Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU.
Các nhà kinh tế học đề cao tầm quan trọng của ngành nông nghiệp
trong quá trình phát triển và rất nhiều người thừa nhận rằng, điều kiện cần
thiết để tăng trưởng kinh tế là sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp vì
dựa vào đó thì mới có nguồn thu lợi lớn và ngày một tăng của nông nghiệp.
Nông nghiệp là một ngành có lịch sử phát triển lâu đời, các hoạt động
nông nghiệp đã có từ hàng nghìn năm nay kể từ khi con người từ bỏ nghề
săn bắn hái lượm. Do lịch sử lâu đời này nền kinh tế nông nghiệp thường
được nói đến như là nền kinh tế truyền thống đồng thời nông nghiệp là một
ngành tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất cho con người. Lương thực là sản
phẩm chỉ có ở ngành nông nghiệp sản xuất ra được. Con người có thể sống
mà không cần sắt, thép, điện, nhưng không thể thay thiếu lương thực. Trên
thực tế phần lớn các sản phẩm chế tạo có thể thay thế, nhưng không có sản
phẩm nào thay thế được lương thực. Do đó, nước nào cũng phải sản xuất
hoặc nhập khẩu lương thực.
Nông nghiệp giữa vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt
đối với các nước đang phát triển và nhất là nước ta. Bởi vì ở các nước đang
phát triển nói chung và nước ta nói riêng đa số người dân sống dựa vào
nghề nông. Khu vực nông nghiệp có thể là một nguồn cung cấp vốn cho
phát triển kinh tế, với ý nghĩa lớn lao là vốn tích lũy ban đầu cho công
nghiệp hóa. Đa số các nước đang phát triển có những thuận lợi đáng kể, đó
là tài nguyên, thì nông sản đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu, và
ngoại tệ thu được sẽ dùng để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị cơ bản và
những sản phẩm trong nước chưa sản xuất được.
Cơ cấu ngành nông nghiệp có ý nghĩa hết sức to lớn đối với quá trình
phát triển của đất nước. Cơ cấu nông nghiệp góp phần tích lũy vốn cho quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng tăng dần tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ. Tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp có ý
nghĩa quan trọng không những đối với tăng trưởng chung của nền kinh tế
mà còn đối với công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo, đời sống đa số
công lao động xã hội và trình độ phát triển sản xuất trong nông nghiệp,
nhưng nó được thể hiện trên những vùng lãnh thổ nhất định.
Cơ cấu ngành nông nghiệp phát triển tiến bộ mang lại sự biểu hiện về
mặt không gian của cơ cấu ngành.
Cơ cấu ngành trong nông nghiệp thường biểu hiện bằng các quan hệ tỷ
lệ: giữa trồng trọt và chăn nuôi; giữa cây lương thực và cây công nghiệp –
rau quả; chăn nuôi gia súc và chăn nuôi gia cầm; giữa sản xuất cây nông
nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn ….
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế là một phạm trù động, nó luôn thay đổi theo từng
thời kỳ phát triển bởi các yếu tố thích hợp thành cơ cấu không cố định.
Quá trình thay đổi cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày
càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là sự thay đổi về số lượng các
ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi vị trí, tính chất
mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành.
Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có
và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù
hợp để xây dựng cơ cấu tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm
biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phong phú hơn.
2. Các mô hình lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Mô hình hai khu vực của Arthus Lewis.
Nhà kinh tế học người Mỹ gốc Jamaica A.Lewis, đã đưa ra các giải
thích về mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong quá trình tăng
trưởng. Đặc trưng chủ yếu của mô hình hai khu vực cổ điển là phân chia
nền kinh tế thành hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp và nghiên cứu
quá trình di chuyển lao động giữa hai khu vực. Khu vực nông nghiệp, ở
Ở hình 2 mô tả đường biểu diễn sản phẩm biên MP và sản phẩm trung
bình của lao động khu vực nông nghiệp (APa). Đường biểu diễn thể hiện
mức Mpa= 0 bắt đầu từ điểm L = L2, và tại đó mức AP2=TP2/L2=0A.
