1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
“HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHI ĐẦU TƯ QUA
KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC’’
1.1. Đặt vấn đề nghiên cứu đề tài
Với chức năng quản lý quỹ NSNN, hệ thống KBNN được giao một số chức
năng nhiệm vụ hết sức quan trọng, trong đó có nhiệm vụ kiể
m soát, thanh toán, chi
trả các khoản chi của NSNN với mục tiêu đảm bảo các khoản chi đúng mục đích,
tiết kiệm và có hiệu quả. Theo quy định của Luật NSNN, chi NSNN bao gồm các
khoản chi phát triển Kinh tế - Xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt
động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi
khác theo quy định của pháp luật. Mặt khác, Tổng số chi NSNN gồm lĩnh v
ực như
chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ và viện trợ, chi bổ sung quỹ dự
trữ tài chính, dự phòng ngân sách nhưng chi đầu tư phát triển là một trong những
khoản chi NSNN hết sức quan trọng trong tổng chi NSNN.
Để thực thi nhiệm vụ kiểm soát chi đầu tư từ NSNN được quy định tại Quyết
định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Giám
đốc KBNN đã ban hành quy trình kiểm soát chi
đầu tư và quy trình này được bổ
sung, điều chỉnh nhiều lần cho phù hợp với tình hình, yêu cầu thực tế ở từng thời
kỳ. Cụ thể, từ năm 2000 đến nay, đã ban hành các quyết định như : Quyết định số
601 KB/QĐ/TTVĐT ngày 28/10/2003; Quyết định số 297/QĐ-KBNN ngày
18/05/2007; Quyết định số 1359/QĐ-KBNN ngày 11/12/2007; Quyết định số
từ nguồn vốn chi đầu tư của Nhà nước đã phát huy được hiệu quả góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trên địa bàn.
Tuy nhiên, vẫn còn đây đó việc thất thoát vốn, hiệu quả
sử dụng vốn NSNN trong
đầu tư chưa cao, gây ra hiện tượng lãng phí nguồn lực kinh tế tài chính hạn hẹp.
Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó vấn đề về kiểm soát chi
vốn đầu tư của hệ thống KBNN.
Theo thống kê của KBNN trung ương, kết quả giải ngân vốn đầu tư của Bình
Phước hàng năm đạt khá thấp, cụ thể, năm 2012, tổng số vốn thanh toán chỉ đạ
t
87,9% so với kế hoạch dự toán được giao và thấp hơn mức bình quân của cả nước
(Tỉ lệ giải ngân vốn đầu tư trung bình của cả nước năm 2012 là 95,5% kế hoạch
theo thông báo số 574/KBNN-KSC ngày 01/4/2013 của KBNN trung ương).
3
Trong những năm qua, mặc dù các cấp lãnh đạo của KBNN Bình Phước đặc
biệt quan tâm và thường xuyên đưa ra những giải pháp hướng đến mục tiêu cải
thiện tốt hơn công tác kiểm soát chi đầu tư nhưng kết quả mang lại vẫn chưa đạt
được sự kỳ vọng của lãnh đạo địa phương.
Chính vì vậy, hoàn thiện quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN trên địa bàn
tỉnh Bình Phước hướng đế
n hiệu lực, hiệu quả là một vấn đề thời sự, khoa học về lý
luận, thực tiễn, cấp thiết hiện nay và tương lai. Từ đó, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn
thiện quy trình kiểm soát nội bộ chi đầu tư qua Kho bạc Nhà nước trên địa
bàn tỉnh Bình Phước” làm đề tài nghiên cứu luận án thạc sĩ kinh tế chuyên ngành
Kế toán.
1.3. Một số công trình nghiên cứu có liên quan đề tài
tư qua KBNN.
- Mô tả và đánh giá tính hữu hiệu của quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN tại
tỉnh Bình Phước.
- Xác lập quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy trình KSNB chi đầu tư qua
KBNN tại tỉnh Bình phước.
1.5. Phạm vi nghiên cứu đề
tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vận dụng lý luận vào thực tiễn quy trình
KSNB chi đầu tư qua KBNN tại địa bàn tỉnh Bình Phước. Vì vậy, đề tài không có
tham vọng nghiên cứu chuyên sâu về lý luận KSNB cũng như các lý luận chuyên
sâu về quy trình KSNB như quan điểm, khái niệm, các bộ phận cấu thành mà chỉ kế
thừa, chọn lọc những lý thuyết thích hợp về KSNB, về quy trình KSNB để xây
dựng cơ sở luận cho tiế
p cận thực tiễn, đánh giá thực tiễn để đề xuất giải pháp hoàn
thiện quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN tại tỉnh Bình Phước.
