Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ số đổi mới và đánh giá thử năng lực đổi mới của doanh nghiệp ở hai ngành lựa chọn (chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm) - Pdf 14


1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Báo cáo Đề tài cấp Bộ
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ SỐ ĐỔI
MỚI VÀ ĐÁNH GIÁ THỬ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA
DOANH NGHIỆP Ở HAI NGÀNH LỰA CHỌN (CHẾ TẠO
CƠ KHÍ VÀ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM)

Chủ nhiệm Đề tài TS. Bạch Tân Sinh
Cùng các thành viên:
• ThS. Trần Chí Đức
• ThS. Nguyễn Minh Hạnh (Thư ký đề tài)
• ThS. Nguyễn Lan Anh
• ThS. Nguyễn Minh Nga
• ThS. Chu Thu Hà
• ThS. Vũ Cảnh Toàn


3.1. Giới thiệu về điều tra đổi mới 34
3.1.1. Mục đích điều tra 34
3.1.2. Đối tượng điều tra 35
3.1.3. Quy mô và phạm vi điều tra 35
3.1.4. Nội dung điều tra 36
3.1.5. Phiếu điều tra 39
3.1.6. Những khó khăn trong quá trình tổ chức điều tra và hạn chế của kết quả điều tra 39
3.2. Tổng quan về ngành chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm 42
3.2.1. Cơ cấu Doanh nghiệp ở Việt Nam 42
3.2.2. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam 43
3.2.3. Hiện trạng công nghiệp Việt nam 45
3.2.4. Ngành chế tạo cơ khí 48
3.2.5. Ngành chế biến thực phẩm 50
3.3. Đáng giá thử năng lực đổi mới của một số doanh nghiệp lựa chọn trong ngành chế tạo cơ
khí và chế biến thực phẩm
51
3.3.1. Nhu cầu đổi mới 52
3.3.2. Năng lực đổi mới 52
3.3.3. Năng lực tiến hành R&D 59
3.3.4. Yếu tố tác động đến năng lực R&D và đổi mới 62
Chương 4: Hoàn thiện hệ thống chỉ số đổi mới của doanh nghiệp ở Việt Nam 65
4.1. Danh mục một số chỉ số đổi mới của doanh nghiệp có khả năng áp dụng 65

3
4.2. Danh mục các khái niệm liên quan trong bộ phiếu điều tra đổi mới 68
4.3. Phương pháp và quy trình thống kê thu thập số liệu về đổi mới của doanh nghiệp 68
4.4. Tổ chức và thực hiện điều tra năng lực đổi mới của doanh nghiệp 70
Tài liệu tham khảo và trích dẫn 71
Phụ lục 74
Phụ lục 1 - PHIẾU ĐIỀU TRA ĐỔI MỚI 2008-2009 74

Đổi mới và vai trò của đổi mới đối với năng lực cạnh tranh ngày càng trở thành mối quan tâm của
các nhà hoạch định chính sách. Nhu cầu đánh giá hoạt động và năng lực đổi mới cũng nh hoạch
định chính sách đổi mới đòi hỏi tiến hành xây dựng chỉ số về đổi mới. Những chỉ số về đổi mới
hiện nay đợc xây dựng theo Hớng dẫn Oslo 1992 và phiên bản mới nhất năm 2005 (Phụ lục
Hớng dẫn Oslo). Tuy nhiên những chỉ số đổi mới này đợc xây dựng cho các nớc phát triển nên
ít phù hợp khi áp dụng cho các nớc đang phát triển.
ở Việt Nam, xã hội ngày càng đòi hỏi phải đánh giá hiệu quả đầu t cho hoạt động KH&CN.
Hiệu quả của đầu t cho hoạt động KH&CN không chỉ đợc thể hiện ở các kết quả đầu ra nh các
bài báo khoa học đợc công bố, pa-tăng đã đăng ký và đợc cấp mà còn phải đợc thể hiện ở
năng lực đổi mới từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh ở doanh nghiệp, ngành và quốc gia. Việc
triển khai đánh giá năng lực đổi mới và hoạch định chính sách đổi mới đòi hỏi xây dựng cơ sở lý
luận và thực tiễn về năng lực đổi mới và về việc hình thành hệ thống chỉ số về KH&CN và đổi
mới phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam.
1.2. Nhng vn mi v lý lun v thc tin ti t ra nghiờn cu
Lý lun:
ti Nghiờn cu hon thin h thng ch s i mi v ỏnh giỏ th nng lc i mi ca
doanh nghip hai ngnh la chn (ch to c khớ v ch bin thc phm) thc hin trong nm
2009-2010 s tip tc lm rừ nhng vn mi v lý thuyt bao gm: (i) lý thuyt v i mi
(bao gm i m
i cụng ngh, t chc, th ch, qun lý); (ii) cỏch tip cn trong vic tin hnh

