LUẬN VĂN:
Giải pháp thu hút vốn đầu tư phát
triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên
hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, vốn đầu tư phát triển kinh tế nói chung và vốn đầu tư
phát triển công nghiệp nói riêng là một vấn đề đặc biệt quan trọng, cần được quan tâm giải
quyết. Việc thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp như thế nào để đáp ứng được nhu
cầu đầu tư phát triển của ngành công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
đồng thời việc thu hút vốn đó phải đạt được hiệu quả kinh tế cao.
Hiện nay, tỉnh Hưng Yên đã hình thành một số khu công nghiệp tập trung, làng
nghề tiểu thủ công nghiệp, thu hút hàng trăm nhà đầu tư đến đây thành lập doanh nghiệp,
tiến hành sản xuất kinh doanh. Các khu công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp này
cần huy động số lượng lớn vốn đầu tư phát triển của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần
kinh tế ở trong nước và nước ngoài. Để các khu công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công
nghiệp ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, 1999.
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến việc thu hút vốn đầu tư phát
triển kinh tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở nước ta và một
số nước trong khu vực hiện nay. Mặt khác, việc nghiên cứu của những công trình khoa học
này chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó trong chính sách thu hút vốn đầu tư. Chưa có
công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ thống tập trung vào vấn đề thu hút vốn đầu tư
phát triển công nghiệp nói chung và phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích và làm rõ khái niệm, các đặc trưng của vốn đầu tư, đầu tư vốn, các
nguồn vốn đầu tư và vai trò của vốn đầu tư đối với nền kinh tế quốc dân. Nghiên cứu kinh
nghiệm một số tỉnh trong nước và một số nước trên thế giới về thu hút vốn đầu tư phát
triển công nghiệp. Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nhận thức một
cách có hệ thống các nội dung có liên quan đến vấn đề vốn đầu tư, thu hút vốn đầu tư phát
triển nói chung và vốn đầu tư phát triển công nghiệp của tỉnh Hưng Yên nói riêng.
- Đánh giá tình hình thực tế phát triển công nghiệp và thực trạng thu hút vốn đầu
tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn vừa qua. Tìm ra những thành
công, hạn chế và các nguyên nhân.
- Tổng hợp những quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước, của tỉnh
Hưng Yên về việc phát triển công nghiệp và thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để thu hút vốn đầu tư có hiệu quả vào lĩnh vực
công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2006 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020. Đưa ra
các điều kiện để đảm bảo thực hiện thắng lợi các giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển
công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và những giải pháp cơ bản nhằm
thu hút có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển công
nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
- Thời gian nghiên cứu chỉ tập trung vào giai đoạn từ năm 2001 - 2020 khi Hưng
1.1. vai trò của vốn đầu tư phát triển công nghiệp
1.1.1. Khái niệm và những đặc trưng của vốn đầu tư
Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của
nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển và đặc biệt đối với nền kinh tế n-
ước ta hiện nay.
Cho đến nay chưa có một định nghĩa bằng văn bản chính thức của Nhà nước về
vốn. Tuy nhiên, trong nhiều sách, giáo trình của các học viện, các trường đại học thuộc
khối kinh tế có rất nhiều khái niệm về vốn dưới góc độ phân loại thành vốn cố định, vốn l-
ưu động và vốn đầu tư tài chính.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ
mô của Nhà nước, đó là môi trường thuận lợi để vốn bộc lộ bản chất và vai trò của mình.
Việc tìm hiểu, nhận thức lại khái niệm và những đặc trưng cơ bản của vốn đầu tư là công
việc cần thiết, trước khi đi tìm các giải pháp để thu hút vốn cho đầu tư phát triển.
Vốn đầu tư là một bộ phận của nguồn lực biểu hiện dưới dạng giá trị của các tài
sản quốc gia được thể hiện bằng các tài sản hữu hình và vô hình nhằm sử dụng vào mục
đích đầu tư để sinh lời.
Cần chú ý rằng, nguồn lực trên phải nằm trong một dự án đầu tư thì mới được gọi
là nguồn vốn đầu tư. Nếu không chúng mới chỉ là nguồn lực tích lũy và dự trữ dưới dạng
tiềm năng. Nói cách khác, vốn đầu tư phải là nguồn lực trong trạng thái "động".
