Luận văn thạc sỹ giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của tỉnh Nghệ An (ngành kinh tế nông nghiệp) - Pdf 25

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤUKINH TẾ
NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
CỦA TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 - 31 - 10
SV TH: PHẠM NGUYỆT THƯƠNG
Người HD khoa học: TS. Đoàn Quang Thiệu
LỜI CẢM ƠN
Cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới tất cả các đơn vị, cánhân
đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và
hoàn thành bản luận văn này. Trước hết tôi xin chân thành cảmơn sâu sắc tới TS.
Đoàn Quang Thiệu - giáo viên trực tiếp hướng dẫn và giúpđỡ tạo điều kiện cho
tôi trong suốt quá trình nhgiên cứu và hoàn thành bảnluận văn này. Tôi xin bày
tỏ sự biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo Đại học kinh tế vàQuản trị kinh doanh Thái
Nguyên, khoa sau Đại học, cùng toàn thể quý thầycô giáo. Tôi xin chân thành
cảm ơn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thônNghệ An, Sở Kế hoạch và Đầu
tư tỉnh Nghệ An, Cục thống kê Nghệ An, SởLao động và thương binh xã hội tỉnh
Nghệ An, UBND tỉnh Nghệ An, UBNDthành phố Vinh, UBND các huyện trên
địa bàn tỉnh Nghệ An và toàn thể cáchộ gia đình, cá nhân đã giúp đỡ tôi trong
điều tra, phỏng vấn, thu thập số liệuđể hoàn thành luận văn này. Tôi xin cảm ơn
sâu sắc tới ban lãnh đạo trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹthuật Nghệ An, chân
thành cảm ơn tập thể ban chủ nhiệm khoa và giáo viênkhoa Kế Toán- Phân tích
trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Nghệ An, cácđồng nghiệp, gia đình, bạn bè
đã động viên giúp đỡ tôi trong thời gian họctập, nghiên cứu và hoàn thành luận
văn. Thái Nguyên, ngày tháng năm 2008 Tác giả Phạm Nguyệt ThươngSố hóa
bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC
1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁPNGHIÊNCỨU

1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theohướng sản xuất hàng
hoá 5
1.1.1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 5
1.1.2. Sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theohướng
sản xuất hàng hoá 14
1.1.3. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản
xuấthàng
hoá 21
1.1.4. Tác động của hội nhập kinh tế Quốc tế đến sản xuất hàng hoá và
chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hoá 23
1.1.5. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sảnxuất
hàng hoá một số nước trên thế giới và Việt Nam 25
1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Các phương pháp nghiên cứu 32
1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾNÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TẠI TỈNH
NGHỆ AN
2.1. Đặc điểm của tỉnh Nghệ An. 35
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên 35
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 39
2.2. Cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Nghệ An trong tiến trình hộinhập
kinh tế quốc tế và khu vực 44
2.3. Thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tình hình chuyển dịch cơ cấukinh

phẩm cho dân cư cả nước, là nơi cung cấp nguyên liệu cho nhiềungành kinh tế
quốc dân, là thị trường tiêu thụ quan trọng của công nghiệp vànhiều ngành kinh
tế khác. Do vậy, công cuộc Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá(CNH, HĐH) đất
nước với mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ văn minh"
được bắt đầu bằng việc phát triển kinh tế ở khu vực nôngthôn. Từ Đại hội lần thứ
V Đảng Cộng sản Việt Nam (1982) nông nghiệpđược coi là "Mặt trận hàng đầu".
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 do Đại hội Đảng IX thông qua
tiếp tục khẳng định quan điểm này. Mụctiêu, phương hướng phát triển kinh tế -
xã hội 2006 - 2010 của Đại hội ĐảngX nêu rõ: Tiếp tục đẩy mạnh và coi trọng
CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn. Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôntheo hướng sản xuất lớn, gắn với công nghiệp chế
biến và thị trường; thựchiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá nhằm nâng
cao năng suất, chấtlượng và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng,
từng địa phương.Tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, tạo
điều kiện pháttriển các khu công nghiệp công nghệ cao, các vùng trồng trọt và
chăn nuôi tậptrung, các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn với làng nghề,
các loạihình sản xuất trang trại, hợp tác xã (HTX), sản xuất các loại sản phẩm có
thịtrường và hiệu quả kinh tế cao. Nghệ An là một tỉnh lớn nằm ở phía Bắc
Trung Bộ, trên tuyến giao lưukinh tế - xã hội Bắc Nam, với diện tích đất tự nhiên
là 1.648.729,74 ha và cóhơn 3,1 triệu người sinh sống. Nông nghiệp vừa là bộ
phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, vừa có điều kiện phát triển theo
hướng sản xuất hànghóa. Vì vậy, nông nghiệp là ngành được đặc biệt chú trọng
trong chiến lượcphát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An. Trong nhiều năm qua, mức
độ chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Nghệ An đã diễn
ranhanh hơn nhưng vẫn còn nhiều tiềm năng trong nông nghiệp chưa được
khaithác. Sản xuất nông nghiệp còn mang tính nhỏ lẻ, sản xuất tự cung, tự cấp
làchủ yếu. Sản phẩm nông nghiệp làm ra chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng của
hộgia đình và thị trường nội địa, có hướng tới xuất khẩu nhưng chưa nhiều
vàhiệu quả chưa cao, chưa phát huy hết lợi thế và tiềm năng của tỉnh. Ngànhchăn
nuôi chưa phát huy hết lợi thế; tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt trongtổng giá trị

