DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hội đồng nhân dân
Khu công nghiệp
Kinh tế - xã hội
Nhà xuất bản
Ủy ban nhân dân
Chữ viết tắt
CNH, HĐH
HĐND
KCN
KT - XH
Nxb
UBND
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA
KHU CÔNG NGHIỆP VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI
1.1. Những vấn đề chung về khu công nghiệp
1.2. Quan niệm, nội dung biểu hiện vai trò và những nhân
tố ảnh hưởng đến vai trò của khu công nghiệp với sự
11
17
30
30
35
56
56
62
80
81
85
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển mạnh của lực lượng sản xuất với tính chất xã hội hóa
ngày càng cao dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đòi hỏi phải
hình thành các KCN tập trung để chuyên môn hóa, tập trung hóa, xã hội hóa sản
xuất và phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp trong các ngành. Sự ra đời của
các KCN cho phép khai thác tốt nhất tài nguyên, nguồn lực con người, sử dụng
vốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý... vào quá trình sản xuất, kinh doanh
và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Từ đó, tạo ra khu vực kinh tế năng
phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình hiện nay” làm đề tài luận văn thạc
sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Khu công nghiệp và vai trò của KCN với sự phát triển KT - XH là vấn
đề lớn được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau. Song, liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn có thể kể đến các công
trình tiêu biểu sau:
* Các sách chuyên khảo
Trương Thị Minh Sâm (2004), Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và
hiệu lực quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường ở các KCN, khu chế xuất,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Trong cuốn sách tác giả đã đi sâu đánh giá
thực trạng môi trường ở các KCN, khu chế xuất của vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam, nguyên nhân của tình hình và làm rõ nguyên nhân ở góc độ quản
lý Nhà nước. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra các kiến nghị và giải pháp có tính
đặc thù nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
trường ở các KCN, khu chế xuất, để đảm bảo phát triển bền vững về KT - XH
cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng và cả nước nói chung.
Nguyễn Bình Giang (2012), Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, Viện
Khoa học xã hội Việt Nam, Tác động xã hội vùng của các KCN ở Việt
4
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Cuốn sách tập trung vào khái quát sự
phát triển các KCN ở Việt Nam; phát hiện, đánh giá và phân tích các tác
động xã hội vùng của việc phát triển KCN tới cộng đồng dân cư ở các địa
phương xung quanh KCN; giới thiệu một số kinh nghiệm của các nước
Đông Á về tác động xã hội vùng của KCN.
Đỗ Đức Quân (2010), Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững
nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các
KCN, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trong công trình khoa học này, tác giả
triển các KCN tập trung đến củng cố quốc phòng trên địa bàn thành phố.
Đỗ Văn Trịnh (2012), Phát triển khu, cụm công nghiệp tỉnh Thái Bình
hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị, Học viện Chính trị. Tác giả đã luận
giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển khu, cụm công nghiệp ở tỉnh Thái Bình.
Trên cơ sở đó đề xuất những quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh phát
triển khu, cụm công nghiệp ở tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.
* Các báo cáo, tham luận, bài báo khoa học
Hội nghị tổng kết 20 năm xây dựng và phát triển các KCN, khu chế
xuất, khu kinh tế ở Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức (02/2011) tại
Hà Nội. Hội nghị đã đánh giá những thành tựu, hạn chế và chỉ ra kinh nghiệm
xây dựng, phát triển KCN, khu chế xuất, khu kinh tế ở nước ta; kiến nghị
phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển, nâng cao chất lượng
hoạt động của các KCN, khu chế xuất, khu kinh tế.
Vũ Thị Kim Oanh (2014), Phát triển KCN Việt Nam: Thực trạng và
giải pháp, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 15 (8/2014). Tác giả đã đánh giá
những thành tựu, hạn chế qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển KCN Việt
Nam, đề xuất các giải pháp để phát triển KCN như: rà soát, cập nhật, từ đó
tiến hành bổ sung, điều chỉnh quy hoạch các KCN; tiếp tục hoàn thiện cơ chế
chính sách phát triển KCN; xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng KCN; nâng cao
tỷ lệ lấp đầy các KCN; cải thiện chất lượng thu hút đầu tư vào KCN; các cơ
quan chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra pháp luật
6
về bảo vệ môi trường tại các KCN.
