21
ĐẦU
cao hiệu quả chi NSNNMỞ
thông
qua hệ thống KBNN trên địa bàn Tỉnh Phú
Thọ.1. Tính cấp thiết của Đe tài
2. Mục
đích
nghiên
cúnkhoản chi Ngân sách Nhà nước(NSNN) luôn là
Kiếm
soát
chặt
chẽ các
mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và của các cấp, các ngành, góp phần
Trên cơ sở lý luận về kiểm soát, hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về
quan trọng trong việc giám sát sự phân phối và sử dụng nguồn lực Tài chính
quản lý chi NSNN và kiểm soát chi NSNN qua KBNN, Luận văn đi sâu phân
một cách đúng mục đích, có hiệu quả; đồng thời là một biện pháp hữu hiệu đế
tích, đánh giá thực trạng và những hạn chế của công tác kiếm soát chi NSNN
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Từ năm 2004, thực hiện Luật NSNN (sửa
qua KBNN Phú Thọ trong thời gian qua; Từ đó, rút ra những nguyên nhân và
đối), công tác quản lý, kiếm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nuớc(KBNN)
đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu cùng các điều kiện thực hiện nhằm
đã có những chuyển biến tích cực; công tác lập, duyệt, phân bố dự toán được
tăng cường kiểm soát chi NSNN trên địa bàn Tỉnh Phú Thọ.
chú trọng hơn về chất lượng và thời gian; Việc quản lý điều hành NSNN cũng
đã có những thay đối lớn và đạt được thành tựu quan trọng, góp phần thúc đấy
3. Đối tượng, phạm vi
trên phương
pháp
Xuất
tù' tình
tế đó, Tác
giảluận
chọncủa
ĐeChủ
tài: nghĩa
“HoànMác-Lênin:
thiện kiếm
Phương
vậtNhà
biệnnước
chứng
duy bạc
vật lịch
soát
chỉ pháp
Ngânduy
sách
quavàKho
Nhàsử.
nước trên địa bàn Tỉnh Phú
Các
phápnhằm
nghiên
thế:
tài quản
đã sửlý,dụng
Chưcntữ III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiếm soát chi Ngân sách
4
Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VÈ KIẾM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. Kiếm soát và các loại hình kiếm soát trong quản lý
/. /. /. Khải niệm kiêm soát
Theo từ điến Tiếng Việt do viện ngôn ngữ học biên soạn, kiếm soát là
“xem xét đế phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định”(27,253). Theo
Đại từ điến Tiếng Việt do Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam biên
soạn, kiểm soát là “kiểm tra, xem xét nhằm ngăn ngừa những sai phạm các
quy định”( 164,386). Theo tù' điển Luật học, kiểm soát là “xem xét để phát
hiện, ngăn ngừa kịp thời việc làm sai trái với thỏa thuận, với quy
định”(54,264).
Như vậy, kiếm soát là công việc nhằm soát xét lại những quy định,
những quá trình thực thi các quyết định quản lí được thể hiện trên các nghiệp
vụ (những thao tác cụ thế) nhằm nắm bắt và điều hành được những nghiệp vụ
đó.
Kiểm soát là một chức năng của quản lý, do vậy, đế hiểu được khái
niệm về kiểm soát cần phải xuất phát từ việc nghiên cứu quản lý nói chung và
quản lý nhà nước nói riêng.
Hoạt động quản lý là cực kỳ cần thiết trong mọi tổ chức, quản lý không
chỉ đảm bảo cho hoạt động của một tố chức được tiến hành với hiệu xuất cao
mà còn đảm bảo cho các đối tượng đó theo hướng các mục tiêu đề ra, theo
chức năng được quy định và nhiệm vụ được giao.
Một cách chung nhất, quản lý là một quá trình định hướng và tô chức
điều hành đối tượng hoặc khách thế quản lý.