tỉnh Nghệ An trong những năm qua dựa trên định hướng vàmục tiêu chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tìm ra những căn cứ, đềxuất giải pháp chuyển dịch
cơ cấu kinh tế cho giai đoạn tiếp theo.
IV - BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên
cứu.
Chương 2: Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nôngnghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Nghệ An
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh
tếnông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Nghệ An
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾNÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
1.1.1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
* Khái niệm về cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nền kinh tế
của mỗi nước là một tổ hợp phức tạp, bao gồm các bộ phậnvà phân hệ hợp
thành. Việc phân tích, đánh giá cơ cấu kinh tế đòi hỏi phảixem xét cấu trúc bên
trong của nền kinh tế, biểu hiện ở những mối quan hệkinh tế giữa các bộ phận và
giữa các phân hệ của các bộ phận đó trong hệthống kinh tế. Những mối quan hệ
kinh tế đó ràng buộc lẫn nhau và được biểuhiện ở những quan hệ về mặt lượng
cũng như quan hệ về mặt chất. C.Mác đãchỉ ra rằng: “Cơ cấu kinh tế là sự phân
chia về chất lượng và tỉ lệ về số lượngcủa quá trình sản xuất xã hội" [6]. Khi có
sự thay đổi của một số bộ phận vàphân hệ nào đó trong hệ thống kinh tế sẽ làm
thay đổi các bộ phận và phân hệcòn lại, hoặc ngược lại. Trong khi phân tích và
đánh giá một cơ cấu kinh tếtrên quan điểm hệ thống nhất thiết phải chỉ ra được
định lượng và định tínhcủa các quan hệ kinh tế. Là kết quả của quá trình phân
công lao động xã hội, cơ cấu kinh tếphản ánh mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất

rộng, cơ cấu kinh tế cũng ngày càng tiến bộ. Muốn xác lập cơ cấu kinh tế hợp lý,
phù hợp với những mục tiêu,chiến lược kinh tế - xã hội của các thời kỳ lịch sử
nhất định, con người phảinghiên cứu các quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế -
xã hội. Đó là sự đòi hỏibức thiết. Nghiên cứu hoạch định và dự báo cơ cấu kinh
tế hiện tại và trongtương lai là việc làm cần thiết của các nhà lý luận và những
người quản lý. Từđó yêu cầu trước hết phải đặt ra là nghiên cứu cơ sở khoa học
và thực tiễn cácchính sách vĩ mô, các mô hình kinh tế cụ thể, những vấn đề kinh
tế vi mô [1]. Từ sự phân tích trên có thể khái quát cơ cấu kinh tế như sau: “Cơ
cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế củamỗi nước. Các
bộ phận đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫnnhau và biểu hiện ở các
quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượngtrong những không gian và
thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiệnkinh tế- xã hội nhất định, nhằm
đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao” [13]. Nền kinh tế quốc dân là một tổ hợp
đa ngành, đa lĩnh vực. Trên góc độkhông gian lãnh thổ của mỗi nước, người ta
phân chia ra thành kinh tế nôngthôn và kinh tế thành thị. Sự phân biệt giữa kinh
tế nông thôn và kinh tế thànhthị dựa vào sự khác nhau về địa lý, gắn liền về trình
độ phát triển lực lượngsản xuất, phân công lao động xã hội và những đặc thù của
các ngành. Khuvực nông thôn bao gồm một không gian rộng lớn, ở đó cộng
đồng dân cư sinhsống và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp (theo
nghĩa rộng) vớicác hoạt động kinh tế - xã hội gắn liền với lĩnh vực đó. Kinh tế
nông thôn làmột tổng thể các ngành kinh tế trong khu vực nông thôn. Kinh tế
nông thôngồm các ngành liên quan mật thiết với nhau: Nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngưnghiệp và bao gồm cả công nghiệp, dịch vụ trong nông nghiệp [13].
Cácngành kinh tế đó quan hệ chặt chẽ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về
sốlượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất lượng. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
làmột bộ phận của hệ thống cơ cấu kinh tế quốc dân, phụ thuộc vào cơ cấu kinh
tế quốc dân, nhưng nó cũng mang tính độc lập tương đối. Vậy cơ cấu kinh
tếnông nghiệp được hiểu: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan
hệ theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế
xã hội liên quanđến sản xuất nông nghiệp trong một khoảng thời gian và không