6
iu tra i mi núi chung v ỏp dng trong iu kin c th ca cỏc nc phỏt trin núi riờng
trong ú cú Vit Nam; (iii) lun c khoa hc cho vic hỡnh thnh mt b (h thng) ch s i
mi phc v cho vic hoch nh chớnh sỏch KH, CN v i mi. Cho n nay Vit Nam cú rt
ớt nhng nghiờn cu v nhng vn nờu trờn.
Thc tin:
Trờn c s ca kt qu nghiờn cu ca ti nm 2007, ti ny s tip tc hon thin b ch
s i mi trong doanh nghip ỏp dng cho hai ngnh la chn: ch to c khớ v ch bin thc
phm. Ngnh ch to c khớ úng vai trũ ch cht trong nng lc ch to c khớ cho cỏc ngnh

nghiệp, chứ không nhằm vào việc đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp. Nói tóm lai mục
tiêu của đề tài là hoàn thiện bộ chỉ số đổi mới cũng nhu quy trình tiến hành điều tra thu thập các
chỉ số đổi mới của doanh nghiệp.
1.4. Ni dung nghiờn cu ca ti
1.Nghiờn cu kinh nghim xõy dng h thng ch s i mi v tin hnh iu tra i mi Thỏi
lan, t ú xut bi hc mang tớnh gi suy cho Vit Nam.
2. La chn, thớch nghi v ỏp dng h thng ch s i mi ca doanh nghip trong hai lnh vc
ch to c khớ v ch bin thc phm, phục vụ cho vic ỏnh giỏ thử nng lc i mi ca doanh
nghip.
3. ỏnh giỏ thử nng lc i mi ca mt s doanh nghip la chn trong hai lnh vc ch to c
khớ v ch bin thc phm.
4. Hon thin H thng ch s i mi ca doanh nghip Vit Nam
4.1. Danh mc mt s ch s i mi ca doanh nghip cú kh nng ỏp dng
4.2. Danh mc cỏc khỏi nim liờn quan trong b phiu iu tra i mi
4.3. Phng phỏp v quy trỡnh thng kờ thu thp s liu v i mi ca doanh nghip

8
4.4. Tæ chøc vµ thùc hiÖn ®iÒu tra n¨ng lùc ®æi míi cña doanh nghiÖp.

1.5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài sử dụng cách tiếp cận theo hệ thống đổi mới, xem xét KH&CN là một trong các yếu tố
quan trọng (nhưng không phải là tất cả) góp phần tăng năng lực đổi mới ở các cấp khác nhau
(quốc gia, ngành, địa phương và doanh nghiệp). Theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới, Chính sách
KH, CN và Đổi mới sẽ không chỉ đề cập đến vai trò của các tổ chức NC&TK ở Viện và trường
đại học mà tập trung vào vai trò chủ chốt của doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực đổi mới
và qua đó tăng cường năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, ngành và quốc gia. Đổi mới xem xét
trong bối cảnh của nước phát triển đi sau như Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết tạo ra nhiều đổi
mới nhỏ, nhưng thường xuyên hơn là những đổi mới mang tính đột phá.
Đối với mục tiêu hoàn thiện bộ chỉ số đổi mới và quy trình các buớc tiến hành điều tra đổi mới ở
doanh nghiệp, Đề tải sử dụng cách tiếp cận kế thừa - bắt đầu bằng việc thiết kế bộ chỉ số đổi mới

như của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN về hướng chuyên môn – đánh giá định lượng
năng lực đổi mới thông qua hệ chỉ số đổi mới phù hợp và khả thi trong điều kiện ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể chuyển giao cho đơn vị quản lý trong Bộ KH&CN là Cục
Ứng dụng và Phát triển Công Nghệ một bộ chỉ số đổi mới, giúp Cục tiến hành đánh giá năng lực
đổi mới của doanh nghiệp trong 2 ngành lựa chọn nói riêng và các ngành kinh tế nói chung.
1.7. Kết cấu trình bày của đề tài
Báo cáo của Đề tài bao gồm 4 phần.
Chương 1 - Mở đầu cung cấp những thông tin cơ bản liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề
tài như: tính cấp thiết của đề tài, những vấn đề lý luận và thưc tiễn đề tài đặt ra nghiên cứu, mục
tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, kết quả và ý
nghĩa thực tiễn của đề tài.
Chương 2 – Cung cấ
p tổng quan về hiện trạng nghiên cứu trong nước về chỉ sổ đổi mới và đánh
giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp và kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng bộ chỉ số
điều tra đổi mới và tiến hành điều tra đổi mới ở doanh nghiệp, trong đó đi sâu phân tích kinh