6
Với ý nghĩa đó, kiểm soát có thế được hiểu theo nhiều cách: cấp trên
kiểm soát cấp dưới thông qua chính sách hoặc các biện pháp cụ thể; đơn vị
này kiểm soát đơn vị khác thông qua chi phối đáng kể quyền sở hữu và lợi ích
tương ứng; nội bộ đơn vị kiếm soát lẫn nhau thống qua quy chế và các thủ tục
quản lý.
Trong quản lý, kiếm soát là công việc nhằm soát xét lại những qui
định,
những quá trình thực thi các quyết định quản lý được thế hiện trên các nghiệp
vụ (những thao tác cụ thể) nhằm nắm bắt và điều hành những nghiệp vụ đó.
1.1.2. Các loại hình kiêm soát
Hoạt động kiểm soát có thể được phân thành nhiều loại khác nhau dựa
trên các tiêu thức khác nhau như: mục tiêu kiếm soát; nội dung tác nghiệp;
phương thức thực hiện; thời điếm thực hiện. Theo quan hệ với quá trình tác
nghiệp, hoạt động kiểm soát có thể chia ra hoạt động kiểm soát trực tiếp và
kiếm soát gián tiếp. Theo thời điếm thực hiện trong quá trình tác nghiệp, hoạt
động kiểm soát được chia ra làm ba loại: Kiểm soát trước; kiểm soát hiện
hành và kiếm soát sau. Căn cứ vào nội dung của kiểm soát có thế chia ra
thành kiếm soát hành chính và kiếm soát kế toán. Căn cứ vào mục tiêu của
kiểm soát có thể chia ra thành kiểm soát ngăn ngừa, kiểm soát phát hiện và
kiểm soát điều chỉnh.
1.1.2.1. Kiêm soát quản lỷ và kiêm soát kế toán
Theo chuẩn mực Kiểm toán của Viện kế toán viên công chứng
Mỹ(AICPA), phần thực hành kiểm toán (32009) thì:
Năm là, cung cấp căn cứ đế đè ra quyết định sử lý các sai lệch, rủi ro có
thể gặp phải.
Như vậy, kiểm soát kế toán chỉ quan tâm đến hoạt động Tài chính của
doanh nghiệp được phản ánh trên các tài liệu kế toán. Trong khi đó, kiếm soát
quản lý yêu cầu một phạm vi rộng hơn của các đối tượng kiểm soát theo mục
tiêu quản lý của toàn bộ tố chức. Tuy nhiên, kiếm soát kế toán lại có vai trò là
cơ sở cho kiếm soát quản lý. Các chứng từ kế toán không chỉ là sự thông tin
mà còn là minh chứng pháp lý cho sự hình thành các nghiệp vụ kinh tế. Từ
đó, kiểm soát kế toán có thẻ hình thành phương pháp tự kiểm soát: đối ứng tài
khoản không chỉ là phương pháp phân loại, phản ánh sự vận động của tài sản
mà còn là phương pháp kiểm tra những quan hệ cân đối cụ thể, tổng hợp cân
đối kế toán không chỉ cung cấp những thong tin tổng hợp mà còn là phương
pháp kiếm tra kết quả cân đối tống quát trong thông tin kế toán.
1.1.2.2. Kiêm soát ngăn ngừa, kiêm soát phát hiện và kiêm soát điêu
chỉnh
Mục tiêu của hoạt động kiểm soát trong tác nghiệp là đảm bảo cho quá
trình tác nghiệp được thành công, đạt được mục tiêu đề ra, ngăn ngừa và phát
hiện các sai lầm, gian lận, sai sót và rủi ro trong quá trình tác nghiệp làm giảm
thiểu các khả năng xảy ra các hiện tượng này và còn cung cấp những thông tin
cần thiết cho việc ra quyết định điều chỉnh.
Hoạt động kiêm soát ngăn ngừa tập trung chủ yếu vào việc quản lý
nhân sự, xây dựng qui trình, qui phạm thực hiện các thao tác tác nghiệp.