Để làm rõ khái niệm về vốn đầu tư, cần đi sâu phân tích những đặc trưng cơ bản
của vốn đầu tư dưới đây:
Thứ nhất, vốn phải được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, điều này có
nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị có thực của tài sản (tài sản hữu hình và vô
hình). Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy
móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu Tài sản vô hình là những tài sản không
có hình thái vật chất cụ thể. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, tài sản vô hình rất phong
phú và đa dạng như: vị trí kinh doanh, bản quyền, phát minh sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa,
uy tín trong kinh doanh Như vậy một lượng tiền phát hành không vào lưu thông, không
rõ chủ sở hữu của vốn và tài sản thì ở đó việc quản lý, sử dụng vốn sẽ kém hiệu quả, gây ra
lãng phí và tiêu cực.
Thứ tư, trong nền kinh tế thị trường vốn là một loại hàng hóa đặc biệt. Sở dĩ coi
vốn là một loại hàng hóa, vì nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa
khác. Giá trị sử dụng của vốn là để sinh lời. Nhưng vốn là một loại hàng hóa đặc biệt khác
với hàng hóa thông thường, ở chỗ người bán vốn không mất đi quyền sở hữu mà chỉ bán
quyền sử dụng vốn mà thôi. Người mua nhận được quyền sử dụng vốn trong một khoảng
thời gian nhất định và phải trả cho người bán vốn một tỷ lệ nhất định tính trên số vốn đó,
gọi là lãi suất. Như vậy, lãi suất chính là giá cả của quyền sử dụng vốn.
Việc mua bán quyền sử dụng vốn được diễn ra trên thị trường tài chính. Thị
trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính
thông qua những phương thức giao dịch và các công cụ tài chính nhất định, là tổng hòa các
quan hệ cung và cầu về vốn. Thị trường tài chính bao gồm hai bộ phận:
- Thị trường tiền tệ: là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra các hoạt động mua bán
quyền sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua hoạt
động của hệ thống ngân hàng thương mại. Vì các ngân hàng thương mại là chủ thể quan
trọng nhất trong việc thu hút và cung cấp các nguồn vốn ngắn hạn.
- Thị trường vốn: là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các nguồn
vốn dài hạn. Thị trường vốn cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của Chính
phủ, chính quyền địa phương, của các doanh nghiệp, các hộ gia đình và các cá nhân. Thị
trường vốn gồm có thị trường vay nợ dài hạn và thị trường chứng khoán.
Chỉ khi nào có lợi tức thỏa đáng thì người sở hữu vốn mới bán quyền sử dụng vốn
của mình. Đây là một nguyên lý có tính chất nguyên tắc để thu hút, huy động vốn trong cơ
chế thị trường.
Thứ năm, đồng vốn có giá trị về mặt thời gian. ở các thời điểm khác nhau thì giá
trị của vốn cũng khác nhau. Bởi lẽ, đồng tiền càng trải dài theo thời gian thì nó càng bị mất
giá và độ an toàn càng giảm. Vì vậy, một vấn đề đặt ra là phải hiện tại hóa hoặc tương lai
hóa giá trị của vốn để làm cơ sở tính toán và phân tích hiệu quả đầu tư.
Thứ sáu, vốn phải được tích tụ và tập trung. Tích tụ vốn là việc tăng số vốn cá biệt
lưu động là việc doanh nghiệp cần dự trữ thường xuyên về nguyên vật liệu, bán thành
phẩm, công cụ dụng cụ tương ứng với quy mô sản xuất kinh doanh để đảm bảo cho hoạt
động của doanh nghiệp được thực hiện liên tục. Doanh nghiệp cần phải có một số vốn lưu
động nằm trong khâu sản xuất dưới dạng sản phẩm đang chế tạo, chi phí chờ phân bổ và
vốn lưu động ở khâu lưu thông như thành phẩm, vốn trong thanh toán Ngoài ra, doanh
nghiệp phải có một số vốn lưu động bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng. Còn đầu tư ra bên
ngoài doanh nghiệp là góp vốn liên doanh với doanh nghiệp khác, mua cổ phiếu, trái phiếu
của doanh nghiệp khác hoặc của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, để bảo toàn và
phát triển vốn phòng ngừa rủi ro, các doanh nghiệp thường dành một tỷ lệ vốn đầu tư nhất
định để đầu tư tài chính ra bên ngoài doanh nghiệp.