nghiệpmột cách khách quan, yêu cầu đặt ra là cơ cấu nông nghiệp phải đảm
bảotương đối ổn định. Nếu cơ cấu kinh tế nông nghiệp thường xuyên thay
đổi,xáo trộn sẽ làm cho các quá trình sản xuất kinh doanh không ổn định,
quátrình đầu tư lúng túng, lưu thông hàng hoá trở ngại, làm cho kinh tế
nôngnghiệp, nông thôn phát triển què quặt và phiến diện, gây lãng phí, tổn thất
chonền kinh tế. [13] - Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính hợp tác và cạnh
tranh Trong việc lựa chọn một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, có hiệuquả cao
phải xem xét đầy đủ các yếu tố từ bên ngoài ảnh hưởng đến việc hìnhthành cơ
cấu kinh tế và mối liên hệ giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài. Sựgắn bó
được biểu hiện trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội, trong
việc bố trí sản xuất, hoạch định các chính sách, ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ
thuật và công nghệ mới, tổ chức quá trình sản xuất kinh doanhchế biến và tiêu
thụ sản phẩm … * Các yếu tố cấu thành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông
thôn, co cấu kinh tế nông nghiệp là sản phẩm của phân công lao động xã
hội.Phân công lao động xã hội diễn ra liên tục và phát triển cùng với sự phát
triểncủa lực lượng sản xuất xã hội. Phân công lao động xã hội gồm hai hình
thứccơ bản: Phân công lao động xã hội theo ngành và phân công lao động xã
hộitheo lãnh thổ. Hai hình thức cơ bản của phân công lao động xã hội đó gắn
bóvới nhau. Sự phát triển của phân công lao động xã hội theo ngành kéo theo
sựphát triển của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, ngược lại mỗi bướctiến
của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ lại góp phần quan trọng chobước
phát triển mới cho phân công lao động xã hội theo ngành. Sự phát triểnđó là
thước đo trình độ phát triển chung của mỗi dân tộc. Phân công lao độngxã hội và
chế độ sở hữu tạo ra cơ cấu các thành phần kinh tế. Cơ cấu kinh tếhợp lý sẽ thúc
đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho người sảnxuất kinh doanh năng
động hơn, cho phép khai thác các tiềm năng và lợi thếcó hiệu quả hơn [4]. Như
vậy xét trên tổng thể cơ cấu kinh tế nông nghiệp baogồm: Cơ cấu ngành, Cơ cấu
vùng lãnh thổ, Cơ cấu thành phần kinh tế và Cơcấu kỹ thuật. - Cơ cấu kinh tế
nông nghiệp - nông thôn theo ngành Cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp - nông
thôn thể hiện các mối quanhệ tỷ lệ giữa các ngành trong nông thôn: Nông nghiệp

