LUẬN án CHUYỂN DỊCH cơ cấu LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP ở NÔNG THÔN và tác ĐỘNG đến CỦNG cố QUỐC PHÒNG ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau những năm đầu tiên thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cộng sản
Việt Nam, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng nhìn chung tiến
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn còn
gặp nhiều khó khăn, bất cập. Đặc biệt, bên cạnh những thành tích, tiến bộ
đáng kể trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu và tăng năng suất cây trồng, vật
nuôi thì việc chuyển dịch cơ cấu lao động (CDCCLĐ) nông nghiệp, nông
thôn nước ta đang diễn ra chậm chạp, kém hiệu quả và còn mang tính tự phát.
Thực trạng này đã và đang gây tác động tiêu cực tới sự phát triển ổn định, bền
vững của nền nông nghiệp nước nhà, đến sự nghiệp CNH, HĐH và yêu cầu
của nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa
(XHCN) trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, toàn
Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang tập trung mọi nỗ lực đẩy mạnh sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói
riêng. Yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,
xây dựng nông thôn mới, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, củng cố quốc
phòng...trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế tri thức
đang đặt ra những vấn đề hết sức mới mẻ đối với quá trình CDCCLĐ nông
nghiệp, nông thôn. Đặc biệt, CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn, trong đó
phấn đấu thực hiện mục tiêu quan trọng được xác định trong “Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010” là: giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp nước ta
xuống còn khoảng 50% vào năm 2010 và đến năm 2020, nước ta về cơ bản
trở thành nước công nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, quyết định sự
thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Vì vậy việc nghiên cứu
làm rõ những vấn đề cơ bản của quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn


nước ta; đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của
quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đồng thời với củng cố quốc

nghiệp, nông thôn và những tác động của quá trình đó tới củng cố quốc
phòng, luận án đóng góp về mặt lý luận sao cho mỗi bước đẩy mạnh, nâng
cao hiệu quả CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đồng thời sẽ là một bước
củng cố tiềm lực và thế trận quốc phòng đất nước trong tình hình mới.
Để thực hiện mục đích đó, luận án có nhiệm vụ:
- Làm rõ về mặt lý luận, thực tiễn những vấn đề cơ bản của quá trình
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn.
- Làm rõ tác động của quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đến
củng cố tiềm lực và thế trận quốc phòng.
- Đề xuất một số quan điểm chỉ đạo và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy
mạnh quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đồng thời với củng cố tiềm
lực và thế trận quốc phòng.
* Đối tượng và giới hạn nghiên cứu:
Luận án lấy việc luận giải cơ sở khoa học của CDCCLĐ nông nghiệp, nông
thôn và tác động của nó đến củng cố tiềm lực và thế trận quốc phòng đất nước
làm đối tượng nghiên cứu.
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn trong quá trình CNH, HĐH có phạm vi
rất rộng, bao gồm cả khu vực đồng bằng, trung du, miền núi, vùng ven biển,
hải đảo...nên phạm vi khảo sát, phân tích của luận án phải vừa bảo đảm tính
toàn diện, vừa tập trung vào những lĩnh vực, những vùng, những địa phương
có tính chất điển hình để có thể đưa ra được những đánh giá, kết luận chính
xác, khoa học. Về thời gian, giới hạn khảo sát của luận án từ năm 1986, trọng
tâm từ năm 1996 đến nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án


Đề tài nghiên cứu được trên cơ sở lý luận, phương pháp luận, những quan
điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế
chính trị, kinh tế quân sự, học thuyết bảo vệ Tổ quốc, chiến tranh quân đội;
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; chỉ thị, nghị quyết của Bộ quốc


NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÓ
ĐẾN CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG
1.1. Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn trong tiến
trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1. 1. Cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp,
nông thôn
1.1.1.1. Lao động nông nghiệp, nông thôn và cơ cấu lao động nông nghiệp,
nông thôn
Lao động sản xuất vật chất là quá trình con người vận dụng sức lao động
của mình kết hợp với những tư liệu lao động theo những phương pháp và
cách thức nhất định để tác động vào đối tượng lao động, tạo ra các sản phẩm.
Sức lao động ở đây không phải và không thể tách biệt, cá lẻ mà mang tính xã
hội, là lực lượng lao động xã hội. Nó bao gồm nhiều người tham gia vào quá
trình tái sản xuất xã hội, họ có trình độ, chuyên môn nghề nghiệp, sức khoẻ,
năng khiếu, sở trường, ý chí, kinh nghiệm, độ tuổi...khác nhau hợp thành.
Trong một nền kinh tế, theo cơ cấu ngành kinh tế lực lượng lao động xã hội
thường được phân ra thành: lao động nông nghiệp; lao động công nghiệp và
lao động dịch vụ.


