Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình - Pdf 24

1 TNG CC THNG Kấ
VIN KHOA HC THNG Kấ
Báo cáo tổNG HợP
Kết quả nghiên cứu khoa học
đề tài cấp cơ sở TI : NGHIấN CU HON THIN H THNG CH TIấU
THNG Kấ PHN NH HOT NG DU LCH
TRấN A BN TNH NINH BèNH
n v thc hin : Cc Thng kờ Ninh Bỡnh
Ch nhim : CN.inh Th Thp
Th ký khoa hc : CN.Nguyn Bỡnh
Th ký hnh chớnh : CN.Nguyn Th Xuõn Hu

NINH BèNH,2012
2

MỤC LỤC
Trang
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
86
TÀI LIỆU THAM KHẢO
88 3

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Trước khi được Viện Khoa học Thống kê duyệt và cho phép thực hiện đề
tài nghiên cứu khoa học này, Cục Thống kê Ninh Bình đã dự kiến thành lập Ban
chủ nhiệm đề tài, phân công các thành viên của tổ nghiên cứu, chủ yếu là lãnh
đạo phòng Thống kê Tổng hợp và phòng Thống kê Thương mại, giá cả. Đồng
thời thực hiện các công việc cần thiết như: Tham khảo ý kiến các cơ quan Đảng,
Chính quyền, các cơ quan và đối tượng sử dụng thông tin về nhu cầu sử dụng
các chỉ tiêu thống kê hoạt động du lịch, về kế hoạch triển khai và các bước
nghiên cứu để xây dựng mục tiêu đăng ký.
Sau khi đề tài được duyệt, Ban chủ nhiệm có kế hoạch nghiên cứu, phân
công cụ thể công việc của từng thành viên trong tổ nghiên cứu, tiến hành thu
thập thông tin như: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, XI, Luật Du lịch, văn kiện
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, Nghị quyết 15/TU của Ban Thường vụ Tỉnh
uỷ về việc phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2015, chế độ báo cáo, điều tra
du lịch của Tổng cục Thống kê và UBND tỉnh Ninh Bình; Sưu tầm kết quả
nghiên cứu của các đề tài khoa học có liên quan đến vấn đề thống kê các hệ
thống chỉ tiêu du lịch.
Đây tuy không phải là vấn đề mới, nhưng để nghiên cứu hoàn thiện hệ
thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
hoàn chỉnh, đáp ứng được nhu cầu sử dụng dùng tin của các cơ quan quản lý
Nhà nước và yêu cầu của Tổng cục Thống kê đòi hỏi có sự nghiên cứu tỷ mỷ và
đưa ra các luận cứ khoa học chính xác. Ban chủ nhiệm đề tài phân công các
5

MỞ ĐẦU
Sự cấp thiết của đề tài
Ninh Bình là tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú, nhiều danh lam thắng
cảnh, quần thể du lịch nổi tiếng hấp dẫn, đồng thời là điểm thu hút nhiều nhà đầu
tư vào các hoạt động du lịch trên địa bàn.Với tài nguyên du lịch đa dạng, phong
phú cùng với sự đầu tư lớn của Nhà nước và doanh nghiệp, ngành du lịch Ninh
Bình ngày càng trở thành ngành kinh tế tổng hợp, mũi nhọn của tỉnh. Các loại
hình du lịch cũng rất đa dạng, dựa trên tiềm năng, thế mạnh sẵn có của địa
phương như: Du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ ngơi, du lịch nghiên
cứu khoa học, du lịch nghỉ ngơi cuối tuần, du lịch thể thao … Số lượng khách du
lịch trong và ngoài nước gia tăng nhanh qua từng năm, cơ sở vật chất,hạ tầng cơ
sở phục vụ du lịch ngày càng được đầu tư lớn, nhiều tour, tuyến du lịch được
hình thành và mở rộng. Xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh,
ngành khai thác tiềm năng sẵn có của tỉnh, mặt khác để thúc đẩy du lịch phát
triển nhanh, bền vững. Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ ngày 13/7/2009 đã có Nghị
quyết số 15/ NQ-TU về phát triển du lịch đến năm 2020 định hướng đến năm
2030.
Cục thống kê Ninh Bình là cơ quan tham mưu, cơ quan quản lý nhà nước
về Thống kê, ngoài tổ chức hoạt động Thống kê theo chương trình công tác của
Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thống kê giao, còn có nhiệm vụ cung cấp thông tin
kinh tế - xã hội phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của lãnh đạo, chính
quyền tỉnh Ninh Bình và cho các cơ quan tổ chức, cá nhân theo pháp luật. Do
vậy công tác thu thập, cung cấp số liệu phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu đánh giá
tình hình kinh tế - xã hội của địa phương nói chung và hoạt động du lịch nói
riêng.
6