làmcho người lao động và tăng thu nhập, sử dụng hợp lý và nâng cao hiệu
quảcủa các nguồn lực ở nông thôn; thúc đẩy kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông
thôn phát triển nhanh; góp phần phân bố hợp lý lực lượng lao động, thu
hẹpkhoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn. Dịch vụ là ngành kinh
tế ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triểnkinh tế Quốc dân và nâng cao
mức sống nhân dân. Dịch vụ nông nghiệp xéttheo quan điểm hệ thống là một bộ
phận thuộc ngành dịch vụ của cả nước,đồng thời là một bộ phận cấu thành kinh
tế nông nghiệp - nông thôn gắn liềnvới tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn, dịch vụ nông nghiệp cũngngày càng phát triển với nhiều chủng loại phong
phú cả trong dịch vụ sản xuấtvà dịch vụ đời sống. Như vậy dịch vụ nông nghiệp
phát triển là đòi hỏi kháchquan của sản xuất và nâng cao mức sống dân cư nông
thôn. Sự phát triển củadịch vụ nông nghiệp làm cho hoạt động kinh tế ở nông
thôn ngày càng phongphú và đa dạng, thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh
tế khác ở nôngthôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đạt hiệu
quả cao. Trongnội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu kinh tế biểu hiện mối quan hệ
tỷ lệ giữatrồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ phục vụ nông nghiệp. Đây là mối quan
hệphản ánh sự phát triển một cách toàn diện nhằm đạt hiệu quả cao của sản
xuấtkinh doanh nông nghiệp. Ngoài ra cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông
nghiệpcòn biểu hiện mối quan hệ giữa sản xuất nguyên liệu nông sản và chế biến
- Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp - nông thôn theo vùng lãnh thổ Ở mỗi Quốc
gia, trên cơ sở những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,quá trình phát triển các
vùng kinh tế sinh thái được hình thành và phát triển.Cơ cấu ngành và cơ cấu
vùng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cơ cấu vùnglà nhân tố hàng đầu để tăng
trưởng và phát triển bền vững các ngành kinh tếnông nghiệp- nông thôn được
phân bố ở vùng. Mục đích của việc xác lập cơcấu kinh tế vùng một cách hợp lý
là bố trí các ngành theo lãnh thổ vùng saocho thích hợp và sử dụng có hiệu quả
các tiềm năng lợi thế của từng vùng.Như vậy để phát triển các ngành bố trí trên
mỗi vùng nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh của vùng, tạo ra nhiều sản phẩm
hàng hoá đòi hỏi phải pháttriển mạnh công nghiệp nông thôn và dịch vụ trong
nông nghiệp, giải quyếthợp lý mối quan hệ giữa nông nghiệp (theo nghĩa hẹp)

cả các ngành kinh tế cũngnhư trong nội bộ một ngành kinh tế. Thông thường
chuyển dịch cơ cấu kinh tếchung diễn ra trước, sau đó mới đòi hỏi sự chuyển
dịch trong nội bộ từng ngành. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá
trình làm biến đổi cấutrúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo
những định hướng vàmục tiêu nhất định, nghĩa là đưa hệ thống đó từ một trạng
thái nhất định tớitrạng thái phát triển tối ưu để đạt được hiệu quả mong muốn,
thông qua sựđiều khiển có ý thức của con người, trên cơ sở vận dụng đúng đắn
các quyluật khách quan.
1.1.2. Sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theohƣớng sản xuất hàng hoá
1.1.2.1. Hàng hoá và sản xuất hàng hoá
* Hàng hoá Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn một nhu
cầu nàođó của con người và dùng để trao đổi với nhau. Hàng hoá có hai thuộc
tính:Giá trị và giá trị sử dụng [4] Như vậy một sản phẩm sản xuất ra được đem
trao đổi thì được coi làhàng hoá, và muốn trao đổi được thì hàng hoá đó phải có
một giá trị nhất định (giá trị của hàng hoá), sản phẩm đó phải đáp ứng nhu cầu
của người sử dụng(giá trị sử dụng). Sản phẩm, hàng hoá trao đổi trên thị trường
chịu sự chi phốicủa hai quy luật: Quy luật cung cầu và Quy luật cạnh tranh.
* Sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá đánh dấu một mốc quan trọng
trong tiến trình pháttriển kinh tế của mỗi nước. So với nền kinh tế tự nhiên, tự
cung, tự cấp, kinhtế hàng hoá có những ưu việt nổi bật. Trong nền sản xuất hàng
hoá, sản phẩmsản xuất ra là để bán nên nó chịu sự chi phối của các quy luật giá
trị, quy luậtcung cầu và quy luật cạnh tranh, buộc các tập thể sản xuất, người sản
xuấtphải tổ chức lại sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất và chất lượng
sảnphẩm, hạ giá thành sản phẩm, thay đổi mẫu mã cho phù hợp với nhu cầu
tiêudùng của xã hội. Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy nhanh
quátrình xã hội hoá sản xuất và càng tạo điều kiện cho nền sản xuất CNH -
HĐHra đời. Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã
hộigắn liền với hai điều kiện: Sự phân công lao động xã hội và các hình thức
sởhữu. Phân công lao động xã hội ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫnchiều

còn làm tăng giá trị tổngsản lượng nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất hàng hóa và
nhất là tăng giá trịnông sản xuất khẩu [10]. Để đánh giá được hiệu quả của việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu
như: Cơ cấu GDP, cơ cấu laođộng, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu sử dụng đất, năng
suất cây trồng, vật nuôi, năng suất lao động … Để đánh giá quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cần sử dụng chỉ
tiêu tỷ suất nông sảnhàng hoá và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trong sản
xuất nôngnghiệp. Căn cứ vào mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và nguồn tài liệu cho
phépmà lựa chọn chỉ tiêu phù hợp để phân tích làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.
Tínhquy luật của sự biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Tỷ trọng nông
nghiệptrong GDP giảm, số người lao động trong khu vực sản xuất lương thực
giảmtương đối và tuyệt đối.
* Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướngsản
xuất hàng hoá và phát triển bền vững - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theo hướng sản xuất hànghoá nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị
trường, phù hợp với nhucầu của người tiêu dùng và xu thế phát triển kinh tế hội
nhập quốc tế. Thực trạng kém phát triển của nền kinh tế nước ta trong quá
trìnhchuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ngành nông nghiệp đang phải
hứngchịu và đối mặt với nhiều thách thức, bởi vì trong nền kinh tế thị trường
thìthị trường luôn là yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế và đặc biệt nó
sẽảnh hưởng quyết định đến việc hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế nóichung
và cơ cấu nông nghiệp nói riêng. Trong khi xã hội không ngừng pháttriển, nhu
cầu của con người về nông phẩm theo đó cũng tăng lên cả về sốlượng, chất
lượng, chủng loại, giá cả… Chính yêu cầu đòi hỏi của thị trường,buộc sản xuất
phải đáp ứng, dẫn tới yêu cầu đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ.Thị trường và
nhu cầu càng phát triển thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp càngphải biến đổi phong
phú và đa dạng hơn. Đương nhiên, nền kinh tế thị trườngcó thể thừa nhận những
cơ cấu kinh tế hiệu quả, nghĩa là cơ cấu đó có khảnăng đem lại lợi nhuận và thu
nhập cao nhất cho người sản xuất. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp mang lại lợi ích kinhtế ngày càng cao cho nông dân phù hợp với nguyện

hóa, tinhthần của nhân dân. Y tế, giáo dục ở nông thôn cũng được đầu tư vừa
nâng caosức khỏe vừa nâng cao dân trí. Việc nâng cao dân trí sẽ giúp cho nông
dânđược tiếp xúc với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và nền kinh tế thị
trường.Chính vì vậy, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã
vàđang từng bước góp phần tích cực tới quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoánông nghiệp và đô thị hoá nông thôn, xây dựng nông thôn mới. - Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá nhằm tạo ra một
nền sản xuất chuyên môn hoá, thâm canh cao và các liênkết ngành nghề chặt chẽ
với nhau hơn. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tạo ra một
nềnsản xuất chuyên môn hoá cao, thâm canh tạo ra nhiều nông sản hàng hoá
cóchất lượng. Những sản phẩm truyền thống và ngành nghề truyền thống
cóthương hiệu của vùng được khai thác, được chuyên môn hoá sản xuất
theovùng có lợi thế nhất. Những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ mới được
ápdụng, tạo cho sản xuất một bước nhảy vọt cả về số lượng và chất lượng. Từsản
phẩm của một vùng, từ chưa có thị trường ổn định và thương hiệu để cạnh tranh
trên thị trường đòi hỏi phải gắn sản xuất với chế biến, hình thành cáchiệp hội, tạo
ra thương hiệu đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. - Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá góp phần thúc đẩy quá trình
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Phát triển nông nghiệp hàng hoá cũng
xuất phát từ yêu cầu của CNH -HĐH; đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực,
thực phẩm cho nhân dân;nguyên, vật liệu cho công nghiệp chế biến; tăng nhanh
khối lượng nông sảnxuất khẩu; giải quyết công ăn việc làm để tăng thu nhập cho
nông dân, từ đómở rộng thị trường cho sản phẩm và dịch vụ công nghiệp; bổ
sung lực lượnglao động cho các ngành công nghiệp và nông nghiệp phát triển sẽ
góp phầntích luỹ vốn cho CNH - HĐH. Nền kinh tế nước ta còn nghèo, khả năng
đầu tư của Nhà nước có hạn,do đó chúng ta cần phải phát huy mọi tiềm năng
(vốn, kỹ thuật, kinh nghiệmquản lý …) của các thành phần kinh tế để phục vụ
cho sự nghiệp CNH, HĐH.Thực tế cho thấy, vốn tiềm tàng trong nhân dân khá
lớn, vốn của kiều bào ởnước ngoài có thể kêu gọi đầu tư để xây dựng đất nước
không phải là nhỏ,điều quan trọng là Nhà nước phải có hướng dẫn đầu tư vào