Lao động nông nghiệp, nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao động
xã hội, có đủ độ tuổi theo quy định của Luật Lao động hiện hành của mỗi
quốc gia (với Việt Nam là từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và đến 55 đối với
nữ), có khả năng lao động và hiện đang trực tiếp tham gia kinh doanh, sản
xuất nông nghiệp; công nghiệp, xây dựng nông thôn và dịch vụ phi nông
nghiệp trên địa bàn nông thôn.
Trong mối tương quan về tỷ trọng với lao động công nghiệp, dịch vụ của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì lao động nông nghiệp được hiểu theo nghĩa

dịch vụ phi nông nghiệp hoạt động trên nhiều lĩnh vực như: dịch vụ kỹ thuật,
tín dụng, thương mại, đời sống...
Cơ cấu lao động (CCLĐ) nông nghiệp, nông thôn: là một tổng thể hợp
thành bởi nhiều yếu tố, bộ phận cấu thành lực lượng lao động nông nghiệp,
nông thôn; giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, những tương tác qua lại trong
những không gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, phản ánh trình độ tổ
chức, phân công lao động xã hội của nền kinh tế nói chung và của nông
nghiệp, nông thôn nói riêng.
CCLĐ nông nghiệp, nông thôn bao gồm các bộ phận cấu thành cơ bản sau:
cơ cấu số lượng, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu về giới, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành,
nghề, cơ cấu vùng, lãnh thổ...
Cơ cấu số lượng: Cơ cấu về số lượng của lực lượng lao động nông nghiệp
thể hiện sự phân bổ lực lượng lao động nông nghiệp so với các ngành công
nghiệp và dịch vụ của nền kinh tế. Hay nói một cách khác, cơ cấu số lượng
thể hiện tỷ trọng lao động nông nghiệp so với tổng lao động xã hội và so với
các ngành kinh tế khác của nền kinh tế. Lao động nông nghiệp nhiều hay ít so
với lao động công nghiệp và dịch vụ là một trong những tiêu trí đánh gía trình
độ phát triển kinh tế, trình độ phát triển của phân công lao động xã hội.


Cơ cấu số lượng lao động nông thôn phản ánh sự phân bổ lực lượng lao
động ở nông thôn (bao gồm lao động nông nghiệp, lao động công nghiệp, xây
dựng ở khu vực nông thôn và lao động dịch vụ phi nông nghiệp) so với lao
động thành thị. Thông thường, khi kinh tế hàng hoá kém phát triển, lao động
nông nghiệp sẽ chiếm tuyệt đại bộ phận lực lượng lao động xã hội. V.I. Lênin
đã nhấn mạnh: “Nhân khẩu của một nước mà nền kinh tế hàng hoá ít phát
triển (hoặc hoàn toàn không phát triển) thì hầu như hoàn toàn chỉ là nhân
khẩu nông nghiệp; tuy nhiên điều đó...chỉ có nghĩa là dân cư làm nghề nông
tự mình chế biến lấy nông sản, sự trao đổi và phân công hầu như không có.
Vậy sự phát triển của kinh tế hàng hoá eo ipso (cũng do đó mà) có nghĩa là

đô thị hoá, việc làm thiếu...buộc phần lớn lực lượng lao động nam giới ở nông
thôn phải ra thành phố hoặc nơi xa quê hương để làm ăn, kiếm sống. Gánh
nặng của công việc đồng áng, nuôi dạy con cái, chăm sóc người già...đè nặng
lên đôi vai của người phụ nữ. Chính vì vậy, quá trình CDCCLĐ nông nghiệp,
nông thôn nước ta hiện nay đồng thời phải là quá trình thực hiện triệt để hơn
cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ. Bình đẳng về giới thể hiện tính ưu việt
của chế độ XHCN mà chúng ta đã và đang xây dựng, đồng thời cũng là một
trong những tiêu chí chính thức để Ngân hàng thế giới đánh giá chính sách,
thể chế quốc gia (Country Policy and Institutional Assessment - CPIA) và xếp
hạng từng nước trên thế giới [39, tr.27].
Cơ cấu trình độ: Trước hết là trình độ văn hoá cơ bản của lực lượng lao
động nông nghiệp, nông thôn. Trình độ học vấn phụ thuộc vào sự phát triển
của hệ thống giáo dục phổ thông và kết quả của việc thực hiện phổ cập giáo
dục trên diện rộng. Học vấn là cơ sở cho việc tiếp thu và nâng cao trình độ kỹ
thuật, chuyên môn, nghiệp vụ. Được đào tạo kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp
vụ, lực lượng lao động nông nghiệp có điều kiện tiếp thu khoa học, công nghệ