Nguyễn Hữu Dũng (2008), Phát triển KCN với vấn đề lao động - việc
làm ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 5 (149). Tác giả đã đánh giá những thành
tựu nổi bật của quá trình phát triển các KCN ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay,
nhấn mạnh những thành tựu và hạn chế của vấn đề lao động và việc làm. Từ đó,
đề xuất một số giải pháp vĩ mô như giáo dục - đào tạo, phát triển hệ thống các
trạng và nhiệm vụ cần triển khai trong thời gian tới, Tạp chí Khu công
nghiệp, số 162. Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác bảo vệ môi trường ở
các KCN tác giả đã nêu lên những hạn chế bất cập trong công tác quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường, tác giả khẳng định những bất cập đó do nhiều
nguyên nhân nhưng trong đó chủ yếu nhất là là ý thức tuân thủ pháp luật về
công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp còn hạn chế. Trên cơ sơ đó
tác giả đề xuất những nhiệm vụ cần triển khai trong thời gian tới nhằm khắc
phục những hạn chế trong công tác bảo vệ môi trường ở các KCN.
Phạm Kim Thư (2012), Vấn đề quản lý nhà nước đối với KCN của Hà
Nội, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 11 (6/2012). Trên cơ sở đánh giá thực tế khả
năng đầu tư, phát triển các KCN trên địa bàn Hà Nội chưa tương xứng với tiềm
năng của Thủ đô mở rộng. Bài viết đã đưa ra 5 giải pháp nhằm tăng cường quản
lý nhà nước để khắc phục những hạn chế như đường giao thông, hệ thống cấp
thoát nước và xử lý nước thải, hàng rào, điện chiếu sáng...
Các công trình khoa học nêu trên đã tập trung nghiên cứu những vấn đề
khác nhau về KCN trên phạm vi tổng thể cả nước hoặc trên địa bàn một vùng,
một tỉnh. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào dưới
góc độ kinh tế chính trị nghiên cứu về vai trò của KCN với sự phát triển KT XH ở tỉnh Ninh Bình. Đề tài mà tác giả lựa chọn nghiên cứu không trùng hợp
với các công trình khoa học đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của KCN với
sự phát triển KT - XH, đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu phát huy
8
vai trò của KCN với sự phát triển KT - XH ở tỉnh Ninh Bình thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận về KCN bao gồm: quan niệm, nội dung
biểu hiện vai trò và những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của KCN với sự
cứ khoa học giúp Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Ninh Bình tham khảo trong lãnh
đạo, chỉ đạo phát huy vai trò của KCN với sự phát triển KT - XH của Tỉnh.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và
học tập môn kinh tế chính trị trong các trường đại học, cao đẳng.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
10
11
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA
KHU CÔNG NGHIỆP VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. Những vấn đề chung về khu công nghiệp
1.1.1.Quan niệm về khu công nghiệp
Khu công nghiệp đã được hình thành và phát triển vào những năm cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở một số nước tư bản phát triển như Anh, Mỹ và phát
triển nhanh chóng ở các nước đang phát triển từ giữa thế kỷ XX. Trên thế giới
hiện nay có rất nhiều các quan niệm khác nhau về KCN nhưng theo Tổ chức
phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) KCN là khu có hàng rào
ngăn cách với bên ngoài, chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp
hoạt động theo bất kỳ cơ chế nào (xuất khẩu hàng hóa hoặc tiêu thụ nội địa),
miễn là phù hợp với những quy định, quy hoạch về vị trí và ngành nghề, một
phần đất nằm trong KCN có thể dành cho khu chế xuất [38, tr.43].
Ở Việt Nam, sự hình thành, phát triển các KCN gắn liền với quá trình đổi mới,
cao” [19, tr.195].
