1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước (NSNN) là bộ phận cơ bản, là khâu chủ đạo, có
vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, đồng thời
là công cụ tài chính để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với
hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.
Những năm qua, cùng với quá trình đổi mới kinh tế nói chung, việc
quản lý, điều hành NSNN đã có những đổi mới căn bản và từng bước được
hoàn thiện góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, giải quyết
được những vấn đề bức thiết về kinh tế - xã hội kể từ khi Luật NSNN ra đời
và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1997, đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong
lĩnh vực quản lý NSNN. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cho đến nay cũng đặt
ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu sửa đổi bổ sung cho phù hợp với
thực tiễn.
Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc Nam Trung Bộ có nguồn thu còn hạn
hẹp, trong khi nhu cầu chi cho đầu tư phát triển ngày càng lớn, đòi hỏi quản lý
ngân sách cần phải được hoàn thiện. Trong thực tế các biện pháp quản lý
NSNN còn những vấn đề như: Quy trình NSNN chưa được tiêu chuẩn hóa và
chưa thống nhất hóa, các chỉ tiêu tài chính, ngân sách còn rất phức tạp, chưa
đồng bộ, chưa tính đến sự biến đổi trong quá trình vận động...; phân cấp quản
lý chưa rõ nét gây nên tình trạng chồng chéo trách nhiệm, quyền hạn giữa các
cơ quan quản lý NSNN... Do vậy, việc quản lý NSNN đôi khi xử lý chậm
chạp, bị động, không phù hợp, hiệu quả chưa cao. Đây là những vấn đề bức
xúc trong quản lý ngân sách hiện nay. Chính vì vậy, cần thiết phải đánh giá
lại việc thực hiện quy trình và phân cấp quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn do quản lý chưa đồng bộ,
phân cấp chưa hợp lý, để tìm giải pháp phù hợp góp phần hoàn thiện quản lý
3
- Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn về quy trình và phân cấp quản lý NSNN, đề xuất giải pháp
hoàn thiện hai nội dung trên ở địa phương.
- Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Phân tích luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN và sự cần
thiết khách quan phải hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý NSNN.
+ Phân tích thực trạng việc thực hiện quy trình và phân cấp quản lý
ngân sách hiện nay ở tỉnh Quảng Ngãi, rút ra những mặt đạt được, những hạn
chế và nguyên nhân.
+ Đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình và
phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh.
- Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu
trong phạm vi quy trình quản lý NSNN và phân cấp quản lý NSNN, các nội
dung khác của quản lý NSNN được đề cập chỉ nhằm làm rõ thêm hai nội dung
trên. Phạm vi giới hạn trong thời gian 4 năm 1998, 1999, 2000 và 2001 trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật hiện
hành của Nhà nước.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận khoa học, phương pháp diễn dịch
qui nạp, phương pháp phân tích - khái quát, phương pháp hạch toán thống kê,
kết hợp với khảo cứu thực tiễn và các tài liệu khác có liên quan.
1.1.1. Bản chất của ngân sách nhà nước
Lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển NSNN với tư cách là một phạm trù
kinh tế bao giờ cũng gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và sự tồn tại phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Khái niệm NSNN xuất hiện sau khái niệm Nhà nước. Sự xuất hiện của
Nhà nước đòi hỏi cần phải có nguồn tài lực để đáp ứng các khoản chi tiêu
của mình.
Đó là điều kiện cần để xuất hiện NSNN; song khái niệm NSNN ra đời
khi quan hệ hàng hóa - tiền tệ phát triển mạnh, đó là điều kiện đủ để xuất hiện
NSNN. Ngày nay hệ thống NSNN phát triển đầy đủ ở mọi quốc gia, song
quan niệm về NSNN vẫn chưa có sự thống nhất.
Trong chế độ phong kiến thường chưa có các văn bản tài chính thống
nhất, bao quát toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước mà việc thu, chi
của Nhà nước thường rất tuỳ tiện không chịu ràng buộc bởi sự kiểm soát nào.
Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN) ra đời nền kinh tế hàng
hóa phát triển mạnh mẽ, giai cấp tư sản đấu tranh nhằm có được môi trường
tài chính, chế độ thuế khóa rõ ràng để tự do hoạt động kinh doanh. Kết quả
cuộc đấu tranh đó Nhà nước TBCN đã xây dựng một thể chế tài chính mới;
lúc này, các nhân tố của NSNN mới hội tụ đầy đủ và NSNN từng bước được
hình thành hoàn chỉnh; đó là một ngân sách được thiết lập và phê chuẩn bởi
Nhà nước. Thuật ngữ NSNN được dùng từ đó.
6
Theo Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20 tháng 3 năm 1996 và có
hiệu lực thi hành từ năm 1997, tại Điều 1 quy định: "Ngân sách nhà nước là
toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm
thì quan hệ giữa Nhà nước và xã hội trở nên căng thẳng, sản xuất đình trệ, đời
sống nhân dân bị bần cùng.
Mọi hoạt động thu, chi của NSNN đều nhằm tạo lập và sử dụng các
nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước
và các chủ thể trong xã hội. Do đó, có thể kết luận về bản chất NSNN như
sau: NSNN là hệ thống các mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội phát sinh
trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm
bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội
của mình.
1.1.2. Chức năng của ngân sách nhà nước
Trong thời gian dài nhiều nhà kinh tế đều cho rằng, NSNN có hai
chức năng là phân phối và giám đốc, mỗi chức năng có những đặc trưng
riêng. Chức năng phân phối bao gồm: phân phối lần đầu là phân phối lại giá
trị tổng sản phẩm xã hội, cùng với các nguồn tài chính khác dưới hình thức
động viên các nguồn thu vào NSNN theo các luật định như thuế, phí, lệ phí và
các văn bản khác, sau đó phân phối lại thông qua các khoản chi đầu tư phát
triển và chi thường xuyên cho nền kinh tế - xã hội. Chức năng giám đốc là hệ
quả của chức năng phân phối, tùy thuộc vào việc triển khai chức năng phân
phối, chức năng giám đốc của NSNN là việc kiểm tra, kiểm soát tình hình thu,
chi NSNN, nhưng nếu chỉ nhìn nhận ở phạm vi hai chức năng trên của NSNN
thì chức năng của NSNN chỉ mới có ý nghĩa quá trình phân chia số học, chưa
thể hiện rõ ý nghĩa kinh tế tổng hợp và bao quát của chức năng.
Bản chất, chức năng của Nhà nước quyết định bản chất, chức năng của
NSNN. Hoạt động của NSNN, thực chất là hoạt động của Nhà nước trên lĩnh
vực tài chính. Nhà nước ra đời và tồn tại đều phải có nguồn lực tài chính để
chi tiêu, phục vụ cho việc duy trì bộ máy quản lý và phát triển kinh tế - xã
9
mà bất cứ cơ chế kinh tế nào, hình thái kinh tế - xã hội nào cũng phải thực
hiện.
* Điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội.
Trong thời kỳ kinh tế hiện vật với cơ chế tập trung, quan liêu bao
cấp... công cụ tài chính không phát huy được vai trò và vị trí của mình. Hoạt
động tài chính luôn ở thế bị động và nặng về nguyên tắc hành chính, các quan
hệ tài chính chỉ chủ yếu tác động trong phạm vi nhỏ hẹp, bản thân nguồn tài
chính mang tính chất đơn điệu. Nhận thức về các quan hệ tài chính nói chung
và quan hệ ngân sách nói riêng chưa thật đầy đủ, rõ ràng. Các quan hệ tài
chính lúc đó chủ yếu là quan hệ thu, chi trong phạm vi tài chính nhà nước với
nét đặc trưng là quan hệ giao nộp cấp phát [13, tr. 29].