hạ tầng du lịch, môi trường du lịch …vẫn chưa được thu thập và công bố.
Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du
lịch, đề xuất phương hướng ứng dụng trong đánh giá ngành du lịch để đáp ứng
nhu cầu lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của tỉnh trở thành vấn đề có ý nghĩa cấp
thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh
Bình đến 2015 và tầm nhìn 2030. Vì vậy Cục Thống kê Ninh Bình chọn đề tài
nghiên cứu: “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt
động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”.
Mục tiêu của đề tài: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt
động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đáp ứng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp
tỉnh do Tổng Cục Thống kê ban hành, đồng thời phục vụ công tác quản lý hoạt
động Du lịch các cấp, các ngành tỉnh Ninh Bình.
Nội dung nghiên cứu:
Để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu đề tài,nội dung nghiên cứu bao gồm:
1. Tổng quan hoạt động du lịch tỉnh Ninh Bình hiện nay
2. Cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống
kê phản ánh hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
3. Đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê về hoạt động du lịch.
4. Thử nghiệm thu thập và tính toán một số chỉ tiêu thống kê Du lịch
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất kinh doanh các tổ chức, cá
nhân trong ngành du lịch.
- Giai đoạn nghiên cứu: 6 tháng đầu năm 2011.
8

- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Ninh Bình, tập trung ở những địa
phương có tiềm năng du lịch như: Thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp,
huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn, huyện Nho Quan, huyện Kim Sơn.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm cơ sở

gì? Khách du lịch là ai? Ngành kinh tế du lịch là gì?
- Du lịch là gì? Có nhiều khái niệm khác nhau về du lịch được nghiên cứu
trên các giác độ nhìn nhận khác nhau của người nghiên cứu, nhưng tựu chung lại
nó có một số khái niệm sau:
Du lịch là 1 dạng nghỉ dưỡng tham quan tích cực của con người ở ngoài
nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch
sử, công trình văn hoá, nghệ thuật …( Theo Bách khoa toàn thư Việt nam online
www.bachkhoatoanthu.gov.vn)
Hoặc: Du lịch là 1 ngành kinh tế tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt:
nâng cao hiểu biết về thiên nhiên truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó
góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị
với dân tộc mình. Về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu
quả rất lớn; có thể con người là hình thức xuất khẩu hàng hoá và lao động dịch
vụ tại chỗ. Hầu như nước nào cũng coi trọng phát triển hoạt động du lịch. Nói
chung trên thế giới du lịch ra nước ngoài có xu hướng phát triển nhanh, Việt
Nam có tiềm năng lớn về du lịch.
10

Theo Luật Du lịch (Số 44/2005/QH) qui định
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm kiếm,
giải trí, nghỉ dưỡng một khoảng thời gian nhất định.
Tóm lại từ rất nhiều khái niệm khác nhau thì: Du lịch phát sinh từ sự di
chuyển của con người và họ đến ở tại các địa điểm khác. Du lịch có 2 thành
phần chính là chuyến đi đến các địa điểm du lịch và các hoạt động của du khách
tại địa điểm du lịch, các chuyến đi và hoạt động du lịch thực hiện ở bên ngoài
nơi họ ở hay làm việc, chuyến đi là tạm thời và ngắn hạn.
- Hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh
doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến

cảnh quan đất nước (tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh kinh tế, văn hoá, lịch
sử…) nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, XNK
tại chỗ hàng hoá và dịch vụ cho khách du lịch. Là 1 ngành dịch vụ thu ngoại tệ
góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập quốc dân. Trong tình hình quốc tế
hoá đời sống kinh tế thế giới, du lịch quốc tế ngày càng phát triển. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về du lịch của con người ngày càng lớn, mang
nhiều ý nghĩa văn hoá và xã hội sâu sắc, kinh tế du lịch là một ngành kinh tế
tổng hợp có liên quan mật thiết với nhiều ngành kinh tế khác, trước hết là ngành
kinh tế đối ngoại và với nhiều ngành văn hoá, xã hội và mang tính nhân bản, văn
hoá, tính dân tộc ngày càng cao. Kinh tế du lịch có nhiều nội dung và nhiều hình
thức phong phú, đa dạng như du lịch thắng cảnh, du lịch nghỉ dưỡng sức, du lịch
12

thể thao, du lịch hội nghị, du lịch nghiên cứu khoa học, du lịch tìm hiểu nền văn
hoá dân tộc và nền văn hoá thế giới. Cũng như các ngành kinh tế khác, kinh tế
du lịch chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế, do đặc thù của ngành nên nó có
những cơ chế vận động riêng. …( Theo Bách khoa toàn thư Việt nam online
www.bachkhoatoanthu.gov.vn)
Dưới giác độ nghiên cứu của ngành Thống kê Việt Nam:
Theo phân ngành kinh tế quốc dân Việt Nam năm 2007 (VSIC 2007) thì
hoạt động du lịch không được phân ngành riêng thành 1 ngành kinh tế độc lập,
hoạt động du lịch được phân vào khu vực các ngành dịch vụ,xếp phân tán trong
các ngành cấp 1 khác nhau thuộc khu vực dịch vụ như:
- Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác;
- Vận tải kho bãi (Vận chuyển hành khách đường sắt, vận chuyển hành
khách đường bộ; vận chuyển hành khách ven biển và viễn dương; đường thuỷ
nội địa; vận chuyển hành khách hàng không, hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho vận
tải như nhà ga, bến cảng … ).
- Lưu trú và ăn uống.
- Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ: Hoạt động của các đại lý du

+ Môi trường tài nguyên:
- Du lịch sinh thái.
- Du lịch văn hoá.
+ Mục đích chuyến đi:
14

- Du lịch thuần tuý.
- Du lịch với mục đích kết hợp.
+ Đặc điểm địa lý của du lịch:
- Du lịch biển.
- Du lịch núi.
- Du lịch đô thị.
- Du lịch thôn quê.
+ Phương tiện giao thông:
- Du lịch bằng xe đạp.
- Du lịch bằng xe ô tô.
- Du lịch bằng tàu hoả.
- Du lịch bằng tàu thuỷ.
- Du lịch bằng máy bay.
- Du lịch bằng mô tô.
+ Đối tượng khách:
- Du lịch thanh thiếu niên.
- Du lịch dành cho người cao tuổi
- Du lịch trung niên.
- Du lịch phụ nữ.
- Du lịch doanh nhân.
15

- Du lịch học sinh, sinh viên.
- Du lịch tuần trăng mật.

2010 là 900.620 người, mật độ là 648 người/ km
2
. Bộ máy hành chính của Ninh
Bình có 8 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị xã, 6 huyện với 146 xã,
phường, thị trấn. Tuy nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng, nhưng địa hình của
Ninh Bình rất đa dạng, có thể nói là hình ảnh của “Việt Nam thu nhỏ” vừa có
núi cao, đồi núi thấp (bán sơn địa), đồng bằng, vùng trũng, và đồng bằng ven
biển.Do vậy Ninh Bình là tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú, tài nguyên du
lịch Ninh Bình phong phú cả về tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch
nhân văn.
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo,
khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên được sử dụng mục đích du
lịch. Lợi thế của tài nguyên du lịch tự nhiên của Ninh Bình là phần lớn các điểm,
khu du lịch đều thuận lợi về giao thông, nhiều điểm, khu du lịch ngay tại Thành
phố Ninh Bình và gần kề thành phố, tạo thành quần thể du lịch đa dạng, từ đó
từng bước hình thành nên đô thị du lịch; nhiều điểm, khu du lịch du khách có thể
thăm quan du lịch cả bằng đường bộ lẫn đường thuỷ, phần lớn các điểm, khu du
lịch ở Ninh Bình đều có thể kết nối với các điểm, khu du lịch của các tỉnh Hà
17