Các Văn kiện của Đảng tại các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay đã hình
thành hệ thống các quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển KCN nhằm
đẩy mạnh CNH, HĐH tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển của lực lượng
sản xuất trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa. Từ khi có chủ trương của
Đảng về phát triển các KCN, Chính phủ, Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản
pháp luật để tổ chức xây dựng, phát triển và quản lý các KCN. Trong các văn
bản đó đã đưa ra định nghĩa về KCN, cụ thể:
Nghị định số 192/NĐ-CP ngày 25/12/1994, Chính phủ Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành quy chế KCN đưa ra định nghĩa KCN:
“KCN quy định trong quy chế này là công nghiệp tập trung do Chính phủ quyết
định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực
hiện các dịch vụ hỗ trợ công nghiệp, không có dân cư sinh sống” [8]
Nghị định số: 36/NĐ-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ ban hành quy
chế mới về KCN thay thế cho quy chế năm 1994 định nghĩa: “KCN là khu tập
trung các doanh nghiệp công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất
công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do
Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có
thể có doanh nghiệp chế xuất” [9].
13
Theo Luật Đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/7/2006 thì: “KCN là khu sản xuất hàng công nghiệp
và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác
định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” [35].
Nghị định của Chính phủ số 29/2008/ND-CP ngày 14/03/2008 quy
định về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế thì KCN được hiểu như sau: “KCN
là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản
xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện,
Ba là, việc xây dựng các KCN phải do Thủ tướng Chính phủ quyết
định thành lập theo những điều kiện nhất định được quy định trong điều 5
Nghị định 164/2013/ND-CP ngày 12/11/2013,
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về KCN, khu chế xuất và khu
kinh tế [11].
Khi muốn thành thành lập KCN các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương lập báo cáo nghiên cứu khả thi thành lập KCN và trình Thủ tướng
Chính phủ xem xét quyết định thành lập.
1.1.2. Đặc điểm của khu công nghiệp
Khu công nghiệp là một tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp gắn
liền quá trình CNH, HĐH đất nước. KCN có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, KCN là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tiếp
nhận và ứng dụng có hiệu quả thành tựu của khoa học công nghệ, kinh nghiệm và trình
độ tổ chức quản lý của thế giới vào quá trình sản xuất . Nơi tập trung lực lượng lao
động có chuyên môn kỹ thuật như những chuyên gia giỏi để làm công tác
quản lý, điều hành doanh nghiệp; lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề
để có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu rất đa dạng của sản xuất kinh
doanh. Đây là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, rút
ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, KCN là nơi tập trung lực lượng sản
xuất hiện đại, làm nòng cốt thúc đẩy sự phát triển KT - XH.
Hai là, KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và
nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại, trong đó có: doanh nghiệp 100% vốn
đầu tư nước ngoài, hợp đồng, hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh
ngoài. Địa điểm xây dựng các KCN phải được hình thành trên cơ sở quy hoạch phát
triển tổng thể KT - XH của các vùng, địa phương, lãnh thổ, gắn mục đích phát triển
kinh tế của địa phương với chuỗi liên kết kinh tế trong nước và đặt trong mối quan hệ
với thương mại thế giới. Việc quy hoạch phải đảm bảo quy hoạch vùng, ngành gắn với
an ninh, quốc phòng, nhằm phát huy tốt lợi thế so sánh và phù hợp với cơ cấu nguồn
16
lao động; sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực, bảo vệ môi trường, đồng thời lấy các
KCN làm hạt nhân để hình thành các khu đô thị mới.
Bốn là, các KCN đều có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ,
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như : hệ thống
đường xá, điện, nước, điện thoại. Ở các nước khác, Chính phủ thường bỏ vốn
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN. Ở Việt Nam nguồn vốn đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng KCN được kêu gọi đầu tư từ vốn trong và ngoài nước. Nhà đầu tư
xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN định giá cho thuê, cho thuê lại đất đã
xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật theo quy định của pháp luật.
Năm là, ở nước ta Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về KCN,
trong phạm vi cả nước trên cơ sở phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của
từng Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh và Ban Quản lý các KCN cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương theo quy định tại Chương 4, Nghị định 164/2013/NĐCP ngày 12/11/2013,
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày
14/3/2008 của Chính phủ quy định về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế.