tiên tiến, nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, đưa nông nghiệp lên sản
xuất hàng hoá; mặt khác lao động nông nghiệp có cơ hội để chuyển đổi
ngành, nghề, chuyển đổi lĩnh vực lao động , sản xuất.
Cơ cấu ngành, nghề: Cơ cấu ngành, nghề trong nông nghiệp, nông thôn
phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phát triển hết sức
đa dạng, phong phú theo hướng: một số ngành nghề sẽ dần biến mất hoặc bị
mai một; nhiều ngành nghề khác sẽ ra đời và phát triển nhanh chóng cùng với
một số ngành, nghề truyền thống được khôi phục, chấn hưng theo hướng
“hiện đại hoá”, ví như các nghề thủ công truyền thống ở nông thôn đang có xu
hướng kết hợp sử dụng các công cụ máy móc, kỹ thuật tiên tiến, vừa góp phần
giảm nhẹ mức nặng nhọc, giải phóng lao động, vừa nâng cao năng suất, chất
lượng và hiệu quả của sản xuất.

bộ phận lao động chuyên đảm trách việc thuần dưỡng, chăn nuôi. Dần dần
việc chăn nuôi đã trở thành ngành lao động chủ yếu của một số bộ lạc và việc
tách các bộ lạc chăn nuôi ra khỏi các bộ lạc lớn đã đánh dấu sự CDCCLĐ lớn
lần đầu tiên: ngành chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, lao động chăn nuôi tách
khỏi lao động trồng trọt. Cùng với sự phát triển của chế độ tư hữu, lao động
nghề dệt, chế tạo đồ kim loại và các nghề thủ công khác ngày càng được
chuyên môn hoá cao, sản phẩm đa dạng, phong phú, trình độ sản xuất ngày
càng hoàn hảo và dần tách khỏi lao động nông nghiệp. Sự thay đổi đó luôn
mang tính xã hội và sự CDCCLĐ xã hội lớn lần thứ hai diễn ra: tiểu thủ công
nghiệp tách khỏi nông nghiệp.
Sự xuất hiện và phát triển của sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
trực tiếp góp phần tạo ra một khối lượng ngày càng lớn hơn những sản phẩm
có giá trị trao đổi. Nhu cầu trao đổi ngày càng lớn đã dần làm xuất hiện bộ


phận lao động chuyên đảm trách việc mua bán, trao đổi hàng hoá phục vụ nhu
cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. CDCCLĐ xã hội lớn lần thứ ba xuất
hiện: thương nghiệp tách khỏi sản xuất. Lúc này, CCLĐ xã hội đã có sự phân
định theo cơ cấu ngành tương đối rõ nét, đó là: lao động công nghiệp (chủ yếu
là tiểu thủ công nghiệp); lao động nông nghiệp (bao gồm trồng trọt và chăn
nuôi) và dịch vụ (bao gồm một bộ phận lao động không tham gia sản xuất
trực tiếp mà hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, làm công việc trao đổi
sản phẩm - đó là tầng lớp thương nhân).
Chủ nghĩa tư bản (CNTB) với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa
về tư liệu sản xuất đã thúc đẩy mạnh mẽ hơn qúa trình CDCCLĐ xã hội.
Công cụ cơ khí ra đời thay thế cho công cụ thủ công làm cho công nghiệp
hoàn toàn tách khỏi nông nghiệp và thúc đẩy hơn nữa sự CDCCLĐ trong nội
bộ ngành công nghiệp, nông nghiệp nói riêng và trong toàn bộ nền kinh tế tư
bản chủ nghĩa nói chung.
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa phong kiến sang CNTB ở thế kỷ XV, các quan