tếnông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành; chuyển dịch cơ cấu
vùng;cơ cấu thành phần kinh tế tham gia trong nông nghiệp và cơ cấu kỹ thuật.
Cơ cấu ngành kinh tế của nông nghiệp nông thôn bao gồm: nông nghiệp;công
nghiệp nông thôn (tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và ngành nghề
truyền thống); dịch vụ nông thôn (dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống).Trong
nội bộ ngành nông nghiệp lại được phân nhỏ thành những ngành nhỏ hơnnhư:
trồng trọt, chăn nuôi… hoặc trong trồng trọt lại chia thành: cây lương thực,cây
rau đậu thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp… Phân công lao động thực hiện
càng sâu sắc thì cơ cấu ngành càng đượcphân chia tỷ mỉ và đa dạng, nhưng trong
quá trình chuyển đổi cơ cấu vẫn phảiđảm bảo năng suất lao động của khu vực
sản xuất lương thực đạt được ở mứcnhất định. Trước hết đảm bảo số lượng và
chất lượng lương thực cần thiết chotoàn xã hội, sau đó mới tạo nên sự phân công
giữa những người sản xuất lươngthực, người làm chăn nuôi và những người sản
xuất nguyên liệu cho côngnghiệp, tạo nên sự phân công lao động giữa những
người sản xuất nông nghiệpvà người làm ngành khác. Như chúng ta đã biết, theo
kinh tế chính trị học của Mác - Lênin thì sựphân công lao động theo ngành kéo
theo sự phân công lao động theo vùng,lãnh thổ. Sự phân công lao động theo
ngành bao giờ cũng diễn ra trên nhữngvùng lãnh thổ nhất định. Như vậy, xác
định cơ cấu vùng lãnh thổ là bố trí cácngành sản xuất và dịch vụ theo không gian
và địa điểm cụ thể, phù hợp nhằmkhai thác tối ưu mọi ưu thế, tiềm năng to lớn
của mỗi vùng, lãnh thổ. Hìnhthành các vùng chuyên môn hoá và sản xuất hàng
hoá tập trung quy mô lớn,có hiệu quả cao, mở rộng mối quan hệ với các vùng
chuyên môn hoá khácgắn với cơ cấu kinh tế của cả nước và của mỗi vùng miền.
Để hình thành cácvùng sản xuất chuyên môn hoá tập trung mang lại hiệu quả
kinh tế cao, trướchết cần hướng vào những vùng có lợi thế so sánh về sự thuận
lợi trong việcphát triển từng loại cây con cụ thể, vị trí địa lý, giao thông thuận
lợi, có điềukiện mở rộng thị trường tiêu thụ và thị trường các yếu tố đầu vào,
thuận lợicho việc mở rộng giao lưu kinh tế với các vùng trong và ngoài khu vực,
trong nước cũng như trên thế giới để có thể tiếp cận một cách nhanh nhất
nhữngphát triển của thị trường hàng hoá và dịch vụ. Cơ cấu kinh tế theo thành

