LUẬN VĂN: Giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN:
Giải pháp thu hút vốn đầu tư
phát triển công nghiệp ở
tỉnh Hưng Yên hiện nay
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, vốn đầu tư phát triển kinh tế nói chung và vốn đầu tư
phát triển công nghiệp nói riêng là một vấn đề đặc biệt quan trọng, cần được quan tâm
giải quyết. Việc thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp như thế nào để đáp ứng được

- Chính sách tài chính vĩ mô trong phát triển và hội nhập, Nxb Tài chính, Hà nội
2002.
- Nguyễn Văn Tuấn: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt
Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005.
- Nguyễn Văn Phúc: Huy động vốn trong nước phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận văn thạc sĩ kinh tế, 1996.
- Nguyễn Chu Lai: Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động vốn trong nước
phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, năm 1996.
- Nguyễn Xuân Kiên: Tích tụ và tập trung vốn trong nước để phát triển công
nghiệp ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, 1999.
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến việc thu hút vốn đầu tư
phát triển kinh tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở nước ta và
một số nước trong khu vực hiện nay. Mặt khác, việc nghiên cứu của những công trình
khoa học này chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó trong chính sách thu hút vốn đầu tư.
Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ thống tập trung vào vấn đề thu hút
vốn đầu tư phát triển công nghiệp nói chung và phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên
hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn - Phân tích và làm rõ khái niệm, các đặc trưng của vốn đầu tư, đầu tư vốn, các
nguồn vốn đầu tư và vai trò của vốn đầu tư đối với nền kinh tế quốc dân. Nghiên cứu
kinh nghiệm một số tỉnh trong nước và một số nước trên thế giới về thu hút vốn đầu tư
phát triển công nghiệp. Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nhận thức
một cách có hệ thống các nội dung có liên quan đến vấn đề vốn đầu tư, thu hút vốn đầu tư
phát triển nói chung và vốn đầu tư phát triển công nghiệp của tỉnh Hưng Yên nói riêng.
- Đánh giá tình hình thực tế phát triển công nghiệp và thực trạng thu hút vốn đầu
tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn vừa qua. Tìm ra những thành
công, hạn chế và các nguyên nhân.
- Tổng hợp những quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước, của tỉnh

nghiệp và thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong
thời gian qua, làm căn cứ cho việc đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thu hút có hiệu
quả các nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan
hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh ở tỉnh Hưng Yên và một số
tỉnh khác.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết. Mục lục Trang

Mở đầu
1

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về vốn đầu tư
5
1.1.

Vai trò của vốn đầu tư phát triển công nghiệp 5
1.2.

Kinh nghiệm của một số tỉnh trong nước và một số nước trên thế
giới về thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp
29


Các điều kiện để đảm bảo thực hiện giải pháp 107

Kết luận
110

danh mục Tài liệu tham khảo
112

phụ lục
116 Danh mục các bảng

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang

1.1
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư từ năm
1988 - 2005
20
2.1
Lao động công nghiệp tính đến 1/7 hàng năm
50
2.2
Tỷ trọng GDP công nghiệp trong GDP toàn tỉnh
52
2.3

nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển và đặc biệt đối với nền kinh tế
nước ta hiện nay.
Cho đến nay chưa có một định nghĩa bằng văn bản chính thức của Nhà nước về
vốn. Tuy nhiên, trong nhiều sách, giáo trình của các học viện, các trường đại học thuộc
khối kinh tế có rất nhiều khái niệm về vốn dưới góc độ phân loại thành vốn cố định, vốn
lưu động và vốn đầu tư tài chính.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ
mô của Nhà nước, đó là môi trường thuận lợi để vốn bộc lộ bản chất và vai trò của mình.
Việc tìm hiểu, nhận thức lại khái niệm và những đặc trưng cơ bản của vốn đầu tư là công
việc cần thiết, trước khi đi tìm các giải pháp để thu hút vốn cho đầu tư phát triển.
Vốn đầu tư là một bộ phận của nguồn lực biểu hiện dưới dạng giá trị của các tài
sản quốc gia được thể hiện bằng các tài sản hữu hình và vô hình nhằm sử dụng vào mục
đích đầu tư để sinh lời.
Cần chú ý rằng, nguồn lực trên phải nằm trong một dự án đầu tư thì mới được gọi
là nguồn vốn đầu tư. Nếu không chúng mới chỉ là nguồn lực tích lũy và dự trữ dưới dạng
tiềm năng. Nói cách khác, vốn đầu tư phải là nguồn lực trong trạng thái "động".
Để làm rõ khái niệm về vốn đầu tư, cần đi sâu phân tích những đặc trưng cơ bản
của vốn đầu tư dưới đây:
Thứ nhất, vốn phải được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, điều này có
nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị có thực của tài sản (tài sản hữu hình và
vô hình). Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng,
máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu Tài sản vô hình là những tài sản
không có hình thái vật chất cụ thể. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, tài sản vô hình
rất phong phú và đa dạng như: vị trí kinh doanh, bản quyền, phát minh sáng chế, nhãn
hiệu hàng hóa, uy tín trong kinh doanh Như vậy một lượng tiền phát hành không vào lưu thông, không có giá trị đảm bảo hoặc các khoản nợ không có khả năng thanh toán
cũng không thể được gọi là vốn.
Thứ hai, vốn phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Vốn là tiền nhưng

Thứ tư, trong nền kinh tế thị trường vốn là một loại hàng hóa đặc biệt. Sở dĩ coi
vốn là một loại hàng hóa, vì nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa
khác. Giá trị sử dụng của vốn là để sinh lời. Nhưng vốn là một loại hàng hóa đặc biệt
khác với hàng hóa thông thường, ở chỗ người bán vốn không mất đi quyền sở hữu mà chỉ
bán quyền sử dụng vốn mà thôi. Người mua nhận được quyền sử dụng vốn trong một
khoảng thời gian nhất định và phải trả cho người bán vốn một tỷ lệ nhất định tính trên số
vốn đó, gọi là lãi suất. Như vậy, lãi suất chính là giá cả của quyền sử dụng vốn.
Việc mua bán quyền sử dụng vốn được diễn ra trên thị trường tài chính. Thị
trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính
thông qua những phương thức giao dịch và các công cụ tài chính nhất định, là tổng hòa
các quan hệ cung và cầu về vốn. Thị trường tài chính bao gồm hai bộ phận:
- Thị trường tiền tệ: là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra các hoạt động mua
bán quyền sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua
hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại. Vì các ngân hàng thương mại là chủ thể
quan trọng nhất trong việc thu hút và cung cấp các nguồn vốn ngắn hạn.
- Thị trường vốn: là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các nguồn
vốn dài hạn. Thị trường vốn cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của Chính
phủ, chính quyền địa phương, của các doanh nghiệp, các hộ gia đình và các cá nhân. Thị
trường vốn gồm có thị trường vay nợ dài hạn và thị trường chứng khoán.
Chỉ khi nào có lợi tức thỏa đáng thì người sở hữu vốn mới bán quyền sử dụng
vốn của mình. Đây là một nguyên lý có tính chất nguyên tắc để thu hút, huy động vốn
trong cơ chế thị trường. Thứ năm, đồng vốn có giá trị về mặt thời gian. ở các thời điểm khác nhau thì giá
trị của vốn cũng khác nhau. Bởi lẽ, đồng tiền càng trải dài theo thời gian thì nó càng bị
mất giá và độ an toàn càng giảm. Vì vậy, một vấn đề đặt ra là phải hiện tại hóa hoặc
tương lai hóa giá trị của vốn để làm cơ sở tính toán và phân tích hiệu quả đầu tư.
Thứ sáu, vốn phải được tích tụ và tập trung. Tích tụ vốn là việc tăng số vốn cá
biệt của từng doanh nghiệp, từng hộ sản xuất. Tập trung vốn là làm tăng quy mô vốn đơn