Như vậy khi khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động thì mức tiền công
trong khu vực nông nghiệp theo mức sản phẩm biển của lao động và Lewis
gọi đây là mức tiền công tối thiểu hay mức tiển công đủ sống cho người
lao động ở khu vực này. Trong điều kiện có dư thừa lao động thì mọi
người lao động trong khu vực nông nghiệp được trả một mức tiền công
như nhau và nó chính là mức tiền công tối thiểu, được tính bằng mức sản
phẩm trung bình của lao động.
Khu vực hiện đại hay khu vực công nghiệp : Trước hết để tiến hành
hoạt động của mình, khu vực công nghiệp phải lôi kéo được lao động từ
nông nghiệp sang. Điều kiện để chuyển được lao động từ nông thôn ra
thành thị là khu vực công nghiệp phải trả cho họ một mức tiền công lao
động cao hơn mức tiền công tối thiểu ở khu vực nông nghiệp hinệ họ đang
được hưởng. Theo Lewis, thì mức tiền công phải trả cao hơn là khoảng
30% so với mức tiền công tối thiểu.
Khu vực công nghiệp khi thu hút lực lượng từ nông nghiệp sang chỉ
phải trả cho họ một mức tiền công ngang bằng nhau. Cho đến khi khu vực
nông nghiệp hết dư thừa lao động. Nếu khu vực công nghiệp vẫn tiếp tục
có nhu cầu thu hút thêm lực lượng lao động thì phải trả một mức tiền công
ngày càng lớn hơn. Khi khu vực nông nghiệp hết dư thừa lao động, quá
trình trao đổi giữa hai khu vực ngày càng trở nên bất lợi về phía công
nghiệp. Trong tổng thu nhập tạo nên, tỷ lệ để trả lương có xu hướng tăng
lên trong khi tỷ lệ lợi nhuận để lại có xu hướng giảm dần. Kết quả là hiện
tượng bất bình đẳng về kinh tế có xu hướng giảm đi. Trong trường hợp đó,
để giảm sự bất lợi cho công nghiệp, cần phải đầu tư lại cho cả nông nghiệp
nhằm tăng năng suất lao động, giảm cầu lao động ở khu vực này. Việc rút
lao động từ nông nghiệp ra không làm giảm tổng sản phẩm nông nghiệp,
4
là đặt khoa học công nghiệp là một yếu tố trực tiếp và mang tính quyết
định đến tăng trưởng kinh tế. Điều này đã giúp họ phê phán quan điểm dư
thừa lao động trong nông nghiệp của trường phái cổ điển và thực hiện
những nghiên cứu khác biệt về mối quan hệ công nghiệp với nông nghiệp
trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Mô hình tân
cổ điển về hai khu vực kinh tế được phân tích như sau:
Khu vực nông nghiệp.
Dưới sự tác động của khoa học công nghệ, các nhà kinh tế thuộc trường
phái tân cổ điển cho rằng yếu tố ruộng đất trong nông nghiệp không có
điểm dừng, con người có thể cải tạo và nâng cao chất lượng ruộng đất. Với
lập luận đó, đường biểu diễn hàm sản xuất trong nông nghiệp với yếu tố
lao động biến đổi TP = F(L) của trường phái tân cổ điển sẽ luôn có xu thế
dốc lên thể hiện dưới sơ đồ sau:
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
TP
0 L
Đường hàm sản xuất trong nông nghiệp tân cổ điển.
Sơ đồ cho thấy, mọi sự tăng lên của lao động đều dẫn đến tăng sản
lượng nông nghiệp, tức là sản phẩm cận biên của lao động trong khu vực
này luôn dương (MP > 0). Điều đó có nghĩa là sự tăng dân số không phải
là hiện tượng bất lợi hoàn toàn và do đó không có lao động dư thừa để có
thể chuyển sang khu vực khác mà không làm giảm đầu ra của nông nghiệp.
Tuy vậy, qua sơ đồ ta thấy mặc dù đường biểu diễn hàm sản xuất trong
nông nghiệp không có phần nằm nganh nhưng độ dốc cũng có xu thế giảm
dần, tức là với một số lượng lao động tăng lên bằng nhau, càng về sau thì
mức tăng lên của tổng sản phẩm ngày càng giảm đi. Biểu hiện trì trệ này
được giải thích bởi quy luật lợi nhuận biên giảm dần theo quy mô, cho dù
có sự tác động của khoa học công nghệ nhưng đất đai trong nông nghiệp
vẫn có dấu hiệu giảm đi về số và chất lượng, nên sản phẩm biên của lao
Quan điểm đầu tư.