Khu công nghiệp có quy chế hoạt động riêng, c ác doanh nghiệp trong
mục tiêu trên cần khai thác có hiệu quả nguồn lực trong nước, đồng thời thu
hút các nguồn lực từ bên ngoài. Nguồn lực trong nước được khai thác có hiệu
quả sẽ tạo điều kiện thu hút và sử dụng tốt các nguồn lực từ bên ngoài. Ngược
lại, nếu thu hút và sử dụng các nguồn lực bên ngoài sẽ kích thích việc huy
động sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước. Việc xây dựng các KCN
được xem như là giải pháp hết sức quan trọng nhằm tạo điều kiện, môi trường
thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước,
cũng như các nguồn lực bên ngoài. Trên cơ sở đó đẩy mạnh quá trình CNH,
HĐH đất nước, thúc đẩy phát triển KT - XH.
Các KCN có vai trò quan trọng trong việc tập trung các doanh nghiệp
sản xuất, chế biến công nghiệp, nhằm thu hút vốn, công nghệ tiên tiến trong và
ngoài nước vào hoạt động sản xuất; thúc đẩy quá trình nghiên cứu và ứng dụng
các tiến bộ khoa học công nghệ mới, xây dựng các ngành công nghiệp mũi
nhọn, nâng cao vị trí chủ đạo của ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc
18
dân; sử dụng nguyên, nhiên vật liệu và lực lượng lao động tại chỗ, tạo việc làm
mới và hỗ trợ giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, bảo đảm quốc phòng an ninh. Từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy
mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước, từng bước đưa nước ta tham gia vào quá
trình phân công lao động quốc tế theo hướng chuyên môn hóa, tập trung hóa.
Đồng thời, KCN có tác động lan tỏa tạo điều kiện dẫn dắt các ngành công
nghiệp hỗ trợ, các dịch vụ cần thiết như dịch vụ công nghiệp, dịch vụ tài chính,
ngân hàng, dịch vụ cung cấp nguyên nhiên liệu, các dịch vụ lao động trong
KCN; thu hút lao động góp phần tạo nên khu dân cư tập trung, hình thành nên
các khu đô thị, thành phố công nghiệp; giúp phân bố và sử dụng có hiệu quả
hơn các nguồn lao động của địa phương. KCN là trọng điểm kinh tế của địa
phương, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách, mở mang các ngành nghề
mới, tạo việc làm cho người lao động... Như vậy, KCN có vai trò tiên phong
trong sự nghiệp phát triển KT - XH góp phần quan trọng đẩy mạnh quá trình
đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Cùng với việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, với những thuận lợi
về vị trí và ưu đãi về chính sách, cơ chế thì KCN còn thu hút được các nhà đầu tư trong
nước. Đây là nguồn vốn tiềm tàng rất lớn trong nhân dân chưa được khai thác và sử
dụng xứng đáng. KCN sẽ tạo môi trường và cơ hội phát huy năng lực về vốn cũng như
sản xuất kinh doanh trong cùng một điều kiện ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước
ngoài, các doanh nghiệp trong nước sẽ liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước
ngoài. Từ đó, tạo cơ hội để các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp thu kinh
nghiệm quản lý, trình độ điều hành sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ
hiện đại của nước ngoài, góp phần nâng cao trình độ sản xuất. Sự gia tăng vốn đầu tư
vào KCN góp phần quan trọng vào việc tăng tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, đóng góp
trực tiếp và việc tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mặt khác còn có tác động
kích thích tăng đầu tư mới ở các doanh nghiệp ngoài KCN, nghĩa là tạo ra phản ứng
dây chuyền đối với đầu tư phát triển.
Hai là, KCN là nơi tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại và phương
pháp quản lý tiên tiến, góp phần nâng cao trình độ của người lao động.
Đối với các nước đang phát triển ở mức trung bình như Việt Nam
việc xây dựng các KCN để thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ đó tiếp thu công
20
nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà
còn là mục tiêu chiến lược. Muốn phát triển kinh tế thì không thể thiếu khoa học
công nghệ. Mà ở các nước đang phát triển thì trình độ khoa học công nghệ lạc hậu
hơn nhiều so với các nước phát triển. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy việc
tranh thủ được tiến bộ công nghệ của nước ngoài là một trong những bí quyết để
phát triển kinh tế. Chính vì vậy, thu hút đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài,
với việc hình thành các KCN là một trong những giải pháp quan trọng. Các KCN
thức và tác phong công nghiệp; tạo ra đội ngũ quản lý trình độ cao, có bản
lĩnh, có kinh nghiệm do họ được tiếp cận với những dây chuyền sản xuất
hiện đại. Mặt khác, các doanh nghiệp trong KCN thường tổ chức đào tạo,
bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho người lao động để đáp ứng với yêu
cầu của việc phát triển sản xuất. Đã hình thành hệ thống các trường dạy
nghề đào tạo công nhân làm việc trong các KCN, tạo sự liên kết giữa
doanh nghiệp với các nhà trường để đào tạo lao động kỹ thuật có chất
lượng cao. Điều đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các
doanh nghiệp trong KCN nói riêng, cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
nói chung.