Đầu tư vốn lưu động là việc doanh nghiệp cần dự trữ thường xuyên về nguyên vật liệu,
bán thành phẩm, công cụ dụng cụ tương ứng với quy mô sản xuất kinh doanh để đảm
bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện liên tục. Doanh nghiệp cần phải có
một số vốn lưu động nằm trong khâu sản xuất dưới dạng sản phẩm đang chế tạo, chi phí
chờ phân bổ và vốn lưu động ở khâu lưu thông như thành phẩm, vốn trong thanh toán
Ngoài ra, doanh nghiệp phải có một số vốn lưu động bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.
Còn đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp là góp vốn liên doanh với doanh nghiệp khác, mua
cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp khác hoặc của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị
trường, để bảo toàn và phát triển vốn phòng ngừa rủi ro, các doanh nghiệp thường dành
một tỷ lệ vốn đầu tư nhất định để đầu tư tài chính ra bên ngoài doanh nghiệp.
Nghiên cứu vấn đề này giúp ta thấy rõ sự khác nhau cơ bản của hai khái niệm
vốn đầu tư và đầu tư vốn, để từ đó chọn lựa được phương án đầu tư vốn đạt hiệu quả
nhất.
1.1.3. Các nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư phát triển của xã hội được hình thành trên cơ sở động viên các
nguồn lực trong nước và ngoài nước, thông qua các công cụ chính sách, cơ chế, luật
pháp. Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín
dụng (tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng), các nguồn vốn khác (vốn đầu tư của các
doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư). Nguồn vốn ngoài nước gồm có: đầu tư trực tiếp
nước ngoài, nguồn vốn vay, viện trợ và các nguồn vốn khác.
1.1.3.1. Nguồn vốn trong nước * Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính
gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực
hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Nó phản ánh các quan hệ kinh tế
giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân
phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Nguồn vốn ngân sách nhà nước được hình thành từ tiết kiệm của ngân sách nhà

cách phát hành trái phiếu Chính phủ. Cũng có thể Chính phủ tiến hành một dự án nào đó,
nhưng không muốn sử dụng vốn ngân sách, thì dự án này có thể được thực hiện bằng vốn
vay dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ. ở nước ta hiện nay, trái phiếu Chính
phủ có các hình thức sau đây:
- Tín phiếu kho bạc: là loại trái phiếu ngắn hạn dưới một năm, được phát hành
với mục đích để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước và tạo thêm công cụ
của thị trường tiền tệ.
- Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu có thời hạn một năm trở lên, được phát
hành nhằm mục đích huy động vốn theo kế hoạch ngân sách nhà nước hàng năm đã được
Quốc hội phê duyệt.
- Trái phiếu đầu tư: là loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn một năm trở lên, bao
gồm các loại sau:
+ Trái phiếu huy động vốn cho từng công trình cụ thể thuộc diện ngân sách đầu
tư, theo kế hoạch đầu tư đã được Chính phủ phê duyệt nhưng chưa được bố trí vốn ngân
sách trong năm kế hoạch.
+ Trái phiếu huy động vốn cho Quỹ hỗ trợ phát triển theo kế hoạch tín dụng đầu
tư phát triển hàng năm được Chính phủ phê duyệt.
Đối với vốn đầu tư phát triển, hình thức tín dụng nhà nước có thể tác động lên hai
mặt: Chính phủ vay ngắn hạn tạo điều kiện cân đối ngân sách đảm bảo kế hoạch đầu tư
phát triển kinh tế và phát hành trái phiếu để đầu tư cho một số dự án nào đó. Hình thức tín dụng nhà nước tuy lãi suất chưa cao, nhưng có sự đảm bảo của Nhà
nước nên rất dễ huy động vốn. Nếu vận dụng tốt sẽ tạo ra nguồn vốn đầu tư phát triển
quan trọng.
* Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước:
Hiện nay, ở các quốc gia đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước (doanh nghiệp nhà
nước) vì nhiều lý do khác nhau: bảo đảm những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn,
kinh doanh ở những lĩnh vực mà tư nhân không đủ sức, đủ vốn hoặc không muốn làm vì
hiệu quả kinh tế thấp, nhất là ở những lĩnh vực như giao thông, thủy lợi, năng lượng, dịch