1.6. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Để đạt được ba mục tiêu nêu trên, và trong phạm vi nghiên cứu, đề tài hướng
đến tiếp cận nghiên cứu, giải quyết các nội dung sau :
- Tiếp cận, chọn lọc, xác lập cơ sở lý luận liên quan đến quy trình KSNB, như :
• Khái niệ
m KSNB;
• Các bộ phận cấu thành KSNB;
• Quy trình KSNB;
• Tính hữu hiệu quy trình KSNB;
• Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của quy trình KSNB.
và chi đầu tư qua KBNN và một số bài học kinh nghiệm quy trình KSNB liên
quan đến chi đầu tư qua KBNN, như:
• Chi đầu tư qua KBNN
5
quản lý; các yếu tố kỹ thuật, bộ máy vận hành quy trình kiểm soát KSNB chi
đầu tư qua KBNN tại tỉnh Bình Phước;
• Xác lập các giải pháp hỗ trợ thực thi quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN
tại tỉnh Bình Phước.
1.7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
6
Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở triết học duy vật biện chứng, trên quan
điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời dựa
trên những cơ sở lý thuyết về kinh tế - tài chính và các đề tài nghiên cứu có liên
quan đã được công bố.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Để tiếp cận, nghiên cứu, xác lập lý thuyết và mô t
ả thực tế, tác giả chủ yếu sử
dụng các phương pháp khảo sát, phân tích, thống kê, đối chiếu, so sánh, suy
luận để tổng hợp nên các cơ sở lý luận và mô tả thực trạng.
- Để xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp
khảo sát, thống kê và sau đó dùng phần mềm SPSS để kiểm định, đánh giá
những tác động củ
a tình hình thực trạng đến quy trình KSNB chi đầu tư qua
KBNN tại tỉnh Bình Phước.
- Để xây dựng các giải pháp hoàn thiện, tác giả sử dụng kết hợp giữa cơ sở lý
thuyết, thực trạng và kết quả kiểm định suy luận, xác lập các quan điểm, giải
pháp hoàn thiện.
1.8. Kết cấu của luận văn
Ngoài những nội dung bắt buộc theo quy định như : Lời cảm ơ
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ KSNB VÀ QUY TRÌNH KSNB
CHI ĐẦU TƯ QUA KBNN
2.1. Tổng quan về kiểm soát nội bộ (KSNB)
2.1.1. Khái niệm và hệ thống KSNB
KSNB được tiếp cận và nhận định với nhiều khái niệm khác nhau gắn liền với
quá trình hình thành, phát triển của nó. Tuy nhiên, hai định nghĩa gần đây nhất có
tính ảnh hưởng lớn đến nghiên cứu và ứng dụng kiểm soát nội bộ đó là quan
điểm
về KSNB theo Báo cáo COSO 1992 và Báo cáo COSO 2004
9 Khái lược về COSO
COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian
lận về báo cáo tài chính (National Commission on Financial Reporting, hay còn
được gọi là Treadway Commission). Ủy ban này bao gồm đại diện của Hiệp hội kế
toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA),
Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội
kế toán viên qu
ản trị (IMA). Từ mục tiêu giám sát, hạn chế, khắc phục sự gian lận
tại các công ty ở Mỹ cũng như sự quan tâm của xã hội đến KSNB, COSO được
thành lập nhằm nghiên cứu về KSNB, cụ thể là: thống nhất định nghĩa về KSNB để
phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau có liên quan; công bố đầy đủ một
hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể
tiếp cận, đánh giá, xây dựng hệ thống
kiểm soát, quy trình trình KSNB của họ và tìm giải pháp để hoàn thiện.
9 Khái niệm và các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB
Theo COSO 1992
Báo cáo COSO 1992 cung cấp một hệ thống lý luận từ sự kế thừa và phát triển
các nghiên cứu trước đó về KSNB và là báo cáo đầy đủ nhất ở thời kỳ bấy giờ.