10
nghiệm của các nước đang phát triển đặc biệt kinh nghiệm của Thái lan, từ đó đề xuất bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng bộ chỉ số đổi mới và tiến hành điều tra đổi
mới của doanh nghiệp phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Phần này cũng cung cấp một số khái
niệm cơ bản về đổi mới, nă
ng lực đổi mới của doanh nghiệp, đồng thời chỉ ra được những nét đặc
thù về đổi mới của doanh nghiệp ở những nước đang phát triển, những yếu tố cấu thành của một
hệ thống chỉ số đổi mới của doanh nghiệp.
Chương 3 – Trình bày quá trình và kết quả điều tra đổi mới của doanh nghiệp trong 2 ngành chế
tạo cơ khí và chế bi
ến thực phẩm bao gồm phần giới thiệu về điều tra (mục đích, đối tượng, quy
mô, phạm vị, nội dung và phiếu điều tra), đồng thời nêu lên những khó khăn trong quá trình tổ
chức điều tra và những hạn chế của kết quả điều tra. Chương 3 này cũng đưa ra một bức tranh
chung về ngành chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm trước khi đi vào phân tích các kết quả thu

KH&CN cho Việt Nam có so sánh với các nước trong cùng
khu vực, nhằm đánh giá năng lực NC&TK quốc gia. Nghiên cứu này đã chuẩn bị cơ sở lý luận
khá cụ thể theo phương pháp luận của OECD (theo tài liệu hướng dẫn Frascati), nhằm lý giải
cơ sở khoa học của các chỉ số KH&CN áp dụng cho điều tra. Kết quả là đã áp dụng hệ thống
chỉ số KH&CN gồm 14 nhóm chỉ số cho khu vực NC&TK Chính phủ và Giáo dục đào tạo, 4
nhóm chỉ số cho khu vực NC&TK công nghiệp, (64 chỉ số KH&CN riêng rẽ) và đã áp dụng
điều tra thử hoàn thành vào cuối năm 2003. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số hạn chế trong
công tác thống kê KH&CN của Việt Nam gồm: Một số chỉ tiêu khi áp dụng vào Việt Nam còn

12
khá mới mẻ, do đó chưa hiểu hết được ý nghĩa của chúng; thiếu sự tương hợp giữa hoạt động
thống kê KH&CN của Việt Nam và các nước. Ngoài ra nghiên cứu này cũng chỉ ra các hạn chế
khác khi áp dụng hệ thống chỉ số KH&CN vào Việt Nam như: Mặc dù cũng đã có nghiên cứu
song cơ sở lý luận của các chỉ số KH&CN vẫn chưa đủ, nhất là để thích
ứng với điều kiện
của Việt Nam; Điều tra thống kê KH&CN do chưa mang tính pháp lý nên tỷ lệ thu hồi chưa
cao, ảnh hưởng đến kết quả xử lý tổng hợp; Kinh phí dành cho điều tra vẫn hạn hẹp, ảnh hưởng
đến tiến độ và kết quả xử lý; Kỹ năng thống kê KH&CN chưa được chuyên nghiệp hoá (Đặng
Duy Thịnh, 2004). Mặc dù vậy, báo cáo kết quả của d
ự án này cũng khá bổ ích, có ý nghĩa
trong phân tích chính sách cũng như rút ra các bài học cho các nghiên cứu sâu hơn sau này.
Năm 2004 Bộ KH&CN tiến hành hai đề án đánh giá năng lực công nghệ ở doanh nghiệp tại hai
tỉnh Đồng Nai và Quảng Ninh. Kết quả đánh giá năng lực công nghệ này sẽ được Đề tài tham
khảo và sử dụng như là một bộ phận hợp thành của việc đánh giá năng lực đổi mới của doanh
nghiệp (Đại học Bách Khoa Hà Nôi, 2005).
Gần đây có hai nghiên cứu đề cập trực tiếp đến chỉ số đổi mới nói chung (Bạch Tân Sinh và
các cộng sự, 2008)và chỉ số đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp (Phạm Thế Dũng và các
cộng sư, 2009). Nghiên cứu của nhóm tác giả do Bạch Tân Sinh chủ trì đã tiến hành xây dựng
dự thảo bộ phiếu điều tra năng lực đổi mới của doanh nghiệp áp dụng thử cho một doanh
nghiệp trong ngành công nghệ thông tin ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu của Phạm Thế