Nghiên cứu vấn đề này giúp ta thấy rõ sự khác nhau cơ bản của hai khái niệm vốn
đầu tư và đầu tư vốn, để từ đó chọn lựa được phương án đầu tư vốn đạt hiệu quả nhất.
1.1.3. Các nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư phát triển của xã hội được hình thành trên cơ sở động viên các
nguồn lực trong nước và ngoài nước, thông qua các công cụ chính sách, cơ chế, luật pháp.
Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng
(tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng), các nguồn vốn khác (vốn đầu tư của các doanh
nghiệp, các tổ chức và dân cư). Nguồn vốn ngoài nước gồm có: đầu tư trực tiếp nước
ngoài, nguồn vốn vay, viện trợ và các nguồn vốn khác.
1.1.3.1. Nguồn vốn trong nước
* Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính gắn
liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện
các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa
Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các
nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Nguồn vốn ngân sách nhà nước được hình thành từ tiết kiệm của ngân sách nhà
nước, đó là khoản chênh lệch giữa thu và chi của ngân sách nhà nước. Thu của ngân sách
nhà nước được thực hiện chủ yếu là từ thuế và một phần nhỏ là các khoản thu từ phí, lệ phí
- Tín phiếu kho bạc: là loại trái phiếu ngắn hạn dưới một năm, được phát hành với
mục đích để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước và tạo thêm công cụ của thị
trường tiền tệ.
- Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu có thời hạn một năm trở lên, được phát
hành nhằm mục đích huy động vốn theo kế hoạch ngân sách nhà nước hàng năm đã được
Quốc hội phê duyệt.
- Trái phiếu đầu tư: là loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn một năm trở lên, bao
gồm các loại sau:
+ Trái phiếu huy động vốn cho từng công trình cụ thể thuộc diện ngân sách đầu tư,
theo kế hoạch đầu tư đã được Chính phủ phê duyệt nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách
trong năm kế hoạch.
+ Trái phiếu huy động vốn cho Quỹ hỗ trợ phát triển theo kế hoạch tín dụng đầu tư
phát triển hàng năm được Chính phủ phê duyệt.
Đối với vốn đầu tư phát triển, hình thức tín dụng nhà nước có thể tác động lên hai
mặt: Chính phủ vay ngắn hạn tạo điều kiện cân đối ngân sách đảm bảo kế hoạch đầu tư
phát triển kinh tế và phát hành trái phiếu để đầu tư cho một số dự án nào đó.
Hình thức tín dụng nhà nước tuy lãi suất chưa cao, nhưng có sự đảm bảo của Nhà
nước nên rất dễ huy động vốn. Nếu vận dụng tốt sẽ tạo ra nguồn vốn đầu tư phát triển quan
trọng.
* Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước:
Hiện nay, ở các quốc gia đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước (doanh nghiệp nhà
nước) vì nhiều lý do khác nhau: bảo đảm những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, kinh
doanh ở những lĩnh vực mà tư nhân không đủ sức, đủ vốn hoặc không muốn làm vì hiệu
quả kinh tế thấp, nhất là ở những lĩnh vực như giao thông, thủy lợi, năng lượng, dịch vụ
công cộng
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước được hình thành từ rất nhiều nguồn
khác nhau: là nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp cho các doanh nghiệp nhà nước lúc
mới hình thành doanh nghiệp, tuy nhiên nguồn vốn này sẽ có xu hướng giảm đáng kể cả về
tỷ trọng và số lượng; nguồn vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu (đối
xuất kinh doanh, vay lẫn nhau giữa các doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi, vay thông
qua mua hàng trả chậm và vay thương mại (thường được các doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu áp dụng).
Theo xu hướng phát triển hiện nay, nguồn vốn này có chiều hướng gia tăng vì
ngày càng có nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh ra đời, dưới nhiều hình thức, quy mô,
lĩnh vực hoạt động khác nhau và phát triển với tốc độ tương đối nhanh.
Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường
được đầu tư với quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ, thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ
thể của từng doanh nghiệp, nhưng lại rất linh hoạt và hiệu quả trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại
hóa đất nước.
- Tiết kiệm của dân cư: phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của mỗi hộ gia đình.
Thu nhập của các hộ gia đình lại phụ thuộc vào thu nhập có thể sử dụng như tiền lương,
tiền công, thu nhập từ sản xuất kinh doanh và các khoản thu nhập khác (vay, mượn ).
Một khi thu nhập nhỏ hơn mức chi tiêu sẽ không có tiết kiệm, các hộ gia đình phải
vay mượn thêm để chi tiêu. Khi thu nhập có thể sử dụng vừa bằng mức chi tiêu thì tiết
kiệm bằng không. Nếu thu nhập lớn hơn mức chi tiêu thì mới có tiết kiệm. Một xu hướng
chung là các hộ gia đình có mức thu nhập cao hơn sẽ tiết kiệm nhiều hơn (mức tiết kiệm ở
thành thị lớn hơn ở nông thôn) và những nước phát triển cũng có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn
những nước kém phát triển.
Đối với nước ta hiện nay, do thu nhập của dân cư ở mức thấp, đặc biệt ở nông thôn
tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, nên mức tiết kiệm trong dân cư rất thấp, đây là vấn đề khó
khăn trong việc thu hút và huy động vốn đầu tư. Tuy nhiên, theo đà phát triển của đất
nước, thu nhập của dân cư ngày càng tăng, thì nguồn vốn này sẽ có xu hướng tăng lên.
Một vấn đề cần quan tâm trong việc nghiên cứu nguồn vốn tiết kiệm là sự tách rời
giữa những động cơ đưa đến tiết kiệm và đầu tư. Trong nền kinh tế mức tiết kiệm và mức
đầu tư mà ta mong muốn không phải ngẫu nhiên bằng nhau, bởi vì nói chung tiết kiệm và
đầu tư do những người khác nhau thực hiện và vì những lý do rất khác nhau: đầu tư chủ
yếu do các doanh nghiệp tiến hành bằng nguồn vốn tích lũy, bằng nguồn vốn vay ngân
tế, tranh thủ triệt để các nguồn vốn từ ngoài nước, đồng thời phát triển mạnh mẽ thị
trường vốn nhằm thực hiện tốt quá trình giao lưu vốn giữa các thành phần kinh tế.
Với tình hình thực tế ở nước ta cho thấy, việc khai thác các nguồn vốn trong nước
có thể nhiều khi còn gặp khó khăn, thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài là rất quan trọng và
hết sức cần thiết.
1.1.3.2. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Trong giai đoạn đầu của các nước đang phát triển mức thu nhập còn thấp nên khả
năng tiêu dùng cũng như khả năng tích lũy ở mức thấp. Trong khi đó lại cần khoản vốn
đầu tư lớn để hoàn chỉnh kết cấu cơ sở hạ tầng và xây dựng các công trình quan trọng
nhằm phát triển kinh tế. Mặt khác, ở giai đoạn này hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là hàng
nông sản và công nghiệp tiêu dùng có giá trị chưa cao. Trong khi đó hàng hóa nhập khẩu
là những máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ hiện đại có giá trị cao, nên cán cân
thanh toán thường bị thâm hụt. Các nước đang phát triển luôn phải đối mặt với một vấn
đề thiếu hụt ngoại tệ.
Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực để giải quyết hai vấn đề nan giải nêu trên,
đồng thời với xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống kinh tế - xã hội, quan hệ giao
lưu kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển sôi động đã trở thành nhu cầu bức xúc của tất cả
các nước trên thế giới. Mỗi nước dù nhỏ hay lớn đều có thể và cần phải tham gia vào phân
công lao động trong khu vực và quốc tế để tận dụng những khả năng to lớn của nền kinh tế
thế giới về di chuyển các luồng tài chính, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ, kinh
nghiệm quản lý từ đó xuất hiện nhu cầu đầu tư và nhu cầu nhận đầu tư.