Theo báo cáo COSO 1992: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quả
thể vuợt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Do đó, tuy
người quản lý có thể nhận thứ
c đầy đủ về các rủi ro, thế nhưng, nếu chi phí
cho việc kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát
rủi ro.
- Mục tiêu của KSNB sẽ khác nhau với những hoạt động khác nhau. Với KSNB
về báo cáo tài chính, KSNB hướng đến đảm bảo về tính trung thực và đáng tin
cậy; với sự KSNB về tính tuân thủ, KSNB hướng đến đảm bảo sự hợp lý trong
chấp hành luật pháp, quy
định; với KSNB về sự hữu hiệu và hiệu quả, KSNB
10
giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế trong hoạt động,
bảo mật thông tin, duy trì và nâng cao uy tín,
Trên cơ sở luận điểm trên, hệ thống KSNB theo COSO 1992 gồm 5 bộ phận
cấu thành chính là : môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát,
thông tin và truyền thông, giám sát. Các nội dung cụ thể từng bộ phận thể hiện tóm
tắt qua Bảng 2.1 sau.
Bảng 2.1: Các bộ cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Bộ phận Nội dung chủ yếu Các nhân tố
Môi trường
kiểm soát
Tạo ra sắc thái chung
của một tổ chức, chi
phối đến ý thức kiểm
soát của mọi người
trong tổ chức, là nền
11
bảo là những chỉ thị
của nhà quản lý được
thực hiện và có các
hành động cần thiết
đối với các rủi ro
nhằm đạt được mục
tiêu của đơn vị.
- Kiểm soát quá trình xử lý thông tin.
- Kiểm soát vật chất.
Thông tin
và truyền
thông
Hệ thống thông tin
được thiết lập để mọi
thành viên trong đơn
vị có khả năng nắm
bắt và trao đổi thông
tin cần thiết cho việc
điều hành, quản trị và
kiểm soát các hoạt
động.
- Hệ thống thông tin, bao gồm cả hệ
thống thông tin kế toán phải đảm bảo
chất lượng thông tin.
- Truyền thông bảo đảm các kênh thông
KSNB theo Báo cáo COSO 1992 ra đời và đã đóng góp khá tích cực cho
nghiên cứu, ứng dụng trong kiểm soát và nó cũng được liên tục bổ sung, hoàn thiện,
tuy nhiên, sự thay đổi môi trường hoạt động, nhất là những vấn đề rủi ro, quản trị
rủi ro dẫn đến KSNB theo COSO rơi vào một số hạn chế, khiếm khuyết. Vì vậy, sự
ra đời một công bố mới về KSNB của COSO 2004.
Trên cơ sở tiếp c
ận và bổ sung những vấn đề mới về KSNB, hệ thống KSNB
theo COSO 2004 so với COSO 1992 có các điểm giống và khác nhau sau:
Về quan điểm, hệ thống KSNB theo COSO 2004 vẫn tương tự như quan điểm
của COSO 1992 nhưng bổ sung, nhấn mạnh đến quản trị rủi ro. Cụ thể, quan điểm
về rủi ro được thể hiện, bổ sung như sau : Quản trị rủi ro doanh nghiệp là mộ
t quá
trình do hội đồng quản trị, các cấp quản lý và các nhân viên của đơn vị chi phối,
được áp dụng trong việc thiết lập các chiến lược liên quan đến toàn đơn vị và áp
dụng cho tất cả các cấp độ trong đơn vị, được thiết kế để nhận dạng các sự kiện
tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến đơn vị và quản trị rủi ro trong phạm vi chấp nhận
đượ
c rủi ro nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu
của đơn vị. Cụ thể,
Về các bộ phận cấu thành : Các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB theo
COSO 2004 so với COSO 1992 bổ sung thêm ba bộ phận mới là thiết lập mục tiêu,
nhận dạng sự kiện, đối phó rủi ro. Như vậy, các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB
gồm có: Môi trường kiểm soát; Thiết lập mục tiêu; Nhận dạng sự kiện; Đánh giá rủi
ro; Đối phó với rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát.
13
Với các bộ phận cấu thành trên, các vấn đề cần chú ý khi nghiên cứu, vận
ữu của mình. Các mục tiêu
liên quan: là những mục tiêu cụ thể hơn so với mục tiêu chiến lược và phù hợp với
mục tiêu chiến lược đã được lập. Mặc dù các mục tiêu trong đơn vị rất đa dạng,
14
nhưng các mục tiêu liên quan đến các mục tiêu chiến lược có thể bao gồm các mục
tiêu hoạt động, mục tiêu về báo cáo, mục tiêu tuân thủ. Nội dung các mục tiêu này
tương tự như KSNB.