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các hoạt động thu, chi:
Thông qua các sắc thuế, là công cụ của NSNN và là nguồn thu chủ
yếu của NSNN, có tác dụng để khuyến khích, mở rộng sản xuất. Những mặt
hàng sản xuất trong nước, hàng xuất khẩu cần khuyến khích và tạo điều kiện
cho cạnh tranh với hàng hóa trong khu vực và trên thế giới, nhất là hiện nay
Việt Nam đã bắt đầu có những động thái hòa nhập thương mại với Mỹ, thế
giới, đang đứng trước thời cơ và thách thức mới; cho nên cần phải có chính
sách động viên NSNN hợp lý... Chính vì thế, thông qua chính sách thuế,
không chỉ tập trung nguồn thu cho NSNN mà còn góp phần thực hiện vai trò
định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế phát triển theo hướng tích
cực, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh [20, tr. 32].
Ngoài công cụ thuế còn có khoản thu từ nguồn vay nợ trong nước và
ngoài nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho NSNN, vấn đề là việc sử dụng nguồn
vốn vay sao cho đúng hướng, có chế độ quản lý hợp lý để có hiệu quả. Nếu
không sử dụng tốt thì đây là khoản nợ lớn của ngân sách, càng làm cho ngân
sách khó khăn bởi gánh nợ chi trả.
12
một cách chủ động. Mối quan hệ giữa giá cả, thuế và dự trữ nhà nước có ảnh
hưởng sâu sắc tới tình hình thị trường. Quản lý nhà nước về thị trường, Nhà
nước tác động vĩ mô thông qua các chính sách để định hướng, tạo hành lang
cho thị trường hàng hóa phát triển mạnh và ổn định. Trong trường hợp thị trường
có biến động mạnh về giá cả, để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng Nhà
nước sử dụng nguồn dự trữ hàng hóa và tài chính để ổn định, điều hòa quan
hệ cung - cầu, bình ổn sản xuất kinh doanh. Nguồn dự trữ này hình thành từ
kinh phí cấp phát của NSNN [2, tr. 95].
1.2. QUY TRÌNH VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1. Quản lý và chu trình quản lý ngân sách nhà nước
Quản lý NSNN là quá trình Nhà nước vận dụng các chức năng của
NSNN để hoạch định chính sách, chế độ; sử dụng hệ thống các phương pháp
thích hợp tác động đến các hoạt động thu - chi của NSNN, làm cho chúng vận
động theo yêu cầu khách quan của nền kinh tế - xã hội, nhằm phục vụ tốt nhất
cho việc thực hiện các chức năng do Nhà nước đảm nhận.
Quản lý NSNN được thể hiện qua việc hoạch định các chính sách, cơ
chế quản lý và Luật NSNN. Việc hoạch định chính sách, cơ chế quản lý và
Luật ngân sách đúng đắn sẽ tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của ngân sách
trong đời sống kinh tế, xã hội. Quản lý NSNN là nghiệp vụ quản lý vĩ mô
nhưng có sự phân công, phân cấp quản lý kinh tế và hành chính, tinh thần là
vừa khai thác, tạo ra và nuôi dưỡng nguồn thu, vừa phải bố trí các nguồn chi
hợp lý. Tác động quản lý phải thông qua các hệ thống, các biện pháp phù hợp
với đặc điểm và quy luật vận động của đối tượng quản lý và được biểu hiện
qua nhiều mặt khác nhau như sau:
- NSNN phải được quản lý bằng pháp luật và kế hoạch; hoạt động thu,
sự tác động, hỗ trợ, kiểm soát lẫn nhau như chính sách động viên, chi đầu tư
phát triển, phân cấp ngân sách, cân đối ngân sách, quy trình ngân sách... trong
14
đó, hai nội dung căn bản là: quy trình ngân sách và phân cấp quản lý NSNN
giữ vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý ngân sách.
Quy trình ngân sách là quá trình ngân sách. Theo Luật Ngân sách quy
định thẩm quyền của các cấp chính quyền, cơ quan nhà nước, trình tự thời
gian về phân bổ, quyết định ngân sách và quyết toán ngân sách trong quá
trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách. Quy định này vừa tạo sự chủ
động cho chính quyền các cấp, vừa đề cao vai trò, trách nhiệm của các địa
phương trong việc thực hiện có hiệu quả ngân sách của cấp mình.