Điều tra đổi mới và Hướng dẫn Oslo
Vào cuối những năm 1980, sau nhiều năm nhận được tư vấn của các nhóm chuyên gia quốc tế,
OECD là tổ chức đầu tiên chấp thuận một bộ tài liệu nhằm hoà hợp các phương pháp thu thập
các thông tin được chuẩn hoá về các hoạt động đổi mới của doanh nghiệp. Lần xuất bản đầu
tiên cuốn Cẩ
m nang OSLO - bộ tài liệu nổi tiếng được hoàn tất vào năm 1992 mang tên gọi
Khuyến nghị các nguyên tắc chỉ đạo trong thu thập và diễn giải số liệu về đổi mới công nghệ.
Bộ câu hỏi được đề xuất trong Cẩm nang đã được sử dụng làm cơ sở cho vòng điều tra lần thứ
nhất - Điều tra đổi mới của Cộng đồng (Community Innovation Survey- viết tắt là CIS), được
15 quốc gia thành viên liên minh Châu âu thực hiện trong thời gian 1993-1994. Sau đó các
cuộc điều tra tương tự đã được lặp lại 4 năm một lần với số lượng các quốc gia tham dự ngày
càng tăng và hiện đang thực hiện điều tra lần thứ tư. Cẩm nang OSLO được sửa đổi năm 1997
dựa trên kinh nghiệm thu thập được trong vòng điều tra lần thứ nhất và lần xuất b
ản thứ ba dựa
trên các vòng điều tra tương ứng được soạn thảo gần đây.

14
Một vài quốc gia đang phát triển bắt đầu thực hiện các cuộc điều tra về đổi mới bằng việc sử
dụng các hướng dẫn trong Cẩm nang OSLO mà trước đó đã được các nước OECD sử dụng là
chính. Các nước OECD tiến hành điều tra đổi mới theo Hướng dẫn Oslo được xây dựng năm
1992
1
và sau đó cập nhật năm 2005 nhằm điều tra năng lực đổi mới ở doanh nghiệp và mở
rộng khung đánh giá đổi mới ở ba phương thức: tập trung vào vai trò của mối liên kết với các
công ty và tổ chức trong quá trình đổi mới, nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của đổi mới trong
những ngành công nghiệp ít dựa vào NC&TK như ngành dịch vụ và chế tạo máy dựa trên công
nghệ không c
ần hiện đại, và mở rộng khái niệm đổi mới bao gồm cả đổi mới tổ chức và đổi
mới tiếp thị.
Cẩm nang OSLO là bộ tài liệu được phổ biến rộng rãi, thậm chí ngay trong cả các quốc gia