Nhận dạng sự kiện : KSNB chỉ nhìn nhận các sự kiện có thể gây ra rủi ro cho
đơn vị trong khi đó quản trị rủi ro có cái nhìn rộng hơn nên khi xem xét sự kiện có
thể có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực
đến đơn vị và từ đó có thể tối đa hóa việc
tạo lập giá trị cho mọi tình huống trong tương lai. Ngoài ra, quản trị rủi ro cũng xem
xét các sự kiện một cách có hệ thống hơn KSNB, cụ thể như sau:
- Các yếu tố ảnh hưởng: có nhiều yếu tố có thể dẫn đến các sự kiện tác động
đến việc thực hiện mục tiêu của đơ
n vị. Việc xác định được các yếu tố bên
trong và bên ngoài tác động đến đơn vị có tác dụng quan trọng đến việc nhận
dạng các sự kiện tiềm tàng. Một khi các yếu tố ảnh hưởng đã được nhận dạng,
nhà quản lý có thể xem xét tầm quan trọng của chúng và tập trung vào các sự
kiện có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị.
-
Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự kiện: Các sự kiện liên quan đến đơn vị
thường không xuất hiện độc lập mà có sự tương tác lẫn nhau. Một sự kiện xuất
hiện có thể tạo ra, tác động đến một sự kiện khác và các sự kiện có thể xuất
hiện đồng thời. Trong việc nhận dạng các sự kiện, đơn vị phải biết
được sự
tục xem xét. Ngược lại, các sự kiện với khả năng xuất hiện cao và tác động lớn
thì cần phải xem xét kỹ càng. Các sự kiệ
n nằm giữa hai thái cực này đòi hỏi sự
đánh giá phức tạp, điều quan trọng là phải phân tích kỹ lưỡng và hợp lý.
- Sự liên hệ giữa các sự kiện: Đối với những sự kiện độc lập với nhau thì đơn vị
đánh giá các sự kiện một cách độc lập. Nhưng nếu có sự liên hệ giữa các sự
kiện hoặc các sự kiện cùng kế
t hợp lại với nhau sẽ tạo nên những tác động lớn
thì đơn vị phải đánh giá được tác động tổng hợp đó.
Phản ứng với rủi ro : Sau khi đã đánh giá các rủi ro liên quan, KSNB chưa
đưa ra được cách thức để phản ứng với rủi ro, trong khi đó quản trị rủi ro xác định
các cách thức để phản ứng với rủi ro bao gồm:
- Né tránh rủi ro: Không thự
c hiện các hoạt động mà có rủi ro cao như sản xuất
một mặt hàng mới, giảm doanh số ở một số khu vực của thị trường, bán bớt
một số ngành hàng hoạt động,
- Giảm bớt rủi ro: Các hoạt động nhằm làm giảm thiểu khả năng xuất hiện hoặc
mức độ tác động của rủi ro hoặc cả hai. Các hoạt động này liên quan đến vi
ệc
điều hành hàng ngày tại đơn vị.
16
- Chuyển giao rủi ro: Làm giảm thiểu khả năng xuất hiện và mức độ tác động
của rủi ro bằng cách chuyển giao hoặc chia sẻ một phần rủi ro. Các kỹ thuật
này bao gồm: mua bảo hiểm cho tổn thất, sử dụng các công cụ về tài chính để
dự phòng cho tổn thất, các hoạt động thuê ngoài,
- Chấp nhận rủi ro: đơn vị không làm gì cả đối vớ
Như vậy, với những bổ sung, hoàn thiện hệ thống KSNB theo COSO 2004
trong môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh mới đã giúp cho các nhà quản trị,
kiểm soát nhận dạng rủi ro, đưa rủi ro vào hệ thống KSNB. Từ đó, việc KSNB sẽ
tạo lập sự phù hợp giữa lựa chọn chiến lược và mức rủi ro có thể chấp nhận; làm
tăng hiệu quả đố
i với việc phản ứng với rủi ro; giảm thiểu tổn thất bất ngờ trong
quá trình hoạt động; nhận dạng và quản lý rủi ro xuyên suốt toàn đơn vị; cung cấp
các phản ứng tổng hợp cho nhiều loại rủi ro; giúp đơn vị nắm bắt những cơ hội
trong kinh doanh; cải thiện sự phân bổ nguồn vốn của đơn vị.