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn này để phát triển kinh tế, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước là hết sức quan trọng và cần thiết. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam hiện nay gồm các nguồn chủ yếu sau:
* Viện trợ phát triển chính thức (ODA):
Là nguồn vốn do Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế viện trợ không
hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp, thậm chí không có lãi. Nguồn này thường được
tập trung vào ngân sách của Chính phủ để đầu tư phát triển hoặc cho vay. Hình thức
ngoài không hạn chế về mức cao nhất như một số nước khác, nhưng không được ít hơn
30% vốn pháp định.
Hình thức liên doanh có nhiều ưu điểm, nhưng do điều kiện phía Việt Nam có hạn
chế về tiền vốn nên chủ yếu góp vốn bằng quyền sử dụng đất, giá cả của đất đai ngày càng
tăng, giá trị góp vốn không được tính theo giá trị thời gian. Bên nước ngoài góp vốn bằng
vật tư, máy móc thiết bị thường bị lạc hậu về công nghệ, giá cả không chính xác, bị đẩy lên
quá cao, kinh nghiệm quản lý kinh doanh chưa tốt nên chưa phát huy tác dụng tích cực của
hình thức này.
- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là một văn bản được ký kết giữa
một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước, để tiến hành một hay nhiều hoạt
động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà, trên cơ sở quy định về trách nhiệm để thực hiện
hợp đồng và xác định quyền lợi của mỗi bên, nhưng không hình thành một pháp nhân mới.
- Các hình thức khác: ngoài các hình thức nêu trên, ở các nước và ở Việt Nam còn
có các hình thức khác như: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp
đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT)
nhằm khuyến khích thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tính đến ngày 31/12/2005 Việt Nam đã thu hút 6.030 dự án được cấp giấy phép
đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 51 tỷ đô la Mỹ. Vốn đầu tư thực hiện được gần 28 tỷ
đô la Mỹ, chiếm bằng 55% tổng số vốn đăng ký [4, tr. 7].
Biểu 1.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
theo hình thức đầu tư từ năm 1988 - 2005
(Tính đến ngày 31/12/2005 - Chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Đơn vị tính: Triệu đô la Mỹ
Hình thức đầu tư Số dự án
Tổng vốn
đầu tư
Vốn pháp
định
Vốn đầu
tư thực
BOT 6
1.370,13
411,39
727,03
Công ty cổ phần 8
199,31
82,07
170,18
Công ty quản lý vốn 1
55,56
55,56
6,00
Tổng số 6.030
51.017,94
22.684,98
tâm khai thác. Riêng về khối lượng ngoại tệ, hàng hóa gửi từ nước ngoài về nước hàng năm có
hàng tỷ đô la Mỹ, đây cũng là một nguồn vốn lớn, góp phần không nhỏ vào việc đáp ứng nhu
cầu về vốn đầu tư ngày càng tăng lên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
1.1.4. Vai trò của vốn đầu tư phát triển công nghiệp
Vốn đầu tư có vai trò quan trọng với tất cả các nước, nhất là đối với các nước đang
phát triển như Việt Nam thì vốn đầu tư có vai trò hết sức to lớn cho quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò đó được thể hiện qua một số tác động chính của vốn
đầu tư đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như đối với sự phát triển công
nghiệp nói riêng.
1.1.4.1. Vốn đầu tư giải quyết tình trạng thiếu vốn cho đầu tư phát triển của nền
kinh tế quốc dân
Tất cả các nước đang và kém phát triển do tích lũy nội bộ thấp, muốn phát triển
kinh tế của quốc gia mình đều phải có chính sách thu hút, huy động vốn đầu tư ở trong và
ngoài nước. Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, thì nhu cầu về vốn đầu tư không
ngừng tăng lên. Thực tế cho thấy, khi tăng trưởng kinh tế càng cao thường gắn với tỷ lệ
đầu tư càng lớn. Nhờ có vốn đầu tư mà Nhà nước cũng như doanh nghiệp có điều kiện đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và đổi mới kỹ thuật trong điều kiện khoa học, kỹ thuật
thế giới phát triển mạnh mẽ.