vực hai và khu vực ba ngày càng tăng do tính co giãn về nhu cầu sản phẩm
của hai khu vực này, đặc biệt là với khu vực thứ ba [100, tr.87].
Lý thuyết nhị nguyên do A. Lewis khởi xướng đưa ra những ý kiến cụ thể
hơn về CDCCLĐ ngành trong quá trình CDCCKT. Ông cho rằng: mối quan
hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp xuất phát từ tư tưởng của Ricardo, ông
lưu ý đến mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong việc giải quyết
lao động dư thừa ở nông thôn: Việc dịch chuyển lao động sẽ làm cho tỷ trọng
lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm, nhưng vẫn giữ mức sản lượng
lương thực không đổi, thậm chí còn tăng lên do năng suất lao động trong
nông nghiệp được cải thiện. Theo ông, để tăng hiệu quả của sự tác động qua


lại giữa hai khu vực, cần kết hợp với việc giảm tốc độ tăng dân số, tạo điều
kiện CDCCLĐ xã hội phát triển [100, tr.82].
Trong lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế của mình, W. Rostow lại
chia quá trình phát triển kinh tế của một nước thành năm giai đoạn khác nhau
và theo đó, qúa trình CDCCLĐ cũng sẽ được thực hiện từ thấp đến cao tương
ứng với các giai đoạn phát triển kinh tế. Theo W. Rostow:
- Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn xã hội truyền thống: sản xuất nông nghiệp
giữ vai trò chủ yếu trong hoạt động kinh tế. Lao động chủ yếu bằng công cụ
thủ công, khoa học - kỹ thuật chưa phát triển nên năng suất lao động thấp.
Hoạt động chung của xã hội kém linh hoạt, sản xuất hàng hoá chưa phát triển
và sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp, tự túc. Do vậy, ở giai
đoạn này, lao động nông nghiệp chiếm tuyệt đại bộ phận lao động xã hội.
- Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: là giai đoạn những điều kiện cần thiết để cất
cánh đã bắt đầu xuất hiện. Sự tiếp cận và áp dụng các thành tựu của khoa học
- kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp đã tạo tiền đề cho
sự CDCCLĐ nông nghiệp sang các ngành khác.
- Giai đoạn cất cánh: tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tăng từ 5 - 10%; công nghiệp
và nông nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật. Công

Mặc dù cách tiếp cận vấn đề có thể khác nhau nhưng lý luận kinh tế nói
chung và lý luận về CDCCLĐ xã hội của các học giả tư sản cũng có những
điểm tương đồng. Do chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản nên cách đặt vấn
đề, giải quyết vấn đề đều có hạn chế như nhau là còn mang tính chủ quan,
không toàn diện, triệt để.
Theo quan điểm mácxít, trong mỗi hình thái kinh tế xã hội, sự phân công
lao động, CDCCLĐ xã hội đều có hai mặt:


Mặt thứ nhất gồm các yếu tố có liên quan đến sự phát triển của lực lượng
sản xuất, bởi vì sự phân công lao động xã hội trước hết là sự phân chia tư liệu
sản xuất và công cụ sản xuất theo các ngành kinh tế. C. Mác đã từng khẳng
định, lao động được tổ chức và phân công theo nhiều cách khác nhau tuỳ
thuộc vào những công cụ và tư liệu được sử dụng.
Mặt thứ hai có liên quan chặt chẽ đến đặc trưng của hình thái kinh tế - xã
hội mà trong đó diễn ra quá trình CDCCLĐ xã hội, nó được quy định bởi
quan hệ sản xuất thống trị trong phương thức sản xuất này hay phương thức
sản xuất khác.
Khi trình bày vấn đề CDCCLĐ xã hội, các học giả tư sản luôn tìm cách né
tránh khía cạnh thứ hai tức là hình thái kinh tế - xã hội của CDCCLĐ. Khoa
kinh tế học tư sản chỉ luôn tìm cách gói gọn phân công lao động xã hội trong
vấn đề phát triển của lực lượng sản xuất và cố tình làm lu mờ mặt kinh tế - xã
hội của vấn đề này dưới CNTB.
Vấn đề CDCCLĐ xã hội được các nhà kinh điển mácxít nghiên cứu gắn với
sự phát triển của phương thức sản xuất TBCN. Các ông mới chỉ đề cập vấn đề
CDCCLĐ xã hội dưới CNXH và chủ nghĩa cộng sản như là một dự đoán về
tương lai. Khác với các nhà kinh tế học phát triển, trong học thuyết về phân
công lao động xã hội, về CDCCLĐ, kinh tế học mácxít không những chỉ rõ
bản chất các điều kiện, tiền đề cần thiết mà còn vạch ra khuôn khổ thể chế
quyết định sự thay đổi về chất cuộc cách mạng công nghiệp, cơ sở của sự