được chia làm hai phần: một phần chia cho các cổ đông và một phần để lại cho doanh
nghiệp. Khoản lợi nhuận không chia này là khoản tiết kiệm của các doanh nghiệp để hình
thành nên nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh đó, để tiến hành đầu tư các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh sử dụng thêm cả phần vốn khấu hao tài sản cố định.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể vay tín dụng ngân hàng hoặc phát hành
cổ phiếu đối với công ty cổ phần và phát hành trái phiếu để thu hút vốn đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, vay lẫn nhau giữa các doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi, vay
thông qua mua hàng trả chậm và vay thương mại (thường được các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu áp dụng).
Theo xu hướng phát triển hiện nay, nguồn vốn này có chiều hướng gia tăng vì
ngày càng có nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh ra đời, dưới nhiều hình thức, quy
mô, lĩnh vực hoạt động khác nhau và phát triển với tốc độ tương đối nhanh.
Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường
được đầu tư với quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ, thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh
cụ thể của từng doanh nghiệp, nhưng lại rất linh hoạt và hiệu quả trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nước. - Tiết kiệm của dân cư: phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của mỗi hộ gia đình.
Thu nhập của các hộ gia đình lại phụ thuộc vào thu nhập có thể sử dụng như tiền lương,
tiền công, thu nhập từ sản xuất kinh doanh và các khoản thu nhập khác (vay, mượn ).
Một khi thu nhập nhỏ hơn mức chi tiêu sẽ không có tiết kiệm, các hộ gia đình
phải vay mượn thêm để chi tiêu. Khi thu nhập có thể sử dụng vừa bằng mức chi tiêu thì
tiết kiệm bằng không. Nếu thu nhập lớn hơn mức chi tiêu thì mới có tiết kiệm. Một xu
hướng chung là các hộ gia đình có mức thu nhập cao hơn sẽ tiết kiệm nhiều hơn (mức tiết
kiệm ở thành thị lớn hơn ở nông thôn) và những nước phát triển cũng có tỷ lệ tiết kiệm
cao hơn những nước kém phát triển.
Đối với nước ta hiện nay, do thu nhập của dân cư ở mức thấp, đặc biệt ở nông
thôn tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, nên mức tiết kiệm trong dân cư rất thấp, đây là vấn đề

đô la Mỹ (giá hiện hành), trong khi đó mức tiết kiệm trong nước sẽ đạt được khoảng 112
tỷ đô la Mỹ, chiếm tỷ trọng 69% so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội [3, tr. 35].
Để tăng cường hoạt động đầu tư, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước ngày
càng phát triển thì điều quan trọng hàng đầu là phải thực hiện chính sách nền kinh tế
mở, trên cơ sở cân nhắc các điều kiện và khả năng có liên quan đến mối quan hệ kinh tế
đối ngoại, phải có sự hòa nhập về không gian kinh tế, xóa bỏ hàng rào địa lý. Có như
vậy mới thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế và các yêu cầu về đầu tư
phát triển. Không ngừng đẩy mạnh khả năng tăng nhanh việc tạo vốn trong toàn bộ nền
kinh tế, tranh thủ triệt để các nguồn vốn từ ngoài nước, đồng thời phát triển mạnh mẽ
thị trường vốn nhằm thực hiện tốt quá trình giao lưu vốn giữa các thành phần kinh tế.
Với tình hình thực tế ở nước ta cho thấy, việc khai thác các nguồn vốn trong
nước có thể nhiều khi còn gặp khó khăn, thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài là rất quan
trọng và hết sức cần thiết.
1.1.3.2. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Trong giai đoạn đầu của các nước đang phát triển mức thu nhập còn thấp nên
khả năng tiêu dùng cũng như khả năng tích lũy ở mức thấp. Trong khi đó lại cần khoản
vốn đầu tư lớn để hoàn chỉnh kết cấu cơ sở hạ tầng và xây dựng các công trình quan trọng nhằm phát triển kinh tế. Mặt khác, ở giai đoạn này hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là
hàng nông sản và công nghiệp tiêu dùng có giá trị chưa cao. Trong khi đó hàng hóa
nhập khẩu là những máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ hiện đại có giá trị cao, nên
cán cân thanh toán thường bị thâm hụt. Các nước đang phát triển luôn phải đối mặt với
một vấn đề thiếu hụt ngoại tệ.
Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực để giải quyết hai vấn đề nan giải nêu trên,
đồng thời với xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống kinh tế - xã hội, quan hệ giao
lưu kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển sôi động đã trở thành nhu cầu bức xúc của tất
cả các nước trên thế giới. Mỗi nước dù nhỏ hay lớn đều có thể và cần phải tham gia vào
phân công lao động trong khu vực và quốc tế để tận dụng những khả năng to lớn của nền
kinh tế thế giới về di chuyển các luồng tài chính, mở rộng thị trường, chuyển giao công