Hoạt động kiếm soát phát hiện tập trung vào việc phát hiện các gian
lận, sai sót, sai lầm và rủi ro trong quá trình tác nghiệp một cách nhanh chóng,
nhằm giúp các cấp lãnh đạo có những quyết định xử lý kịp thời, hạn chế tới
mức thấp nhất những thiệt hại có thế xảy ra.
Hoạt động kiểm soát điều chỉnh hướng tới việc cung cấp những thông
Ba là, duy trì và kiểm tra tuân thủ các chính sách có liên quan đến hoạt
động của đơn vị
Bốn là, bảo đảm hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý.
Kiểm soát nội bộ là một chức năng quản lý, trong phạm vi một đơn vị
cơ sở, kiếm soát nội bộ là việc tự kiếm tra và giám sát mọi hoạt động trong tất
cả các khâu của quá trình quản lý nhằm bảo đảm các hoạt động đúng pháp
luật và đạt được các kế hoạch, mục tiêu đề ra với hiệu quả kinh tế cao nhất và
10
đảm bảo độ tin cậy của các báo cáo Tài chính. Thực tế đã chứng minh, đơn vị
nào có hệ thống Kiếm soát nội bộ hoạt động tốt và có độ tin cậy cao thì có thế
cung cấp cho các cấp Lãnh đạo cũng như các cơ quan bên ngoài muốn tìm
hiểu hoạt động của đơn vị.
Hệ thống kiểm soát nội bộ của một đơn vị là toàn bộ các chính sách và
phương pháp qua đó góp phần bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm tính chính
xác của các thông tin lưu hành trong đơn vị. Kiếm soát nội bộ bao gồm các
phần hành kiểm soát tạo hiệu quả cho hoạt động đúng với các chính sách,
chiến lược đã đề ra.
Hệ thống kiểm soát nội bộ trước hết là một cơ cấu tổ chức với sự phân
công phân cấp, phân quyền một cách hợp lý và chặt chẽ trong điều hành và
tác nghiệp, sự phân công và phân cấp này tự’ nó đã hình thành một phương
thức giám sát. Hệ thống kiểm soát nội bộ còn là các quy phạm, nguyên tắc và
chuấn mực hình thành các mạng lưới kiếm soát theo nhiều giác độ hành
chính, nghiệp vụ và kế toán, quy định cách thức làm việc, chế độ khai thác cả
về luồng thông tin, kinh phí và các tài nguyên khác.
1.2. Ngân sách Nhà nưóc, quản lý chi Ngân sách Nhà nưóc và kiếm
soát chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
1.2.1.2. Phân cấp Ngân sách Nhà nước
Hệ thống NSNN ở nước ta được tô chức gắn liền với cơ cấu tố chức bộ
máy nhà nước. Theo quy định của pháp luật, mỗi cấp chính quyền có Ngân
sách riêng. Do đó, gắn với bốn cấp chính quyền Ngân sách cũng được tố chức
thành bốn cấp tương ứng, bao gồm: Ngân sách trung ương, Ngân sách tỉnh,
Thành phố trực thuộc trung ương; Ngân sách huyện, quận, thị xã; Ngân sách
xã,(phường, thị trấn).
Ngân sách trung ương quản lý thu, chi theo ngành kinh tế. Nó luôn giữ
vai trò chủ đạo trong hệ thống NSNN. Ngân sách trung ương cấp phát kinh
12
phí cho yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nuớc trung uơng
(sự nghiệp văn-xã; sự nghiệp kinh tế; an ninh-quốc phòng; trật tụ’ an toàn xã
hội; đầu tư xay dựng các công trình kết cấu hạ tầng v.v..). Trên thực tế Ngân
sách trung ương là Ngân sách của cả nước, tập trung đại bộ phận nguồn thu và
đảm bảo các nhu cầu chỉ mang tính quốc gia.