Bên cạnh những lợi ích mà s
ự bổ sung, cải thiện mang đến, hệ thống kiểm soát
nội bộ theo COSO 2004 vẫn ẩn chứa những hạn chế tiềm tàng như trong COSO
1992. Đó chính là những rủi ro liên quan đến tương lai và sự chứa đựng các yếu tố
không chắc chắn trong KSNB; những hạn chế xuất phát từ con người liên quan đến
quản trị rủi ro trong việc ra quyết định sai do thiếu thông tin, bị áp lực trong sản
xuất kinh doanh, s
ự vô ý, bất cẩn, đãng trí, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc báo
cáo của cấp dưới; việc đảm nhận vị trí công việc tạm thời, thay thế cho người khác;
sự thông đồng giữa các nhân viên với nhau hay với các bộ phận bên ngoài đơn vị;
sự cân đối giữa lợi ích và chi phí trong quyết định, sự lạm dụng quyền lực,
2.1.2. Quy trình KSNB - Tính hữu hiệu – Các nhân tố ảnh hưởng đế
n tính hữu
hiệu của quy trình KSNB
2.1.2.1. Quy trình KSNB
Quy trình KSNB là một tiến trình thực hiện KSNB. Quy trình KSNB cũng
gắn liền với những quan điểm của KSNB.
Kiểm soát” là “Xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định”.
“Kiểm soát” là bao gồm các hoạt động giám sát quá trình thực hiện, so sánh với các
tiêu chuẩn và chọn ra cách thức đúng (B.S.Dhillon 91987), Enginering
management, Inc). Như vậy, tiếp cận theo quan điểm này, quy trình KSNB gắn
hưởng đến tính hữu hiệu được thể hiện qua các vấn đề cơ bản sau
Thứ nhất, những quy phạm pháp luật, hành chính, quản lý liên quan đến quy
trình
Thứ hai, xác lập và ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật KSNB trong quy trình
KSNB.
Thứ ba, con người và các thức tổ
chức để vận hành quy trình KSNB
19
2.3. Chi đầu tư qua KBNN và một số bài học kinh nghiệm quy trình KSNB
liên quan đến chi đầu tư qua KBNN
2.3.1. Chi đầu tư qua KBNN
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt
động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn
lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu củ
a đầu tư là đạt được
các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực kinh tế mà người đầu tư phải
gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn lực kinh tế phải hy sinh đó có thể là tiền, là
tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Kết quả đạt được có thể là sự tăng
thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường giao thông,
bệnh việ
n, trường học…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lý,
khoa học kỹ thuật…) hay điều kiện làm việc, năng suất lao động trong nền sản xuất
xã hội.
Chi đầu tư phát triển hay còn gọi chung là chi đầu tư là những khoản chi mang
tính chất tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng
cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trườ
yếu tố liên quan đến quy phạm pháp luật, hành chính, quản lý; các yếu tố kỹ thuật
của quy trình; và bộ máy tổ chức thực thi.
21
CHƯƠNG 3
TỔNG QUAN VỀ KBNN TỈNH BÌNH PHƯỚC VÀ THỰC TRẠNG QUY
TRÌNH KSNB CHI ĐẦU TƯ QUA KBNN
3.1. Lược sử quá trình hình thành, phát triển của KBNN Bình Phước
Ngày 4-1-1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số 07/HÐBT tái thành
lập hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính với chức năng và nhiệm vụ
chủ yếu là Quản lý quỹ ngân sách Nhà nước và các quỹ dự trữ tài chính Nhà nước;
Theo Quyết định Số 07/HÐBT, hệ thống Kho bạc Nhà nước được tổ chức thành 3
cấp: ở Trung ương có Cục Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính; ở tỉnh, thành
phố (trực thuộc Trung ương) có Chi cục Kho bạc Nhà nước; ở huyện, quận và cấp
tương đương có Chi nhánh Kho bạc Nhà nước.