Dưới CNXH, cơ sở kinh tế và cơ sở vật chất kỹ thuật mới được ra đời và
phát triển. Quá trình CDCCLĐ nói chung và CDCCLĐ nông nghiệp, nông
thôn nói riêng sẽ dựa trên cơ sở phát huy mọi năng lực của người lao động.
Và như thế, sự đối lập giữa thành thị và nông thôn; sự tách rời giữa lao động
trí óc và lao động chân tay sẽ dần được xoá bỏ. Đặc biệt, dưới chủ nghĩa cộng


sản người dân được hoàn toàn tự do, lao động được hoàn toàn giải phóng,
cùng với sự phát triển rất cao của lực lượng sản xuất xã hội thì quá trình
CDCCLĐ sẽ diễn ra với tính tự giác cao độ. C. Mác viết: “Một khi bắt đầu có
phân công lao động thì mỗi người đều có một phạm vi lao động nhất định và
độc chuyên mà người đó buộc phải nhận lấy và không thể thoát khỏi được;
người đó là người đi săn, người đánh cá hoặc người chăn nuôi hoặc là nhà phê
phán có tính phê phán và người đó vẫn cứ phải là như thế nếu như không
muốn mất các tư liệu của mình; còn trong xã hội cộng sản, trong đó không ai
bị hạn chế trong một phạm vi hoạt động, độc chuyên, mà mỗi người có thể tự
hoàn thiện mình trong bất kỳ lĩnh vực nào mà mình thích, thì xã hội điều tiết
toàn bộ nền sản xuất, thành thử tôi có khả năng hôm nay làm việc này, ngày
mai làm việc khác, buổi sáng đi săn, quá trưa đi đánh cá, buổi chiều chăn
nuôi, sau bữa cơm thì làm việc phê phán tuỳ, theo sở thích của mình...” [55,
tr.47].
Qua những nghiên cứu trên đây có thể thấy: sự thay đổi của CCLĐ từ trạng
thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với yêu cầu phát triển được gọi là
sự CDCCLĐ. CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn phải dựa trên cơ sở một cơ
cấu hiện có do đó, nội dung của CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn chính là
cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng một cơ cấu mới tiên
tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới phù hợp hơn với yêu
cầu của CDCCKT.
Như vậy có thể nói: CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn trong tiến trình
CNH, HĐH là quá trình đào tạo, đào tạo lại, điều chỉnh, bố trí, phân công lại

việc thực hiện cổ phần hoá, giao bán, khoán, cho thuê...và kết quả thu được là
hiệu quả sản xuất, kinh doanh được cải thiện đáng kể, tỷ trọng GDP tăng cao.
Nhưng bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nước cũng đang phải tìm lời giải


cho một bài toán khá phức tạp là sắp xếp, chuyển đổi, tạo việc làm mới cho
hàng vạn lao động dôi dư. Như vậy, mặc dù GDP tăng lên, nhưng thị trường
lao động ở khu vực này dường như đã “đóng băng”, không có khả năng tiếp
nhận thêm lao động nông nghiệp chuyển sang.
Mặt khác, kết quả CDCCLĐ thường chậm hơn so với CDCCKT vì phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, đặc biệt là công tác hướng nghiệp và
kết quả của giáo dục - đào tạo. Thông qua hội chợ việc làm được tiến hành ở
nhiều địa phương những năm gần đây cho thấy: nhu cầu tuyển dụng lao động
của các xí nghiệp liên doanh, các doanh nghiệp tư nhân là không nhỏ, nhưng
không được đáp ứng do phần đông các ứng viên không đủ năng lực, trình độ
theo yêu cầu của công việc.
1.1.2. Nội dung chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và
những nhân tố tác động đến quá trình đó trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá hiện nay
1.1.2.1. Nội dung của chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn
nước ta
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước ta là quá trình đồng thời phải giải
quyết ba vấn đề lớn là: Nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Nội dung cơ bản của CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay
là quá trình phá thế thuần nông, chuyển lao động ngành nông nghiệp có năng
suất thấp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ có năng suất cao hơn (trước
hết là ngay trên địa bàn nông thôn) để từ đó nâng cao năng suất lao động xã
hội, tạo ra nhiều của cải vật chất, sản phẩm dịch vụ; cải thiện, nâng cao đời
sống nhân dân; thực hiện hiện đại hoá nền kinh tế nông thôn trên cơ sở cơ cấu
đa ngành, đa sản phẩm.



Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp chỉ bao gồm chăn nuôi và trồng trọt nhưng
nếu theo nghĩa rộng, nông nghiệp là sự hợp thành của nông nghiệp, lâm
nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản. Chính vì vậy, CDCCLĐ nông
nghiệp, nông thôn nước ta còn là quá trình phân công lại lao động nông
nghiệp trên phạm vi cả nước nhằm tập trung đầu tư phát triển kinh tế rừng,
kinh tế miền núi kết hợp với bảo vệ biên giới; phát triển mạnh và phát huy vai
trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển, đảo. Xuất phát
từ vị trí địa lý của đất nước, rừng và biển Việt Nam có một tầm quan trọng
đặc biệt, phát triển kinh tế rừng, kinh tế biển đảo có ý nghĩa chiến lược cả
trước mắt và lâu dài, cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quốc phòng,
an ninh. Kết quả của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, sự nghiệp củng
cố quốc phòng, hiệu quả của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế phụ thuộc
nhiều vào việc hoạch định và thực hiện chiến lược biển đảo, chiến lược phát
triển kinh tế miền núi (đặc biệt là 3 vùng: Tây Nam bộ, Tây Nguyên và Tây
Bắc).
Ruộng đất bình quân theo đầu người dành cho sản xuất nông nghiệp ở vùng
đồng bằng, trung du đang có xu hướng ngày càng giảm do tốc độ đô thị hoá,
tỷ lệ tăng dân số và tình trạng đất thoái hoá, bạc mầu...trong khi tiềm năng
kinh tế biển, rừng của ta còn rất lớn, lợi thế về tài nguyên dưới biển, trên rừng
chưa được khai thác hiệu quả, do vậy CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước
ta đã và đang là quá trình “hướng lên rừng”, “tiến mạnh ra biển và làm chủ
vùng biển” [33, tr.182]. Theo đó, CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước ta
sẽ là quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát
huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km 2 thềm lục địa theo hướng đẩy mạnh
phân công lại lao động để phát triển nuôi, trồng, khai thác, chế biến hải sản
(trong đó, đặc biệt quan tâm đầu tư cho khai thác và đánh bắt xa bờ); thăm dò,
khai thác và chế biến dầu khí; phát triển công nghiệp, đóng tầu thuyền; phát


1.1.2.2. Những nhân tố tác động tới quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay
Thứ nhất: CNH, HĐH nền kinh tế đất nước nói chung và CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn nước ta nói riêng quy định phương hướng và tạo điều
kiện vật chất cho quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn.
Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới, Đại
hội lần thứ IX của Đảng xác định nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước. Sự nghiệp CNH, HĐH đặt ra yêu cầu và quyết định phương
hướng của CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn là: CDCCLĐ phải phù hợp với
sự CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; bảo đảm việc thực hiện thắng lợi mục
tiêu xây dựng nước ta thành nước công nghiệp vào năm 2020.
CNH, HĐH tạo ra những điều kiện, tiền đề thuận lợi cho quá trình
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn. Trước hết đó là sự phát triển có trọng
điểm của các cơ sở công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo máy...có khả năng
trang bị, thực hiện hiện đại hoá nông nghiệp, thực hiện điện khí hoá, cơ khí
hoá, hoá học hoá, thuỷ lợi hoá. Và đặc biệt, kết quả của tiến trình CNH, HĐH
nền kinh tế quốc dân sẽ góp phần thúc đẩy cách mạng sinh học phát triển
nhằm cung cấp ngày càng nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao,
chất lượng tốt, thực hiện mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng
hoá, nền nông nghiệp sinh học hiện đại. CNH, HĐH còn góp phần đắc lực
phát triển ngành công nghiệp chế biến, giải quyết ngày càng hiệu quả đầu ra
cho nông sản hàng hoá, tăng hàm lượng công nghệ của mỗi sản phẩm nông
nghiệp và do vậy, tăng khả năng hội nhập của nền kinh tế nói chung và nông
nghiệp nước ta nói riêng.
Bên cạnh đó, CNH, HĐH còn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn thông qua sự phát triển mạnh mẽ của các
ngành kinh tế quốc dân như công nghiệp, dịch vụ; quá trình đô thị hoá và sự


phát triển của các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch...trên phạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status