Ngân sách địa phương quản lý thu NSNN trên địa bàn và chi NSNN địa
phương. HĐND Tỉnh, Thành phổ trục thuộc Trung ương (gọi chung là NSNN
cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp
chính quyền địa phương phù họp với phân cấp quản lý kinh tế-xã hội, quốc
phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn. Chính quyến cấp
tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác thế mạnh trên địa
bàn địa phương đế tăng nguồn thu, bảo đảm chi và thực hiện cân đối Ngân
sách cấp mình.
Quan hệ giữa các cấp Ngân sách trong hệ thống NSNN được thực hiện
theo các nguyên tắc sau:
Ngân sách trung ương và Ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương
pháp lệnh, các cơ quan nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách các cấp khi
nhận được số phân bố về Ngân sách có trách nhiệm giao nhiệm vụ cho các
đơn vị dự toán trực thuộc bảo đảm đúng với dự toán Ngân sách được phê
duyệt, không một tổ chức, cá nhân nào được thay đối nhiệm vụ Ngân sách đã
được phân bổ khi chưa có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
Lập dự toán là công việc ban đầu rất quan trọng, đặt cơ sở nền tảng và
có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của toàn bộ các khâu trong
chu trình NSNN. Một dự toán NSNN đúng đắn, có cơ sở khoa học và cơ sở
thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế- xã hội, đối
với việc đảm bảo cân đối về tài chính, ngân sách; đồng thời cũng tạo điều
kiện thuận lợi rất lớn cho các khâu tiếp theo, đặc biệt là khâu chấp hành
NSNN.
b) Chấp hành NSNN
14
Sau khi được giao kế hoạch Ngân sách, các co quan nhà nước ở trung
ương và địa phương có trách nhiệm phân bố dự toán Ngân sách được giao cho
các đơn vị sử dụng Ngân sách đúng với dự toán được giao kể cả về tổng mức
chi và chi tiết, đồng thời thông báo cho cơ quan Tài chính cùng cấp và KBNN
nơi giao dịch để theo dõi, cấp phát và quản lý.
Thu NSNN do ngành thuế, hải quan, Tài chính và cơ quan khác được
Bộ Tài chính uỷ quyền thu.
Căn cứ vào nhiệm vụ thu cả năm được giao và các nguồn thu dự kiến
phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu Ngân sách từng quý, phải
chia theo từng khu vực kinh tế, địa bàn và các đối tượng thu chủ yếu và hình
thức thu gửi cơ quan Tài chính đồng cấp.
Chi NSNN : Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm được giao và dự toán
Ngân sách quý, căn cứ vào yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, KBNN tiến hành
tống kết tình hình thực hiện các khoản thu, chi của năm trước, thông qua đó
chúng ta có thể thấy được hoạt động kinh tế- xã hội của Nhà nước trong năm
ngân sách, thấy được hoạt động NSNN với tư cách là công cụ quản lý vĩ mô
của Nhà nước. Từ đó, rút ra được những kinh nghiệm cần thiết cho việc điều
hành chi N SNN trong những năm sau.
1.2.1.4. Kiêm tra, kiếm soát Ngân sách Nhà nước
Kiểm tra NSNN trong đó có kiểm soát chi NSNN qua KBNN không
phải là một giai đoạn hay một pha của chu trình quản lý NSNN mà nó được
thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình này.
Đối với khâu lập dự toán, kiếm tra NSNN là việc xem xét lại các dự
báo, đánh giá số liệu dự toán của các đơn vị lập đảm bảo phù hợp với thực tế
phát sinh, với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị hoặc của ngành.
Đối với khâu chấp hành NSNN, là việc kiếm tra, giám sát việc thực
hiện thu, chi và sử dụng NSNN, đối chiếu việc chấp hành NSNN với các tiêu
chuấn định mức của cấp có thấm quyền phê duyệt, phải có trong dự toán
16
NSNN, đảm bảo đúng chế độ, với luật NSNN, trường hợp không đúng chính
sách, chế độ , tiêu chuẩn định mức thì yêu cầu cơ quan phân bố NSNN điều
chỉnh lại.