Ba là, KCN là nhân tố quan trọng thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát
triển, từ đó đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
theo hướng hiện đại.
Khu công nghiệp là một công cụ hữu hiệu để thu hút các doanh nghiệp
công nghiệp và dịch vụ công nghiệp, đóng vai trò nòng cốt trong phát triển
công nghiệp của mỗi quốc gia. Bởi vì, KCN là nơi tập trung những ngành sản
xuất công nghiệp chủ yếu, tạo ra những sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và
đáp ứng nhu cầu trong nước. Các doanh nghiệp công nghiệp có cơ hội tận dụng
năng lực sản xuất của nhau, làm tăng hiệu suất hoạt động của các công trình hạ
tầng giúp các doanh nghiệp công nghiệp trong KCN tiết kiệm được các yếu tố
đầu vào, nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng lợi nhuận, mở rộng sản xuất, góp
phần quan trọng làm tăng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp. Đồng thời,
các KCN ra đời đã tạo nên những vùng công nghiệp tập trung, tác động rất tích
cực tới việc phát triển các cơ sở nguyên liệu, thúc đẩy phát triển các loại hình
dịch vụ phục vụ công nghiệp, nâng cao giá trị nông sản hàng hóa, nâng cao
hiệu quả tổng hợp của các ngành sản xuất.
22
đất nước. Các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN đã huy động vốn xây dựng
kết cấu hạ tầng KCN để kết nối đồng bộ với kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào
KCN vừa có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc triển
khai nhanh dự án sản xuất kinh doanh, vừa góp phần cải thiện hệ thống kết
cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng nông thôn của các địa phương. Qua đó, hình
thành hệ thống hạ tầng giao thông, điện, nước, viễn thông đồng bộ nối trong
và ngoài KCN, điều này không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển của các KCN
mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT - XH của các địa phương.
Tại các địa phương có KCN việc xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng trong
và ngoài KCN sẽ góp phần đáng kể hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng KT XH, làm thay đổi diện mạo của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy
mạnh thu hút đầu tư vào KCN và thúc đẩy sự phát triển KT - XH của địa
phương nói riêng, của đất nước nói chung.
Sáu là, KCN có sức lan tỏa thúc đẩy phát triển các loại hình dịch vụ
sản xuất và đời sống.
Khu công nghiệp có sức lan tỏa tạo điều kiện dẫn dắt các ngành công
nghiệp hỗ trợ và các ngành dịch vụ sản xuất phát triển như: dịch vụ tài chính,
ngân hàng, dịch vụ cung cấp nguyên nhiên liệu, dịch vụ logicstic, dịch vụ đào
tạo và cung cấp lao động... Đồng thời, KCN kéo theo sự phát triển các ngành
dịch vụ đời sống như chợ, siêu thị, các dịch vụ bưu điện, du lịch, dịch vụ cho
thuê nhà ở, vận tải công cộng... từ đó hình thành các khu đô thi tập trung,
cùng các công trình hạ tầng xã hội đã đưa mạng lưới đô thị ngày càng mở
rộng và phát triển. KCN sẽ là hạt nhân để xây dựng và phát triển các khu đô
thị mới, văn minh, góp phần cải thiện đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội cho khu
vực rộng lớn được đô thị hóa. Ở các đô thị gắn liền với KCN thì bộ phận chủ
yếu của dân cư đô thị là những người lao động và quản lý trong các KCN. Họ có
nhu cầu đi lại, ăn ở, nghỉ ngơi, giải trí phù hợp với yêu cầu làm việc trong KCN.
Như vậy, cùng với sự phát triển các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống kéo
theo sự phát triển KT - XH của một vùng kinh tế cũng như của cả quốc gia.
25