Phân cấp quản lý ngân sách là giải quyết tất cả các mối quan hệ (giữa
chính quyền nhà nước trung ương và các cấp chính quyền nhà nước địa
phương) có liên quan tới hoạt động của NSNN. Đó là thực hiện quản lý thống
nhất NSNN theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có phân công trách nhiệm,
phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp; trong đó có nội dung phân giao
nhiệm vụ thu, chi. Sự tồn tại của hệ thống NSNN bao gồm NSTW và NSĐP
đã dẫn đến yêu cầu tất yếu là phải phân cấp quản lý cho mỗi cấp chính quyền
nhà nước về nhiệm vụ, quyền hạn đối với các vấn đề thuộc về NSNN để
NSNN ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
1.2.2. Quy trình ngân sách nhà nước
Quy trình NSNN bao gồm lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; đó
là quá trình từ khi hình thành ngân sách cho tới khi kết thúc để chuyển sang
ngân sách mới.
* Lập NSNN là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của quy
trình ngân sách. Chính trong giai đoạn này các vấn đề về khối lượng ngân
sách, về chính sách thuế, chính sách vay nợ và tiền tệ cho năm sau được xem
chính thông báo về yêu cầu và nội dung lập dự toán thu, chi tài chính và ngân
sách cho năm tới; chậm nhất là ngày 10/7 năm trước. Căn cứ vào các định
16
mức, tiêu chuẩn, cũng như điều kiện cụ thể của mình, các đơn vị và cơ quan
lập dự toán thu, chi tài chính, gửi cho Bộ Tài chính. Sau khi nhận được tài
liệu của các đơn vị, cơ quan, Bộ Tài chính tiến hành tổng hợp và lập ngân
sách cho năm tài chính tới để báo cáo Chính phủ, kèm theo thuyết minh và
những vấn đề cần thiết [16].
Các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn ở địa phương căn cứ vào
nhiệm vụ cấp mình, hệ thống luật, pháp lệnh, các chế độ, thu, chi, tiêu chuẩn
định mức; những quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, ngân sách; tỷ
lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung từ ngân sách cấp
trên; số kiểm tra về dự toán ngân sách (do Bộ Tài chính thông báo quý II và
Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh thông báo cho UBND huyện và xã) và tình
hình thực hiện dự toán ngân sách năm trước để tổ chức lập dự toán cấp mình.
Cơ quan tài chính các cấp có nhiệm vụ tổ chức làm việc với UBND
cấp dưới, các cơ quan, đơn vị cùng cấp về dự toán ngân sách; có quyền yêu
cầu bố trí lại những khoản thu, chi trong dự toán chưa đúng chế độ, tiêu
chuẩn, chưa hợp lý, chưa tiết kiệm, chưa phù hợp với khả năng ngân sách và
định hướng phát triển kinh tế - xã hội.
UBND hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, chính
quyền cấp dưới lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý; trình
Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp quyết định dự toán ngân sách địa
phương (NSĐP) và phương án phân bổ ngân sách cấp mình; báo cáo cơ quan
hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên dự toán NSĐP và kết quả
phân bổ dự toán ngân sách cấp mình đã được HĐND cùng cấp quyết định.
Trên cơ sở nhiệm vụ ngân sách cả năm gồm nội dung tổ chức thu
- Nội dung chủ yếu của tổ chức chấp hành kế hoạch thu ngân sách:
+ Dựa vào kế hoạch thu hàng năm đã được Quốc hội thông qua, căn
cứ vào tình hình thực tế sản xuất kinh doanh, tình hình kinh tế hoạch định kế
18
hoạch thu hàng quý, hàng tháng phù hợp. Đồng thời phân bổ, giao nhiệm vụ
thu hàng quý, tháng cho từng ngành, từng đơn vị và cho từng cán bộ làm công
tác thu nộp.