Nam, Nam Định, Thanh Hoá để tạo thành không gian du lịch rộng lớn, với nhiều
tuyến, tour du lịch độc đáo, hấp dẫn.
Tiềm năng du lịch của Ninh Bình còn tiềm ẩn ở tài nguyên du lịch nhân
văn và tâm linh, vùng đất vốn là Cố đô xưa với 3 triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý,
chứa đựng nhiều giá trị văn hoá, lịch sử và xã hội nhân văn giao thoa giữa vùng
châu thổ sông Hồng với dải đất miền Trung. Là mảnh đất nổi tiếng có cả “Vua,
Thánh, Mẫu, Phật, Chúa”, Vua là 3 triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý; Thánh là
Thánh Nguyễn Minh Không hay còn gọi là Thánh Nguyễn ông Tổ của ngành
dược và đúc đồng Việt Nam; Phật là chùa Bái Đính là trung tâm Phật giáo lớn
nhất Việt Nam; Chúa là Giáo Phận Phát Diệm trung tâm Công giáo lớn nhất

vị thần tự nhiên Thần Núi (Phủ Đồi), Thần Biển (đền Thần Phù), các vị nhân
thần chính là các vị anh hùng dân tộc như vua Đinh, vua Lê, Đền thờ Nguyễn
Bặc, Lưu Cơ, Thánh Nguyễn, thờ Mẫu Bà chúa Liễu Hạnh (đền Dâu), Nguyễn
Công Trứ (Kim Sơn) …
Chính từ những tiềm năng và lợi thế của Ninh Bình nói trên, nên tỉnh Ninh
Bình đã xác định ngành du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Theo Văn
kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XX để xác định rõ phương hướng
chung đó là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu
lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền các cấp; phát huy sức mạnh
đoàn kết toàn dân; duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đưa kinh
tế du lịch vào thời kỳ tăng tốc; tập trung trí tuệ, nguồn lực từng bước xây dựng
nông thôn mới nhằm giải quyết đồng bộ các vấn đề: nông nghiệp nông dân và
nông thôn; phát triển mạnh mẽ văn hoá, giáo dục, không ngừng chăm lo đào tạo
nguồn nhân lực; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; giữ vững an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường quốc phòng địa phương, củng cố vững chắc
19

hệ thống chính trị; xây dựng Ninh Bình trở thành tỉnh phát triển khá trong khu
vực đồng bằng sông Hồng.
1.2.2. Những kết quả đạt được
Ninh Bình từ lâu với tài nguyên du lịch phong phú của mình đã là điểm du
lịch của nhiều du khách, nhưng những thập niên trước đến khi tách tỉnh năm
1992 du lịch và các hoạt động du lịch phần lớn chỉ được xem là những hoạt
động công cộng phục vụ đời sống văn hoá, tinh thần, vui chơi, giải trí và chăm
sóc sức khoẻ của nhân dân, đây có thể gọi là giai đoạn sơ khai của du lịch Ninh
Bình.
Giai đoạn 2006-2010: Là giai đoạn du lịch tăng trưởng khá mạnh, với
việc ra đời NQ 15/NQ-TU của Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 triển khai bước đầu có hiệu quả. Kết
cấu hạ tầng du lịch được tăng cường, tạo ra bước phát triển mới có tính đột phá,

2.896
3.964
4.476
4.795
4.895
111,8
- Lưu trú
80
80
230
246
274
179
117,5
- Lữ hành
1
2
2
6
7
9
155,2
- Ăn uống
2.717
2.814
3.732
4.224
4.514
4.707
111,6