Đối với khâu quyết toán NSNN, kiểm tra là việc xem xét đánh giá sự
đúng đắn, tính chính xác của các loại báo cáo tổng hợp, từ đó đưa ra các kết
luận
Như vậy, kiếm tra kiếm soát NSNN (trong đó có kiếm soát chi NSNN
qua KBNN) là một chức năng của quản lý NSNN, gắn liền với quản lý
NSNN, đồng thời gắn liền với mọi hoạt động của NSNN.
1.2.2. Quán lý chi Ngân sách Nhà nước
Phân loại chi NSNN là việc xắp xếp các khoản chi NSNN theo những
tiêu thức nhất định vào các nhóm, các loại chi.
Việc phân loại chi NSNN có ý nghĩa rất quan trong trong công tác quản
lý chi NSNN. Qua việc phân loại chi NSNN sẽ có biện pháp quản lý hiệu quả,
phù họp với đặc điểm, tính chất của từng khoản chi. Mục đích của việc phân
loại chi NSNN là nhằm: Thực hiện kế toán chi NSNN; thống kê tình hình chi
NSNN, giúp cho việc xây dựng dự toán NSNN, giúp cho cơ quan có thẩm
quyền đề ra những chính sách thích hợp nhất trong việc quản lý và điều hành
chính sách chi tiêu NSNN theo kế hoạch hàng năm, trung hạn và dài hạn; tạo
điều kiện cho các cơ quan quản lý Nhà nước về Ngân sách, các đơn vị sử
dụng Ngân sách, nhân dân... theo dõi, kiểm tra, giám sát, kiếm toán tình hình
quản lý và sử dụng nguồn lực Tài chính công, thực hiện công khai, dân chủ
về Tài chính ở các cấp; xác định trách nhiệm của các đối tượng có liên quan
đến phân bổ và sử dụng nguồn lực Tài chính công.
Thông thường, việc phân loại chi NSNN gắn liền với tiêu thức phân loại và
có một số tiêu thức phân loại chủ yếu sau:
Theo mục đích kinh tế- xã hội của các khoản chi, thì chi NSNN được
chia thành chi cho đầu tư phát triển và chi cho tiêu dùng.
18
Chi cho đầu tư phát triển là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn
tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu NSNN đế đầu tư xây dựng co
sở hạ tầng kinh tế- xã hội, đầu tư phát triển sản xuất nhằm đảm bảo mục tiêu
ốn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các khoản chi này phần lớn sẽ tạo ra
sản phẩm tiêu dùng trong tương lai, làm cho nền kinh tế tăng trưởng. Do vậy,
người ta còn gọi các khoản chi này là chi tích luỹ.
Chi cho tiêu dùng là những khoản chi dùng đế mua sắm hàng hoá, dịch
vụ tiêu dùng ngay trong hiện tại đế đảm bảo hoạt động của các cơ quan Nhà
thông dụng, theo chuẩn mực của Quỹ tiền tệ quốc tế (phân loại GFS) và được
sử dụng nhiều nhất đế phục vụ cho công tác lập, chấp hành, kế toán và quyết
toán quỹ NSNN. Mồi nước có một hệ thống mục lục NSNN riêng, tuy nhiên
trong xu thế toàn cầu hoá thì kết cấu mục lục NSNN cũng có xu hướng đồng
nhất.
1.2.2.3. Đặc điềm quản lý chi Ngân sách Nhà nước
Tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh mà ở mỗi quốc gia có một cơ chế quản
lý chi NSNN riêng. Nhưng có the nhận thấy cơ chế quản lý chi có một số đặc
điểm chủ yếu sau:
Một là, chi NSNN được quản lý bằng pháp luật. Mọi Nhà nước đều
quản lý chi NSNN bằng luật. Đây là đặc điểm quan trọng. Nhìn nhận và đánh
giá đúng đặc điểm này sẽ giúp Nhà nước và các cơ quan chức năng đưa ra các
cơ chế, chính sách quản lý và điều hành chi đúng luật, đảm bảo tính hiệu quả
và công khai.