+ Tổ chức các biện pháp kinh tế, tài chính, các biện pháp, các nghiệp
vụ nhằm hoàn thành kế hoạch thu NSNN, củng cố, kiện toàn bộ máy thu
thống nhất từ trung ương đến địa phương, đảm bảo bộ máy gọn nhẹ nhưng đạt
hiệu suất công tác cao. Cụ thể hóa các chính sách, chế độ, luật lệ thu của Nhà
nước và hướng dẫn các cấp, các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh thực
hiện, nghiên cứu đề xuất các biện pháp kiểm tra thu nộp và tổ chức lực lượng
thực hiện công tác kiểm tra đôn đốc thu nộp đối với từng cơ sở hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Xác lập mối liên hệ về mặt nghiệp vụ đối với các cơ quan liên quan
trong quá trình chấp hành kế hoạch thu NSNN: kịp thời nắm bắt và xử lý
thông tin cần thiết trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như trong lĩnh vực
thu nộp [26, tr. 347-351-352].
- Nội dung chủ yếu của tổ chức chấp hành kế hoạch chi ngân sách:
+ Xác lập quỹ cấp phát NSNN theo những mục tiêu mà kế hoạch chi
đã đặt ra nhằm đảm bảo tính chủ động trong quá trình cấp phát.
+ Kiểm tra soát xét tình hình tồn quỹ ngân sách đề xuất các biện pháp
giải quyết, trên cơ sở đó tổ chức việc cấp phát một cách kịp thời, chặt chẽ,
tránh mọi sơ hở gây lãng phí, tham ô làm thất thoát tài sản của Nhà nước.
- Bằng các biện pháp nghiệp vụ, cơ quan tài chính cụ thể hóa và
hướng dẫn các cấp, các ngành, các đơn vị thi hành. Cơ quan tài chính có trách
UBND huyện, UBND huyện trình HĐND huyện phê chuẩn xem xét để gửi
Sở Tài chính - Vật giá.
+ Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm thẩm tra báo cáo quyết toán
thu, chi ngân sách huyện; lập báo cáo thu NSNN trên địa bàn tỉnh và báo cáo
20
quyết toán thu, chi ngân sách tỉnh (bao gồm: thu, chi ngân sách cấp tỉnh; thu,
chi ngân sách cấp huyện) trình UBND, UBND tỉnh trình HĐND tỉnh phê chuẩn
xem xét để gửi Bộ Tài chính và gửi cơ quan kiểm toán nhà nước khu vực.
Công tác kiểm tra, kiểm toán, công tác kế toán ngân sách được thực
hiện thường xuyên là một biện pháp bảo đảm cho các quy định về kế toán
được chấp hành nghiêm chỉnh và số liệu kế toán được báo cáo đầy đủ, trung
thực, chính xác và khách quan.
Các báo cáo quyết toán thu, chi đơn vị ngân sách của đơn vị dự toán
các cấp và báo cáo quyết toán ngân sách của các cấp chính quyền trước khi
trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn, phải được cơ quan kiểm
toán nhà nước kiểm toán.
1.2.3. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý ngân sách thực chất là việc giải quyết mối quan hệ
giữa các cấp chính quyền trong việc sử dụng NSNN, cụ thể là:
- Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong
việc ban hành các chính sách, chế độ thu, chi quản lý NSNN.
- Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ
chi, nguồn thu và cân đối ngân sách các cấp chính quyền.
- Giải quyết mối quan hệ trong quy trình ngân sách.
Theo Luật NSNN hiện hành, mỗi cấp chính quyền đều có ngân sách
tương ứng với 4 cấp chính quyền là 4 cấp ngân sách: Ngân sách Trung ương
(NSTW), ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã.
gồm các nội dung sau:
Thứ nhất là quan hệ về mặt chế độ, chính sách.
Trong phân cấp quản lý ngân sách phải phân định rõ cấp chính quyền
nào được ban hành các chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩn, chỉ tiêu
ngân sách ban hành những loại chế độ nào. Những vấn đề này phải được quy
22
định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn mỗi cấp tức là
cấp trung ương thì phạm vi thực hiện đến đâu, cấp địa phương thì quyền xử lý
ở phạm vi mức độ giới hạn nào trong hoạt động ngân sách. NSĐP vừa thể
hiện tính chủ động, độc lập, vừa là sự chấp hành. Các chế độ, chính sách, định
mức, tiêu chuẩn mỗi cấp ngân sách tuy phân định phạm vi, giới hạn nhưng
chúng có mối quan hệ khăng khít và thống nhất toàn quốc. Nếu không chấp
hành nghiêm chỉnh trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cấp chính quyền trong
quản lý ngân sách thì sẽ xảy ra mâu thuẫn giữa yêu cầu xử lý các điều kiện cụ
thể ở địa phương và khắc phục được tính chất quan liệu cứng nhắc của các
quy định từ trung ương.