Trong điều kiện trên, để cho quá trình trao đổi giữa hai khu vực không
tạo ra những bất lợi ngày càng nhiều cho công nghiệp thì các nhà tân cổ
điển cho rằng cần phải đầu tư cả cho nông nghiệp ngay từ đầu chứ không
phải chỉ quan tâm đến đầu tư cho công nghiệp. Việc đầu tư cho nông
nghiệp phải được thể hiện theo hướng nâng cao năng suất lao động ở khu
vực này để mặc dù rút bớt lao động trong nông nghiệp chuyển sang công
nghiệp cũng không ảnh hưởng đến sản lượng lương thực, thực phẩm, giá
nông sản không tăng, giảm sức ép tăng giá tiền công lao động công nghiệp.
Mặt khác để giảm bớt áp lực, khu vực công nghiệp một mặt, cần đầu tư
theo chiều sâu để giảm cầu lao đông; mặt khác, khu vực này cần tập trung
đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa xuất khẩu để đổi lấy lương thực, thực
phẩm nhập khẩu từ nước ngoài về. Điều đó làm cho mặc dù lượng lương
thực, thực phẩm sản xuất trong nước có thể giảm đi, nhưng giá nông sản
không tăng do được thay thế bằng nông sản nhập khẩu. Tuy khu vực nông
S
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nghiệp không có thất nghiệp nhưng vẫn có biểu hiện trì trệ tương đối so
với công nghiệp tức là với một số lượng lao động bổ sung cho nông nghiệp
bằng nhau nhưng mức tổng sản phẩm gia tăng có xu hướng ngày càng
giảm.
Mô hình hai khu vực của Harry T.Oshima.
Harry T.Oshima là nhà kinh tế người Nhật, ông nghiên cứu mối quan
hệ giữa hai khu vực dựa trên những đặc điểm khác biệt của các nước Châu
Á so với các nước Âu – Mỹ, đó là nền nông nghiệp lúa nước có tính thời
vụ cao, vào thời gian cao điểm của mùa vụ vẫn có hiện tượng thiếu lao
động và lại dư thừa nhiều trong mùa nhàn rỗi.
Ông đồng ý với Lewis rằng khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động,
nhưng theo ông thì điều đó không phải lúc nào cũng xẩy ra, đặc biệt là lúc
dân bắt đầu tăng lên, họ có thể chi tiêu nhiều hơn cho giống mới, phân hóa
học, thuốc trừ sâu và công cụ lao động. Đồng thời để nâng cao năng suất
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lao động và hiệu quả các hoạt động khác, khu vực nông nghiệp cần có sự
hỗ trợ của Nhà nước về các mặt: Xây dựng hệ thống kênh mương, đập tưới
tiêu nước, hệ thống vận tải nông thôn để trao đổi hàng hóa, hệ thống giáo
dục và điện khí hóa nông thôn. Theo đó thực hiện cải tiến các hình thức tổ
chức sản xuất và dịch vụ ở nông thôn. Trong giai đoạn đầu này, nhu cầu
lương thực cho số dân tăng lên là hết sức cần thiết. Việc tăng sản lượng
nông sản sẽ giảm sản lượng nhập khẩu hoặc mở rộng xuất khẩu lương
thực, thực phẩm. Cả hai trường hợp đều nhằm có thêm ngoại tệ để nhập
khẩu máy móc thiết bị cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.
Dấu hiệu kết thức giai đoạn này là khi chủng loại nông sản sản xuất ra
ngày càng nhiều với quy mô lớn, nhu cầu cung cấp các yếu tố đầu vào cho
sản xuất nông nghiệp tăng cao và xuất hiện yêu cầu chế biến nông sản với
quy mô lớn nhằm tăng cường tính chất hàng hóa trong snả xuất nông sản
đặt ra vấn đề phát triển ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ với quy
mô lớn.
Giai đoạn hai: Hướng tới việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư phát triển
đồng thời cả nông nghiệp và công nghiệp.