trực tiếp của nước ngoài sau đây:
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp do chủ nước ngoài đầu
tư 100% vốn tại nước sở tại, có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy định của
pháp luật nước sở tại.
- Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư
nước ngoài góp vốn chung với các chủ doanh nghiệp ở nước sở tại trên cơ sở hình thành
hợp đồng liên doanh. Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và
chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, phần vốn góp pháp định của bên
nước ngoài không hạn chế về mức cao nhất như một số nước khác, nhưng không được ít
hơn 30% vốn pháp định.
Hình thức liên doanh có nhiều ưu điểm, nhưng do điều kiện phía Việt Nam có
hạn chế về tiền vốn nên chủ yếu góp vốn bằng quyền sử dụng đất, giá cả của đất đai ngày
càng tăng, giá trị góp vốn không được tính theo giá trị thời gian. Bên nước ngoài góp vốn
bằng vật tư, máy móc thiết bị thường bị lạc hậu về công nghệ, giá cả không chính xác, bị đẩy lên quá cao, kinh nghiệm quản lý kinh doanh chưa tốt nên chưa phát huy tác dụng tích
cực của hình thức này.
- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là một văn bản được ký kết giữa
một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước, để tiến hành một hay nhiều
hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà, trên cơ sở quy định về trách nhiệm để
thực hiện hợp đồng và xác định quyền lợi của mỗi bên, nhưng không hình thành một
pháp nhân mới.
- Các hình thức khác: ngoài các hình thức nêu trên, ở các nước và ở Việt Nam
còn có các hình thức khác như: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT),
hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao
(BT) nhằm khuyến khích thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tính đến ngày 31/12/2005 Việt Nam đã thu hút 6.030 dự án được cấp giấy phép
đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 51 tỷ đô la Mỹ. Vốn đầu tư thực hiện được gần 28 tỷ