Ngày 1-4-1990, ngày hệ thống Kho bạc Nhà nước được tổ chức khá hoàn
chỉnh về chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và chính thức đi vào hoạt động trên
phạm vi cả nước. Theo đó, Kho bạc Nhà nước là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính,
có nhiệm vụ giúp Bộ Trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lí nhà nước về
quĩ ngân sách nhà nước, quĩ dự trữ tài chính nhà nước và các quỹ khác của nhà
nước được giao theo qui định của pháp luật, thực hiện huy động vốn cho ngân sách
nhà nước và cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu theo
qui định c
ủa pháp luật.
KBNN Bình Phước đã được thành lập theo Quyết định số 1140/TC-QĐ-
TCCB ngày 14/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và chính thức đi vào hoạt động
t sắc nhiệm vụ
kiểm soát chi NSNN. Qua nhiều năm tích cực thực hiện, đến nay, công tác kiểm
soát chi không đơn thuần chỉ là xuất quỹ ngân sách giúp cho công tác quản lý, điều
hành và sử dụng NSNN hiệu quả, tiết kiệm mà còn để tập trung nguồn lực tài chính
nhằm thực hiện các dự án, chương trình trọng điểm cấp thiết tạo động lực vững
mạnh để phát triển kinh tế-xã hộ
i địa phương và được khen tặng nhiều bằng khen,
huân chương.
3.2. Tổng quan về đầu tư, chi đầu tư, kiểm soát, kiểm soát nội bộ chi đầu tư
qua kho bạc Nhà nước
3.2.1. Tổng quan về đầu tư và chi đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt
động nào đó nhằm thu về kết quả nhất đị
nh trong tương lai lớn hơn các nguồn lực
đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của các công cuộc đầu tư là đạt
được các kết quả lớn hơn so với hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh
23
chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên
thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các
tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường
học…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật…)
và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc vớ
i năng suất lao động cao hơn trong
nền sản xuất xã hội.
Chi đầu tư phát triển hay còn gọi chung là chi đầu tư là những khoản chi mang
tính chất tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng
là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng
công trình và cũng là cơ sở để KBNN kiểm soát, thành toán chi đầu tư.
Tổng mức đầu tư bao gồm: chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng;
chi phí khác và chi phí dự phòng. Cụ thể
, các khoản chi phí của tổng mức đầu tư
được quy định cụ thể như sau:
- Chi phí xây dựng bao gồm: chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công
trình; chi phí phá dỡ các công trình xây dựng; chi phí san lấp mặt bằng xây
dựng; chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công;
nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công;
- Chi phí thiết bị bao gồm: chi phí mua sắm thiết bị công nghệ; chi phí đào tạo
và chuy
ển giao công nghệ (nếu có); chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh; chi
phí vận chuyển, bảo hiểm; thuế và các loại phí liên quan khác;
- Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao gồm: chi phí bồi thường nhà,
công trình trên đất, các tài sản gắn liền với đất theo quy định được bồi thường
và chi phí bồi thường khác; các khoản hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; chi phí
tái định cư; chi phí tổ chức bồi thường, h
ỗ trợ và tái định cư; chi phí sử dụng
đất trong thời gian xây dựng (nếu có); chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
(nếu có);
- Chi phí quản lý dự án bao gồm các chi phí để tổ chức thực hiện quản lý dự án
từ khi lập dự án đến đến khi hoàn thành, nghiệm thu bàn giao, đưa công trình
vào khai thác sử dụng và chi phí giám sát, đánh giá dự án đầu tư;
- Chi phí tư vấn đầu t
ư xây dựng bao gồm: chi phí tư vấn khảo sát, lập dự án,
thiết kế, giám sát xây dựng và các chi phí tư vấn khác liên quan;
- Chi phí khác bao gồm: vốn lưu động trong thời gian sản xuất thử đối với các
dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh; lãi vay trong thời gian xây
mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước và các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy
định của pháp luật. Vốn ngoài nước là nguồn tài chính do các cơ quan chính thứ
c của
chính phủ hoặc của các tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển theo 2
phương thức là viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại (tín dụng ưu đãi).
Vốn đầu tư từ Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung
là ngân sách cấp tỉnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội
do cấp tỉ
nh quản lý; đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước theo quy
định của pháp luật.
Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân
sách cấp huyện) đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo
sự phân cấp của tỉnh, trong đó có nhiệm vụ chi đầu tư xây dựng các trường phổ