sự là vấn đề khó khăn nhưng vô cùngcần thiết đối với Việt Nam trên “sân chơi”
của WTO. Thực hiện chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu, Việt Nam đã
pháthuy lợi thế sẵn có của một số mặt hàng nông sản, tạo ra những mặt hàng
cónăng lực sản xuất lớn sức cạnh tranh cao và kim ngạch xuất khẩu xếp hạngcao
trên thế giới như: hồ tiêu đứng thứ nhất, gạo và điều đứng thứ 2, chè vàthuỷ sản
đứng thứ 7 trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông,lâm, thuỷ
sản giai đoạn 2001- 2006 tăng 14,97%/ năm. Nông sản Việt Nam đã được xuất
khẩu tới hơn 80 nước trên thế giới,hầu hết là các nước thành viên WTO. Châu Á
là thị trường lớn nhất của nôngsản Việt Nam, sau đó là Châu Âu và Bắc Mỹ. Gia
nhập WTO, Việt Nam đã phải đàm phán tất cả các nội dung liênquan đến nông
nghiệp, cam kết điều chỉnh các chính sách trong nước cho phùhợp với quy định
của WTO, cam kết mở cửa thị trường, mở rộng quyền kinhdoanh xuất khẩu,
quyền phân phối cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước,giảm thuế hàng nông
sản, không trợ cấp xuất khẩu nông sản. Lĩnh vực nôngnghiệp Việt Nam có nguy
cơ phải đối mặt với sự cạnh tranh quá mạnh của cácnền sản xuất lớn trong khi
sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp cũngnhư các doanh nghiệp nông
nghiệp còn quá yếu, do nhiều nguyên nhân: nềnnông nghiệp Việt Nam đang ở
trình độ phát triển thấp, quy mô sản xuất nhỏ bé, manh mún, năng suất, chất
lượng nông sản chưa cao; phần lớn các doanhnghiệp Việt Nam hạn hẹp về tài
chính, thiết bị và công nghệ lạc hậu, chưa cókinh nghiệm tổ chức sản xuất và
kinh doanh; vùng nguyên liệu quy mô nhỏbé, phân tán, chưa được đầu tư tương
xứng với nhu cầu sản xuất. Khi gia nhậpWTO, mặc dù Việt Nam không còn bị
phân biệt đối xử với các thành viêntrong WTO, nhưng rào cản Quốc tế chưa phải
là hết, thậm chí còn có nhữngrào cản càng lớn hơn trước như: rào cản về kỹ thuật
và vệ sinh an toàn thựcphẩm; rào cản chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ
thương mại … Trong điều kiện mới, khi đã có những cam kết với WTO, việc lựa
chọnnhững biện pháp hỗ trợ cho hàng nông sản Việt Nam ở cả thị trường
trongnước, trong khu vực và thị trường Quốc tế cần phải triệt để tận dụng
nhữngưu đãi đã dành được trong quá trình đàm phán; đồng thời tuân thủ những
quyđịnh khắt khe của WTO về các biện pháp hỗ trợ từ phía Chính phủ,

sản xuất hàng hoá và bền vững. Từ đó, Trung Quốc xác định để chuyển dịch
CCKT nông nghiệp, nôngthôn phục vụ CNH, HĐH đất nước cần phải rút ra
những bài học kinh nghiệm. Thứ nhất, phải phát triển nông nghiệp toàn diện trên
cơ sở đảm bảo đượcan toàn lương thực cho đời sống xã hội nói chung và khu
vực nông thôn nói riêng. Thứ hai, mở rộng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
truyền thống vàcác ngành công nghiệp, xây dựng khác để vừa phục vụ sản xuất
nông nghiệp, bảo quản, chế biến, xuất khẩu nông sản hàng hoá, vừa thu hút lao
động dưthừa trong nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân. Thứ ba, thực hiện
nhất quán cơ chế thị trường ở nông thôn có sự quảný của nhà nước trong việc
dịch vụ cung ứng vật tư, tiền vốn, kỹ thuật và cáclao vụ khác, đồng thời còn tiêu
thụ nông sản hàng hoá thông qua các tổ chứckinh tế tập thể (HTX), thôn, xã, nhà
nước và một bộ phận nhỏ do nông dân tựnguyện lập ra trên các vùng nông thôn
Trung quốc. Nhà nước luôn duy trì được vai trò quản lý vĩ mô trong việc
chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn để dẫn đường các cơ cấu
kinh tếđịa phương có bước đi phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đồng thời đảm
bảonguyên tắc định hướng cho quá trình chuyển dịch này.
1.1.5.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản Tuy nằm trong vùng Đông Á, song
Nhật Bản lại có điều kiện tự nhiên,kinh tế- xã hội lúc xuất phát khá giống nước
ta. Người dân Nhật Bản nổi tiếnglà cần cù, chịu khó và rất thông minh sáng tạo,
nhưng trước đây họ vẫn phảichấp nhận chế độ khẩu phần lương thực, thực phẩm
do Mỹ cung cấp. Có thểnói đây cũng là một tình cảnh chung của các nước Châu
Á trước khi bước vàothời kỳ phát triển. Mặc dù vậy nhân dân Nhật Bản đã vượt
lên nhanh chóngvà trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển
hàng đầu thếgiới. Có thể nói Chính phủ Nhật Bản đã sớm tìm ra được hướng đi
và lựachọn bước đi thích hợp cho nền kinh tế nói chung, trong đó có ngành nông
nghiệp. Ngay từ những năm 50, trong chính sách khôi phục kinh tế, Chính
phủNhật Bản đã coi nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng là quan
trọnghàng đầu. Trong đó trọng tâm là thực hiện an toàn lương thực, thực phẩm
vàphát triển tổng hợp các cây, con khác. Vì vậy, đến đầu thập kỷ 80, nôngnghiệp
Nhật Bản không những sản xuất đủ ăn mà còn dự trữ được 6 triệu tấnnông sản.