Hai là, quản lý chi NSNN sử dụng tổng hợp các biện pháp, nhưng
quan trọng nhất là biện pháp hành chính- tổ chức. Biện pháp này tác động vào
đối tượng quản lý theo 2 hướng:
- Thứ nhất, Nhà nước tác động trực tiếp đổi với các chủ thế sử dụng
nguồn lực NSNN bằng việc ra các mệnh lệnh hành chính bắt buộc đảm bảo sự
tuân thủ một cách vô điều kiện.
20
- Thứ hai, cơ quan quyền lực Nhà nuớc ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật quy định biện pháp tố chức, sắp xếp, bố trí các hoạt động chi
NSNN vào những khuôn mẫu đã được định hình.
Biện pháp hành chính- tố chức đảm bảo tính thống nhất, tính chỉ huy,
quyền lực của Nhà nước trong quản lý chi NSNN. Đặc điểm này thế hiện rõ
vừa là nguyên tắc, vừa là yêu cầu của quản lý kinh tế Tài chính. Đồng thời,
còn là mối quan tâm lớn hiện nay của các cấp từ Quốc hội, Chính phủ, đến
các bộ, ngành và các địa phương. Kiếm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN có
ý nghĩa quan trọng trong việc tập trung nguồn lực Tài chính đế phát triến kinh
tế- xã hội; thực hành tiết kiệm, chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng
phí; góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và làm lành mạnh hoá nền
Tài chính Quốc gia. Bên cạnh đó, nó còn góp phần nâng cao trách nhiệm cũng
như phát huy đuợc vai trò của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên
quan đến việc quản lý và sử dụng NSNN.
Hai là, các khoản chi NSNN thường mang tính không hoàn trả trực
tiếp. Tính không hoàn trả trục tiếp thế hiện ở chỗ các đơn vị được NSNN cấp
phát kinh phí sẽ không phải hoàn trả lại trực tiếp cho Nhà nước số kinh phí đó
sau một thời gian sử dụng, mà phải “hoàn trả” cho Nhà nước bằng chính kết
quả công việc đã được Nhà nước giao cho. Tuy nhiên, việc lượng hoá các kết
quả của các khoản chi NSNN thường rất khó khăn và nhiều khi không toàn
diện. Mặt khác, lợi ích của các khoản chi NSNN mang lại thường ít gắn với
lợi ích cụ thế, cục bộ. Vì thế, sự quan tâm của người sử dụng NSNN phần nào
bị hạn chế. Do vậy, cần thiết phải có các cơ quan chức năng có thẩm quyền
thực hiện kiếm tra, kiếm soát các khoản chi của NSNN đế đảm bảo cho việc
Nhà nước sẽ nhận được những kết quả tương xứng với số tiền mà Nhà nước
đã bỏ ra.
Ba là, xuất phát tù’ tính chất, đặc điếm của các khoản chi NSNN là diễn
ra trên phạm vi rộng, liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội. Trong khi
đó, cơ chế quản lý chi NSNN thì chỉ quy định được những vấn đề chung nhất,
22
mang tính nguyên tắc, không thể bao quát hết tất cả các vấn đề nảy sinh trong
quá trình thực hiện chi NSNN. Hơn nữa, cùng với sự phát triển kinh tế- xã
đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả. Từ đó, tăng năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời góp phần xây dựng một nền Tài chính
công khai, minh bạch, đáp ứng được các yêu cầu của hội nhập.
1.2.3.2. Tô chức kiêm soát chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà
nước
a) Quy trình kiêm soát chi Ngân sách Nhà nước
Lập kế hoạch kiếm soát căn cứ vào kế hoạch phát triến kinh tế-xã hôi
của các cấp chính quyền, trong đó có nhu cầu chi tiêu NSNN trong giai đoạn
nhất định(thường là kế hoạch 5 năm), căn cứ vào các văn bản pháp lý của
Chính phủ, của Bộ Tài chính. KBNN lập kế hoạch chi tiêu NSNN phù hợp
với kế hoạch phát triển Kinh tế-xã hội, chuẩn bị nguồn thu và huy động các
nguồn Tài chính đáp ứng cho nhu cầu chi NSNN trong giai đoạn đó.