Giai đoạn này là đầu tư phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp
và dịch vụ theo chiều rộng, cụ thể: tiếp tục thực hiện đa dạng hóa sản xuất
cây trồng và vật nuôi trong nông nghiệp, thực hiện sản xuất nông nghiệp
theo quy mô lớn, xen canh, tăng vụ, nhằm tạo ra khối lượng nông sản hàng
hóa ngày càng lớn; Phát triển các ngành công nghiệp chế biến lương thực,
thực phẩm, đồ uống, đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ nhằm tăng cường số
lượng việc làm và nâng cao tính hàng hóa; phát triển các ngành công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất nông cụ thường, nông cụ cầm tay,
nông cụ cải tiến cho nông nghiệp, đồng thời phát triển các ngành công
công nghệ sinh học nhằm tăng sản lượng. Các máy cày, gặt đập, phun
nước, máy bơm, làm cỏ, máy sấy, và các phương tiện vận tải cơ giới ngày
càng mở rộng và tiết kiệm thời gian cho người lao động trên đồng ruộng.
Trong điều kiện đó khu vực nông nghiệp có khả năng rút bớt lao động để
chuyển sang các ngành công nghiệp ở thành phố mà vẫn không làm giảm
sản lượng nông nghiệp ở nông thôn. Mặt khác, khu vực công nghiệp tiếp
tục phát triển theo hướng thay thế sản phẩm nhập khẩu và hướng về xuất
khẩu với sự chuyển dịch dần về cơ cấu sản xuất sản phẩm.
3. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp trong quá trình phát
triển kinh tế.
Xu hướng chuyển dịch chung.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông – lâm – thủy sản theo xu hướng giảm
dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng lâm nghiệp và ngư nghiệp
nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng đất đai trung du, miền núi, diện tích mặt
nước, ao hồ, sông, suối, biển. Đồng thời kết hợp chặt chẽ với nông – lâm –
thủy sản để hỗ trợ nhau cùng phát triển và bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong nông nghiệp xu hướng phát triển làm giảm dần độc canh lúa,
tăng dần tỷ trọng cây công nghiệp, rau, quả, cây đặc sản, chăn nuôi để sản
xuất ra nhiều nông sản hàng hóa và xuất khẩu có giá trị cao.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt và chăn nuôi.
Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chủ yếu của nông nghiệp. Trồng
trọt cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công
nghiệp, thức ăn cho chăn nuôi, sản phẩm cho xuất khẩu. Chăn nuôi cung
cấp những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như trứng, thịt, sữa… Đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, cung cấp nguyên, vật liệu quan trọng
cho công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm và một số ngành công nghiệp
khác (hóa chất, dược liệu…). Nó cũng cung cấp nguồn hàng xuất khẩu
quan trọng ở nhiều nước đang phát triển, cũng như ở Việt Nam hiện nay
chăn nuôi còn cung cấp sức kéo cho trồng trọt. Trong nền kinh tế nông
nghiệp truyền thống, trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông
Chăn nuôi gia súc, gia cầm là một hoạt động sản xuất quan trọng trong
nông nghiệp, ở Việt Nam, trâu, bò, lợn, gà, vịt thường được nuôi phổ biến.
Ngoài ra các vật nuôi khác như ngựa, dê, ngan, ngỗng… tuy còn nhỏ bé
nhưng cũng góp phần đa dạng hóa sản phẩm. Đặc điểm của việc phát triển
chăn nuôi phản ánh điều kiện và thế mạnh của từng vùng. Ở Việt Nam,
vùng đồng hằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, đàn lợn chiếm
tỷ trọng cao nhất trong đàn gia súc (trên 85%). Tây Nguyên và Duyên Hải
Trung bộ có tỷ trọng đàn bò cao (30%), vùng Trung du, miền núi có tỷ
trọng đàn trâu cao nhất so với các vùng trên (26%). Đối với chăn nuôi gia
cầm ở tất cả các vùng, nuôi gà vẫn là chủ yếu, riêng vùng đồng bằng sông
Cửu Long đàn vịt chiếm tỷ trọng lớn (trên 43%). Cơ cấu các loại gia súc ,
gia cầm có sự chuyển dịch theo hướng tăng các loại vật nuôi có giá trị phục
vụ tiêu dùng với chất lượng cao và xuất khẩu. Cụ thể thời gian qua ở Việt
Nam là giảm tỷ trọng đàn lợn, tăng tỷ trọng đàn bò và gia cầm, nhưng sự
dịch chuyển này rất chậm.
Số lượng gia súc, gia cầm.
11