8.750
115,0 ( Nguồn số liệu - Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010 )
Ghi chú : (*) - Chưa bao gồm số lao động chèo đò phục vụ khách du lịch
- Cơ sở và lao động hoạt động ăn uống đang bị tính trùng
Đến năm 2010 có 4.895 cơ sở kinh doanh và phục vụ du lịch, trong đó 179
cơ sở lưu trú, 9 cơ sở lữ hành, 4.707 cơ sở ăn uống. So với năm 2005 số cơ sở
tăng gần 75%, trong đó lưu trú gấp 2,2 lần, lữ hành gấp 9 lần, ăn uống tăng
73,2%; Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 về số cơ sở là 11,8%.
21

Do số cơ sở tăng nhanh nên số lao động thu hút vào phục vụ ngành du lịch
cũng tăng lên, cụ thể năm 2005 mới chỉ thu hút được 4.707 lao động ( lưu trú
357, lữ hành 7, ăn uống 4.349) thì đến năm 2010 đã thu hút được 9.794 lao động
gấp hơn 2 lần (lưu trú gấp 2,8 lần; lữ hành gấp 7,6 lần, ăn uống gấp hơn 2 lần),
bình quân giai đoạn này lao động tăng hàng năm là 15,8% (trong đó lưu trú tăng
23,1%, lữ hành tăng gần 50%, ăn uống tăng 15%).
Số lao động nêu trên vẫn chưa tính số lao động chèo đò phục vụ khách
tham quan ở 2 điểm du lịch lớn là Tam Cốc- Bích Động và Tràng An (khoảng
2.739 lao động). Số lao động phục vụ ở ngành du lịch năm 2010 chiếm 1,9%
tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế, còn năm 2005 chỉ chiếm
khoảng 1,03%.

Việt Nam
Quốc tế
Năm 2005
1.010.700
648.442
362.258
88.200
Năm 2006
1.261.900
843.459
418.441
157.090
Năm 2007
1.517.400
1.014.254
523.146
187.917
Năm 2008
1.898.800
1.331.802
566.998
246.197
Năm 2009
2.387.700
1.774.171
613.529
324.465
Năm 2010
3.316.055
2.616.644

2006
2007
2008
2009
2010
Tốc độ
phát triển
giai đoạn
2006-2010
Tỏng số
276.829
303.853
387.931
629.410
1.095.327
1.451.963
139,30
Chia ra:

+ Khách sạn
13.494
15.840
24.219
46.461

tỷ đồng) thì đến năm 2010 đã chiếm 13,7%. Năng suất lao động xã hội chỉ tính
riêng ngành khách sạn, nhà hàng đạt 43,7 triệu đồng, gấp 3,6 lần năm 2005.
Thứ tư: Thu hút lượng vốn đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng các khu, điểm du
lịch.
Biểu 04: Tổng vốn đầu tư thực hiện cho hoạt động du lịch Ninh Bình
giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính : Triệu đồng

2005
2008
2009
2010
Tốc độ
phát triển
giai đoạn
2006-2010
Tỏng số
227.416
379.111
589.264
925.777
132,4
Chia ra: 1- TP Ninh Bình
4.836

471
-
11.242
179,7
7- Huyện Kim Sơn
-
-
-
-

8- Huyện Yên Mô
-
710
307
37

( Nguồn số liệu - Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010 )

25

Cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch ngày càng được nâng cao. Chỉ tính
riêng tổng vốn đầu tư đã thực hiện trong 3 năm 2008-2010 là những năm NQ 15
về phát triển du lịch được triển khai, đã đạt được là 1.895 tỷ đồng, năm 2010 đạt
gần 926 tỷ đồng so với năm 2005 gấp 4 lần; tốc độ tăng bình quân hàng năm là

1.057
86
2037
3.613
- 5 sao
-
-
-
-
-
-
- 4 sao
-
-
-
1
96
175
- 3 sao
-
-
-
2
130
184
- 2 sao
7
266
448
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status