
vậy, phải nắm bắt được nhu cầu trong nước và ngoài nước, nhu cầu về chủng
loại, về số lượng, chất lượng, về thời gian cung ứng, xác định nhu cầu thị
trường không thể tìm ngay trong quan hệ cung cầu hàng hóa, mà phải thông
qua giá cả thị trường.
Thực tiễn phát triển kinh tế nước ta trong những năm gần đây cho thấy
chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng.
Quy mô dân số, kết cấu dân cư và thu nhập của họ có ảnh hưởng lớn
đến quy mô và cơ cấu của nhu cầu thị trường. Vì vậy, việc nâng cao trình độ
dân trí, đào tạo nguồn nhân lực là yêu cầu cấp bách bởi lẽ nếu không có đội
ngũ các nhà khoa học có trình độ cao làm đầu tàu trong nghiên cứu, ứng
dụng, triển khai công nghệ hiện đại phục vụ sản xuất nông nghiệp hoặc lực
lượng lao động trong nông nghiệp không được đào tạo, chuyển giao công
nghệ thì không thể nói đến tăng trưởng kinh tế cao và bền vững.
1.3. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một
số địa phương và bài học rút ra cho Hưng Yên
1.3.1. Kinh nghiệm của một số địa phương trong chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương
24
Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Từ ngàn xưa nơi
đây đã là lá chắn cửa ngõ phía Đông của kinh thành Thăng Long. Trải qua
bao biến thiên của lịch sử, đất và người Hải Dương luôn kiên cường trong đấu
tranh, cần cù và sáng tạo trong lao động, góp phần xứng đáng vào việc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm ở vị trí
có nhiều hướng tác động mang tính liên vùng, Hải Dương có vai trò quan
trọng làm cầu nối Thủ đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng, thành phố
du lịch Hạ Long; cung cấp sản phẩm hàng hóa quan trọng và là địa bàn tham
gia quá trình trung chuyển hàng hóa giữa hệ thống cảng biển và các thành
phố, các tỉnh trong vùng và cả nước; do vậy, vừa có cơ hội đóng vai trò là một
trong những động lực phát triển, vừa phải đối mặt với các thách thức trong
cạnh tranh khai thác và phát triển các ngành hàng có cùng lợi thế. Trong triển
vọng, Hải Dương sẽ phải trở thành trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công