dạng hoá nền kinh tế hướng vào sản xuất sản phẩmcho xuất khẩu. Do thay đổi
chính sách phát triển kinh tế nên các tiềm năngtrong nông nghiệp bắt đầu phát
huy tác dụng và đạt được những kết quả rấtđáng kể sau một thời gian. Đến nay,
nông sản hàng hoá của Thái Lan đã xuấtkhẩu đến nhiều nước trên thế giới, có
những mặt hàng xuất khẩu xếp thứ 2,thứ 3 trên toàn thế giới. Qua quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp- nông thôn nhằm chuyển dịchcơ cấu kinh tế nông
nghiệp, Thái Lan đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: - Thực hiện đa dạng
hóa sản xuất nông nghiệp trên cơ sở ưu thế và tàinguyên thiên nhiên để phục vụ
cho mục tiêu xuất khẩu, trong đó vẫn đảm bảosản xuất lương thực. - Đầu tư kịp
thời chế biến nông sản hiện đại bằng nguồn vốn vay hayhợp tác với bên ngoài để
nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu, đảm bảoquyền lợi và tránh được rủi ro
cho nông dân, giữ được chữ tín với khách hàng. Qua các kinh nghiệm chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của cácnước trên chúng ta có thể rút ra một số
bài học kinh nghiệm tổng quát: Một là, trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế,
Chính phủ của hầu hếtcác nước đều có chủ trương coi trọng sản xuất nông
nghiệp, lấy tăng trưởngnông nghiệp làm cơ sở để ổn định đời sống xã hội và tích
luỹ bước đầu chocông nghiệp. Hai là, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp cácnước đã từng bước thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp - nông
thôn.
Ba là, kinh tế nông thôn chỉ có thể phát triển khi mọi thành phầm kinhtế
trong khu vực hướng vào sản xuất hàng hoá, trong đó lực lượng sản xuấtchủ yếu
là nông dân tham gia sản xuất nông nghiệp. Bốn là, nghiên cứu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp các nướccho thấy, vốn đầu tư là quá trình then chốt của
phát triển, do đó Chính phủcác nước có nhiều biện pháp hỗ trợ vốn đầu tư cho
nông dân. Năm là, để thực hiện đô thị hoá nông thôn, các nước còn chủ
trươngxây dựng cơ sở hạ tầng, làm cho nông dân không chỉ có thu nhập ngày
càngcao mà còn tạo dựng cuộc sống văn hoá xã hội và môi trường văn
minh.1.1.5.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất
hànghoá tại Việt Nam Thực tế cho thấy trong nhiều năm qua nền nông nghiệp
Việt Nam đãchuyển đổi cơ bản thành công từ một nền nông nghiệp lạc hậu,

phương có điềukiện phát triển. - Cơ cấu kinh tế vùng trên cả nước đã có nhiều
tiến bộ. Nhiều địaphương đã giảm đáng kể tỷ lệ thuần nông, chuyển đổi nhanh
cơ cấu cây trồng,vật nuôi phù hợp nhằm khai thác tốt nhất lợi thế và tiềm năng
của vùng. Cơcấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá,
gia tăngtỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển chăn nuôi hàng hoá và
pháttriển mạnh nuôi trồng thuỷ sản.
Những kết quả đạt được trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông
nghiệp của Việt Nam trong những năm qua đã góp phần đáng kể vàoviệc tăng
thu nhập, nâng cao đời sống cho nông dân Việt Nam, đóng gópkhông nhỏ vào sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Như vậy, chuyểndịch cơ cấu kinh tế

Trích đoạn QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, PHƢƠNG HƢỚNG CHUYỂNDỊCH CƠ CẤUKINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status