doanh
184

4.170,61

3.588,81

6.053,09
BOT 6

1.370,13

411,39

727,03

Công ty cổ phần 8

199,31

82,07

170,18

Công ty quản lý vốn 1

55,56

dịch bệnh, địch họa Những năm gần đây tính chất của những khoản viện trợ này đã có
sự thay đổi. Hiện nay, hình thức viện trợ này đã thay đổi chính sách chuyển dần từ viện
trợ nhân đạo sang hỗ trợ cho việc phát triển các công trình cơ sở hạ tầng có quy mô vừa
và nhỏ. Nếu chúng ta biết tranh thủ, khai thác các dự án của NGO thì có tác dụng tốt đối với các công trình có quy mô vừa và nhỏ ở nông thôn, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp
ở nông nghiệp phát triển.
* Vốn của Việt kiều, của những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài:
Có trên 2 triệu người Việt Nam hiện đang sinh sống ở nước ngoài, với lực lượng
đông đảo đội ngũ trí thức, nhà khoa học trong đó có nhiều người là chuyên gia giỏi về các
lĩnh vực khoa học và công nghệ, quản lý kinh doanh Đây là một tiềm năng lớn cần phải
được quan tâm khai thác. Riêng về khối lượng ngoại tệ, hàng hóa gửi từ nước ngoài về nước
hàng năm có hàng tỷ đô la Mỹ, đây cũng là một nguồn vốn lớn, góp phần không nhỏ vào
việc đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư ngày càng tăng lên trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
1.1.4. Vai trò của vốn đầu tư phát triển công nghiệp
Vốn đầu tư có vai trò quan trọng với tất cả các nước, nhất là đối với các nước
đang phát triển như Việt Nam thì vốn đầu tư có vai trò hết sức to lớn cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò đó được thể hiện qua một số tác động chính
của vốn đầu tư đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như đối với sự phát
triển công nghiệp nói riêng.
1.1.4.1. Vốn đầu tư giải quyết tình trạng thiếu vốn cho đầu tư phát triển của
nền kinh tế quốc dân
Tất cả các nước đang và kém phát triển do tích lũy nội bộ thấp, muốn phát triển
kinh tế của quốc gia mình đều phải có chính sách thu hút, huy động vốn đầu tư ở trong và
ngoài nước. Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, thì nhu cầu về vốn đầu tư không
ngừng tăng lên. Thực tế cho thấy, khi tăng trưởng kinh tế càng cao thường gắn với tỷ lệ
đầu tư càng lớn. Nhờ có vốn đầu tư mà Nhà nước cũng như doanh nghiệp có điều kiện
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và đổi mới kỹ thuật trong điều kiện khoa học, kỹ

giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Trong từng ngành kinh tế, nhờ có vốn đầu tư mà đã có những chuyển dịch tích
cực về cơ cấu sản xuất, cơ cấu công nghệ theo hướng tiến bộ, hiệu quả và gắn sản xuất với thị trường. Cơ cấu kinh tế vùng cũng đã có những bước điều chỉnh theo hướng phát
huy lợi thế so sánh của từng vùng, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu
kinh tế và vùng sản xuất chuyên môn hóa cây trồng, vật nuôi đang phát triển khá nhanh,
đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.
1.1.4.3. Vốn đầu tư thúc đẩy đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ sản
xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh và hiện đại hóa doanh nghiệp
Nếu đứng trên góc độ của một doanh nghiệp, thì vốn đầu tư là điều kiện cực kỳ quan
trọng và cần thiết giúp doanh nghiệp trong việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ
sản xuất. Nhờ có vốn đầu tư mà doanh nghiệp có thể nghiên cứu sản xuất ra hoặc mua được
những máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại ở trong nước và
trên thế giới. Từ đó, giúp doanh nghiệp có đủ điều kiện để dần dần từng bước hoàn thiện và
hiện đại hóa doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, chỉ những doanh nghiệp nào biết
ứng dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ, luôn đón nhận các thành tựu nghiên cứu
khoa học mới, thì doanh nghiệp đó sẽ thành công trong kinh doanh.
Mặt khác, nhờ có máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất hiện đại mà doanh
nghiệp tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đặc biệt là các chi phí gián tiếp và
hạ giá thành sản phẩm. Đồng thời, giúp doanh nghiệp nâng cao được chất lượng sản
phẩm và tăng dần hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm thay cho hàm lượng vật chất
trước đây, làm cho sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra có chất lượng cao hơn, nhưng
giá bán có thể lại thấp hơn, từ đó nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
trên thị trường trong nước và quốc tế. Chính nhờ có vốn đầu tư phát triển mà doanh
nghiệp nâng được vị thế và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
1.1.4.4. Vốn đầu tư góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc
làm mới cho nền kinh tế và nâng cao thu nhập cho người lao động
Trình độ, năng lực và kỹ năng của người lao động có tác động không nhỏ đến tốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status