Quá trinh thay đổi tư duy công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở việt Nam - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá tình làm thay đổi các loại cơ
cấu kinh tế, kể cả những quan hệ tỷ lệ về số lợng lẫn chất lợng. Đặc biệt, thời kỳ công
nghiệp hoá với những đảo lộn cách mạng về phơng thức sản xuất, cũng đồng thời là
quá trình có sự thay đổi rất lớn về các loại cơ cấu, trứơc hết là cơ cấu kinh tế. Sự thay
đổi của cơ cấu ngành kinh tế phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội,
biểu hiện chủ yếu trên hai mặt:
Một là, lực lợng sản xuất ngày càng phát triển tạo điều kiện cho quá trình phân
công lao động xã hội trở lên sâu sắc.
Hai là, sự phát triển của phân công lao động xã hội đến lợt nó lại càng làm cho
các mối quan hệ kinh tế thị trờng càng củng cố và phát triển. Nh vậy, sự thay đổi về
số lợng, chất lợng của cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu ngành phản ánh trình độ của
sức sản xuất xã hội. Và trong thời kỳ công nghiệp hoá, nó phản ánh mức độ đạt đợc
của quá trình công nghiệp hoá.
Chính vì thế, ngày nay kinh tế học phát triển coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là
một trong những nội dung trụ cột, phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế.
Để có một cái nhìn tổng quát về quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng
nh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế tôi đã tiến hành
làm đề tài này với mong muốn hiểu rõ thêm về quá trình này qua các giai đoạn phát
triển khác nhau của đất nớc trong thời kỳ đổi mới.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I. Quá trình thay đổi t duy công nghiệp hoá và chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
1. Thời kỳ trớc năm 1986
Ngay từ Đại hội lần thứ III của Đảng (1960), vấn đề CNH và chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế đã đợc đề cập tới với quan điểm chỉ đạo là thực hiện CNH XHCN
bằng cách u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát
triển công nghiệp và công nghiệp nhẹ (ĐCSVN Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ III, NXB Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.79)
Lý do của cách tiếp cận vấn đề CNH bằng nhấn mạnh ngay từ đầu công nghiệp

cơ bản để nâng cao hiệu quả đầu t, nhằm ổn định tình hình kinh tế, chính trị, ổn định
đời sống nhân dân, tạo tiền đề cho đẩy mạnh CNH, chúng ta cũng vẫn cha thực hiện
đợc mục tiêu do Đại hội Đảng lần thứ V đa ra
Đại hội thừa nhận những sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế và nguyên nhân chủ
yếu đợc đa ra là: do t tởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội muốn bỏ qua những bớc cần
thiết....trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trớc hết là cơ cấu sản xuất và đầu t, thờng chỉ
xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh không tính điều kiện và khả năng thực tế.
(ĐCSVN - VKĐHĐBTQ lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội, 1997, tr. 19,20), nên kết
quả là: chúng ta cha tiến xa mấy so với điểm xuất phát quá thấp. Những sai lầm và
khuyết điểm mắc phải làm cho tình hình thêm khó khăn.
Từ đánh giá lại thực trạng của xuất phát điểm nh trên, Đại hội lần thứ VI (1986)
xác định giải pháp cơ cấu là: Phải thật sự tập trung sức ngời sức của vào việc thực
hiện cho đợc 3 chơng trình mục tiêu về lơng thực- thực phẩm- hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu
Nh vậy, Đại hội VI vẫn thừa kế nhiệm vụ CNH đợc xác định là trong tầm tay
suốt thời kỳ quá độ đã đa ra từ đại hội III (1960) và tính chất nhiều giai đoạn đợc
khẳng định từ Đại hội V (1982)
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Song ở đây, nhiệm vụ cụ thể của những năm trớc mắt của chặng đờng đầu tiên
(1986-1990) đợc tập trung 3 chơng trình kinh tế: lơng thực- thực phẩm, hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu, còn nhiệm vụ của công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng đợc
hởng vào việc phục vụ các Chơng trình kinh tế lớn chứ không chủ trơng phát triển
mạnh mẽ 1 cách tơng đối độc lập nh trớc đây
Đến Đại hội VII (1991) sau khi kiểm điểm lại tình hình tiến hành công cuộc
đổi mới đã ghi nhận Những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của 3
chơng trình kinh tế (lơng thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu). Đồng
thời đã nhận định rằng: Khủng hoảng kinh tế- xã hội vẫn cha chấm dứt. Điều đó có
nghĩa là chúng ta lại đứng trớc những năm trớc mắt mới của chặngđờng đầu tiên
với mục tiêu tổng quát của 5 năm tới (1991-1995) là vợt qua khó khăn, thử thách, ổn
định và phát triển kinh tế- xã hội... đa đất nớc ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng

triển có lựa chọn một số ngành công nghiệp có điều kiện về tài nguyên, nguồn vốn và
bảo đảm đợc hiệu quả, coi trọng phát triển ngành cơ khí theo hớng đầu t chiều sâu là
chính để cải tạo các cơ sở hiện có và phát triển một số cơ sở mới có điều kiện.
Phát triển mạnh một số loại dịch vụ nh bu chính viễn thông, du lịch, tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm, t vấn...theo hớng vừa phát triển thị trờng nội địa, vừa nhanh
chóng vơn ra thị trờng quốc tế.
Đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt lần đầu tiên chuyển dịch cơ
cấu lao động đợc đa vào nh một mục tiêu quan trọng của vấn đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Năm 2010, tổng sản phẩm trong nớc (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm
2000, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ lao động nông
động nông nghiệp xuống còn 50%.
Vì việc chuyển dịch cơ cấu lao động có liên quan trực tiếp tới khả năng rút lao
động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, nên nhiệm vụ đầu tiên
phải là: đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, đa nông nghiệp, lâm
nghiệp, ng nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghệ, nhất là công nghệ sinh học, đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá,
quy hoạch sử dụng đất hợp lý, đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu đợc
trên đơn vị diện tích, giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá. Đầu t nhiều
hơn cho phơng tiện kết cấu hạ tầng và xã hội ở nông thôn. Phát triển công nghiệp,
dịch vụ, các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế, cơ khí phục vụ nông
nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang
khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới nhằm nâng cao chất lợng
nguồn lực, cải thiện đời sống nhân dân và dân c ở nông thôn.
Đồng thời đối với khu vực công nghiệp phải: Vừa phát triển các ngẳnh dụng
nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có cộng nghiệp hiện đại,
công nghệ cao. Khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên, dầu khí, khoáng sản và
vật liệu xây dựng. Chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng một
tập đoàn doanh nghiệp lơn đi đầu trong cạnh tranh và hiện đại hoá.
3. Mục tiêu phấn đấu cụ thể của từng khu vực đến năm 2010

trí nào trong mối quan hệ kinh tế quốc tế, những cái chi phối động thái của sự dịch
chuyển cơ cấu kinh tế.
Song song với những quan điểm về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu là vấn đề nhận
thức thực hiện, do vậy chúng ta hãy đi tìm hiều thực trạng của quá trình chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ii. Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế ở Việt Nam
1. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam từ thập kỷ
1990 đến nay.
Để phân tích động thái chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam hiện nay,
trong chừng mực những số liệu thống kê chính thức sẵn có và có thể so sánh đợc,
chúng tôi chỉ sử dụng 2 chỉ tiêu cơ bản là cơ cấu GDP và cơ cấu lao động. Còn cơ cấu
nội bộ mỗi ngành, phần lớn chỉ tập trung vào cơ cấu GDP.
Tuy nhiên, có một lu ý nhỏ là có chút khác biệt giữa Việt Nam và các nớc trong
khi sử dụng số liệu thống kê sẵn có để phân tích, đánh giá tình hình hcuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế vĩ mô (tức phân chia nền kinh tế thành 3 khu vực cơ bản là: Khu
vực I, II, III, tơng ứng với 3 ngành kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp và
dịch vụ). Trong thống kê Việt Nam, khu vực I không bao gồm các ngành khai thác
mỏ, còn khu vực III thì không gồm lĩnh vực cung cấp điện, nớc và xây dựng; trong
khi khu vực II lại không chỉ có công nghiệp chế biến (hay công nghiệp nói chung),
mà còn gồm cả xây dựng và cung cấp điên nớc, đợc gọi chung là công nghiệp và xây
dựng.
Sự sắp xếp, phân loại này có thể phù hợp với điều kiện tổ chức để thu thập số
liệu thống kê của Việt Nam, điều nằm ngoài phạm vi thảo luận ở đây, nhng sự lu ý
chính là ở chỗ, khi sử dụng số liệu thống kê này để phân tích so sánh với quốc tế,
luôn lđòi hỏi sự đối chiếu lại nguồn số liệu. Trong trờng hợp cụ thẻ của phần phân
tích này, chúng tôi xin lu ý tới tỷ phần trên thực tế có thể thấp hơn so với sự phản ánh
của những số liệu thống kê hiện có về khu vực II (khu vực công nghiệp), cho dù khu
vực II vẫn tính phần công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Điều hy vọng là những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status