Thứ hai là quan hệ vật chất.
Quan hệ vật chất trong việc phân giao nhiệm vụ chi và nguồn thu cũng
như quyền hạn trong cân đối ngân sách các cấp chính quyền nhà nước rất
phức tạp vì luôn vấp phải những khó khăn do sự biến động của khối lượng
nguồn thu, vì nguồn thu phụ thuộc lớn vào tình trạng kinh tế của mỗi địa
phương, nguồn thu ở mỗi địa phương chênh lệch nhau đều có ảnh hưởng đến
việc chi tiêu khác nhau.
Rõ ràng quá trình chấp hành NSNN đều có đụng chạm đến quyền hạn
và lợi ích của các cấp chính quyền, có thể nói đây là mâu thuẫn luôn có trong
sự thống nhất lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương, làm dịu đi tính phức tạp,
không để gia tăng mâu thuẫn trong quan hệ vật chất. Cho nên khi ban hành
cho ngân sách cấp dưới, ngược lại ngân sách các cấp, tỉnh, huyện, xã (phường,
thị trấn) còn có một phần được bổ sung từ ngân sách cấp trên trực tiếp.
Phần được bổ sung thu ngân sách này là các khoản thu phân chia theo
tỷ lệ phần trăm giữa các cấp ngân sách.
Đây là các khoản thu khá phức tạp và cơ chế phân cấp ngân sách đã
quy định cho phép điều hòa theo tỷ lệ phần trăm giữa các cấp ngân sách. Các
khoản thu này như:
24
+ Đối với các doanh nghiệp do Trung ương quản lý bao gồm thu thuế
giá trị gia tăng (trừ thuế giá trị gia tăng hàng hóa xuất nhập khẩu), thuế thu
nhập doanh nghiệp (không kể đơn vị hạch toán toàn ngành), các khoản thu
thuế sử dụng vốn NSNN, thu hoàn vốn chênh lệch giá và thu khác... phân cấp
nhiệm vụ thu do tỉnh đảm nhiệm và được phân chia tỷ lệ phần trăm giữa
NSTW và ngân sách tỉnh theo quy định của Trung ương (không phân chia cho
ngân sách huyện).
+ Đối với các doanh nghiệp do địa phương quản lý và các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu
nhập doanh nghiệp, thu sử dụng vốn NSNN, thu hoàn vốn chênh lệch giá và
các khoản thu khác phân cấp cho tỉnh thì do tỉnh thu và được điều tiết toàn bộ
cho ngân sách tỉnh, không điều tiết cho ngân sách huyện. Thuế sử dụng đất
nông nghiệp phân cấp cho huyện thu và được phân chia tỷ lệ phần trăm cho
ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, ngân sách xã. Mức phân chia cho các cấp
ngân sách được xác định căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương.
+ Thu từ khu vực ngoài quốc doanh bao gồm thuế doanh thu (thuế
GTGT), thuế lợi tức (thuế thu nhập doanh nghiệp), thuế tài nguyên, thuế môn
bài, thuế sát sinh, thu khác phân giao nhiệm vụ cho cả tỉnh và huyện nhưng
chủ yếu là huyện thu, nguồn thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm cho cả
Đối với sự nghiệp kinh tế bao gồm chi sự nghiệp nông nghiệp, sự
nghiệp thủy lợi, sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kiến thiết thị chính, phân cấp
chi cho cả ngân sách tỉnh, huyện, xã. Các khoản chi sự nghiệp đó cho các
công trình thuộc cấp nào quản lý thì ngân sách cấp đó đảm nhiệm chi. Sự
nghiệp giáo dục - đào tạo, sự nghiệp y tế, khoa học - công nghệ, môi trường
phân cấp cho ngân sách tỉnh đảm nhiệm chi thông qua phương thức cấp phát
ủy quyền cho các huyện.