Giao nhiệm vụ kiếm soát là bước phân công nhiệm vụ kiếm soát chi
NSNN qua KBNN cho tùng bộ phận chức năng của ngành KBNN, mỗi bộ
phận chức năng khác nhau kiểm soát theo đặc thù của nguồn vốn NSNN
Soát xét lại quy trình kiểm soát là việc thông qua số liệu kiếm soát,
tống họp, đánh giá kết quả và thực trạng hoạt động kiếm soát chi NSNN qua
KBNN, tình hình huy động vốn cho NSNN, tổng hợp, khai thác sự biến động
của NSNN tù’ đó đề xuất các biện pháp phù hợp thể tham mưu cho các cấp
Chính quyền nâng cao hiệu quả trong chỉ đạo, quản lý, điều hành NSNN. Các
số liệu dùng đế tổng họp phải đảm bảo đầy đủ, kịp thời, chính xác, trung thực.
b) Phương thức kiêm soát chi Ngân sách Nhà nước
Tương ứng với chu trình quản lý NSNN, có các phương thức kiểm soát
chi NSNN là: phương thức kiếm soát lập dự toán chi NSNN; phương thức
kiểm soát chấp hành chi NSNN; phương thức kiểm soát quyết toán chi
NSNN.
25
b2. Phương thức kiếm soát Chấp hành chi NSNN
Đối vói các đon vị thực hiện chế độ tự chủ theo Nghị định số
130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính Phủ quy định chế độ tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với
các cơ quan nhà nước. Kiểm soát chi các khoản chi thực hiện chế độ tự chủ
bao gồm: Tiền lương; tiền công; phụ cấp lương; tiền thưởng; phúc lợi tập thể;
các khoản đóng góp; các khoản thanh toán cho cá nhân; chi thanh toán dịch
vụ công cộng; vật tư văn phòng; thông tin, tuyên truyền, liên lạc; hội nghị;
công tác phí; chi phí thuê mướn; chi sửa chữa thường xuyên tài sản cố định;
chi phí nghiệp vụ chuyên môn; chi khác.
Kiếm soát các khoản chi không thực hiện chế độ tự chủ bao gồm: Chi sửa
chữa lớn, cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới trụ sở, nhà công vụ, trang thiết bị,
phương tiện làm việc; chi mua sắm tài sản có định; chi đoàn ra, đoàn vào; chi
đào tạo cán bộ, công chức.
Việc kiểm soát đối với các khoản kinh phí thực hiện tự chủ căn cứ vào
các điều kiện: Quyết định của cơ quan có thấm quyền cho phép đơn vị thực
hiện tự’ chủ chi và nguồn kinh phí được giao tự’ chủ; dự toán được duyệt
trong
phạm vi kinh phí được giao tự chủ theo mục lục ngân sách; còn đủ kinh phí
đế thanh toán; đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người uỷ
quyền chuấn chi; có đủ hồ sơ chứng tù’ liên quan tuỳ theo tính chất của tùng
khoản chi.
Ngoài ra, trên cơ sở đề án tự chủ chi đã được cấp có thấm quyền phê
duyệt, đơn vị phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và quy chế trả lương
thông qua Hội nghị cán bộ công chức trong đơn vị quyết định làm cơ sở pháp
lý cho việc kiếm soát chi.
sự nghiệp trung ương), Chủ tịch UBND các cấp duyệt (đối với các đơn vị sự
nghiệp địa phương) chi tiết theo mục lục NSNN và một số nội dung chi chủ
yếu gửi cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan Tài chính và KBNN nơi giao dịch.