Đối với các nước nghèo và đang phát triển, vốn đầu tư là một yếu tố đặc biệt quan
trọng đối với phát triển kinh tế. Những quốc gia này luôn rơi vào tình trạng thiếu vốn đầu
tư, lạc hậu về công nghệ và trình độ quản lý. Khi nghiên cứu nền kinh tế của các nước
đang phát triển và kém phát triển, Paul A.Samuelson đã ví hoạt động sản xuất và đầu tư
của những nước này như là một vòng nghèo đói luẩn quẩn: thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm
và đầu tư thấp; tiết kiệm và đầu tư thấp sẽ cản trở quá trình phát triển của vốn và làm cho
tỷ lệ tích lũy vốn thấp, không đủ vốn cho đầu tư; vốn đầu tư không đủ cho nhu cầu sản
xuất sẽ làm cho năng lực sản xuất giảm, năng suất của nền kinh tế thấp; điều này dẫn đến
kết quả là thu nhập bình quân thấp và lại quay trở về chu kỳ ban đầu.
Để phá vỡ vòng luẩn quẩn đó, các nước đang phát triển phải tạo ra "một bước đột
những máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại ở trong nước và
trên thế giới. Từ đó, giúp doanh nghiệp có đủ điều kiện để dần dần từng bước hoàn thiện và
hiện đại hóa doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, chỉ những doanh nghiệp nào biết ứng
dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ, luôn đón nhận các thành tựu nghiên cứu khoa
học mới, thì doanh nghiệp đó sẽ thành công trong kinh doanh.
Mặt khác, nhờ có máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất hiện đại mà doanh nghiệp
tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đặc biệt là các chi phí gián tiếp và hạ giá
thành sản phẩm. Đồng thời, giúp doanh nghiệp nâng cao được chất lượng sản phẩm và
tăng dần hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm thay cho hàm lượng vật chất trước đây,
làm cho sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra có chất lượng cao hơn, nhưng giá bán có
thể lại thấp hơn, từ đó nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường
trong nước và quốc tế. Chính nhờ có vốn đầu tư phát triển mà doanh nghiệp nâng được vị
thế và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
1.1.4.4. Vốn đầu tư góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc
làm mới cho nền kinh tế và nâng cao thu nhập cho người lao động
Trình độ, năng lực và kỹ năng của người lao động có tác động không nhỏ đến tốc
độ tăng trưởng của một quốc gia. Vì vậy, nhu cầu nâng cao chất lượng lao động hiện nay
là một vấn đề được nhiều nước quan tâm. Do tình hình thực tế cần thiết phải tuyển dụng
lao động ở các địa phương, đồng thời chi phí thuê lao động nước ngoài thường cao hơn so
với lao động trong nước, các doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo cho các lao động địa
phương để họ có thể sử dụng thành thạo những máy móc thiết bị. Việc đào tạo lao động
không chỉ dừng lại đối với những người sản xuất trực tiếp, mà còn đào tạo cả kỹ năng,
trình độ cho các cán bộ làm công tác quản lý hay quản trị doanh nghiệp.
Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay, chất lượng và trình độ lao động của các nước là
một trong những tiêu chí quan trọng để thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tiến hành đầu tư ở những nước này. Bởi vì, các nhà đầu tư luôn mong muốn đầu tư vào những
nước mà người lao động có trình độ chuyên môn cao để tiết kiệm chi phí cho việc đào tạo lao
động địa phương. Chính vì vậy, để thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài đến với mình, thì
Chính phủ các nước phải có kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực ở trong chính nước
chặn lạm phát. Tuy nhiên, việc thu hút các nguồn vốn trong nước và nước ngoài nhìn
chung còn hạn chế, chưa thỏa mãn đầy đủ nhu cầu vốn đầu tư để đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chính vì vậy, Nhà nước cần phải hoàn thiện chính sách thu hút
vốn đầu tư, sao cho vừa hiệu quả vừa linh hoạt nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn các
nguồn lực tài chính trong và ngoài nước, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất
nước. Muốn vậy, Chính phủ cần chú ý đến một số vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, thực hiện chính sách tiết kiệm, chống lãng phí để tích lũy vốn phục vụ
nhu cầu đầu tư phát triển. Làm thế nào để "tiết kiệm và chống lãng phí" thực sự trở thành
"quốc sách", để mọi thành viên trong xã hội có điều kiện và tự giác thực hiện. Điều này chỉ có
thể làm tốt được khi Nhà nước có các chính sách đúng đắn và nhất quán, công bằng và bình