ạch định chính
sách đổi mới sau đó.
Trong bối cảnh đó các nước Châu Mỹ la tinh thông qua mạng lưới Mạng lưới Chỉ số KH&CN
Châu Mỹ La tinh (Iberoamerican Network of Science and Technology Indicators (RICYT) đã
soạn thảo một cuốn cẩm nang dành riêng cho khu vực Châu Mỹ Latinh, sau đó trở nên quen
thuộc với tên gọi Cẩm nang Bogota (RICYT, 2001) sau lần xuất bản đầu tiên vào năm 2001.
Ngoại trừ Brazil, Cẩm nang Bogota và bộ câu hỏi điều tra rộng của nó đã tr
ở thành cơ sở/nền
tảng của hầu hết các cuộc điều tra về đổi mới thực hiện ở Châu Mỹ Latinh. Trong giai đoạn
2001-2005 một số nước Châu Mỹ la tinh đã tiến hành ba vòng điều tra đổi mới.
Trong khi đó các nước ở Châu phi cũng xây dựng cho mình một bộ chỉ số điều tra đổi mới cho
mình với sự trợ giúp về mặt kỹ thuật của Viện Công nghệ mới thuộc Trường đại học Liên hợp
quốc (UNU-INTECH). Hơn 20 quốc gia Châu Phi đã tham gia thực hiện cuộc điều tra này. Tài
liệu này do nhóm chuyên gia đề xuất nhằm cung cấp một khung khái niệm và các hướng dẫn
cho việc hình thành các chỉ số thống kê về khoa học, công nghệ và các hoạt động đổi mới cũng
như các chính sách vĩ mô của mỗi quốc gia có liên quan được đặt trong bối cảnh đổi mới hệ
thống.
Điều tra đổi mới theo hướng dẫn Bogota ở Châu Mỹ la tinh và sáng kiến điều tra đổi mới ở
Châu Phi đều thống nhất khuyến nghị các nước đang phát triển cần có cách tiếp cận rộng hơn
về đổi mới trong bối cảnh của các nước đang phát triển để xem xét quá trình doanh nghiệp
thực hiện và làm chủ năng lực thiế
t kế và sản xuất các sản phẩm và dịch vụ mới, những thay
đổi nhỏ trong thiết kế sản phẩm và chất lượng, thay đổi phương thức sản xuất, cách thức quản
lý tri thức, áp dụng đổi mới quá trình thông qua mua máy và trang thiết bị hoặc mua li-xăng
công nghệ.
Các nước ASEAN hiện đang nỗ lực xây dựng một hệ thống chỉ số Khoa học, Công nghệ và
Đổi mới. Mụ
c tiêu của Chương trình hành động Hà Nội là thành lập cơ chế tìm kiếm công
nghệ và thể chế hoá việc thành lập một hệ thống các chỉ số KH&CN. Trong hợp tác với Hàn


Đối tượng tham gia là tất cả các doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí chế tạo và dịch vụ có thu
nhập bình quân năm lớn hơn 12 triệu bath (theo con số được báo cáo tới Phòng đăng ký kinh
doanh thuộc Bộ thương mại Thái Lan). Đây là một cuộc điều tra với quy mô của quốc gia tuy
nhiên tỷ lệ trả lời phiếu điều tra từ các doanh nghiệp chỉ là 42%. Một số doanh nghiệp tỏ ra miễn
cưỡng trong việc trả lời phiếu điều tra (thậm chí một vài doanh nghiệp còn từ chối tham gia cuộc
điều tra này), do vậy NSTDA đã tìm kiếm các cách tiếp cận linh hoạt hơn hay cung cấp các
khuyến khích nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tham gia một cách tích cực vào cuộc điều tra.
Bộ phiếu điều tra về NC, TK và đổi mới trong lĩnh vực cơ khí chế tạo ở Thái Lan (2008-
2009)
Phần A: thông tin chung về doanh nghiệp gồm 7 câu hỏi về các nội dung sau
- Năm thành lập doanh nghiệp;
- Hình thức sở hữu của công ty;
- Doanh số bán hàng của công ty trong năm 2008-2009;
- Doanh số bán hàng của công ty trong năm 2008-2009 chia theo các thị trường nội địa và
xuất khẩu;
- Tỷ lệ % doanh số bán hàng của công ty chia theo các loại mặt hàng (các sản phẩm được
doanh nghiệp chế tạo theo thiết kế của công ty mẹ, các sản phẩm được doanh nghiệp chế tạo
theo thiết kế của người mua,…);
- Số l
ượng lao động của doanh nghiệp tính đến tháng 12 năm 2008;
- Tỷ lệ lao động của doanh nghiệp chia theo giới tính;
- Các hoạt động công nghệ mà doanh nghiệp đã thực hiện trong 2 năm qua ở Thái Lan như
nhập khẩu công nghệ, thích nghi công nghệ nhập, thiết kế, kiểm nghiệm, …

18
Phần B: Hoạt động NC&TK
Ở phần này gồm 13 câu hỏi xung quanh nội dung doanh nghiệp đã thực hiện các hoạt động
NC&TK nào ở Thái Lan trong giai đoạn 2008-2009. Nếu có:
- Mô tả hoạt động NC&TK ở doanh nghiệp cụ thể là gì? Các sản phẩm và các quy trình nào
được phát triển;

mới;
- Đánh giá tần suất tham gia hợp tác giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại
học liên quan đến hoạt động NC&TK và đổi mới của doanh nghiệp;
- Những lý do nào là quan trọng nhất thúc đẩy doanh nghiệp tiến hành hợp tác với các đối tác
khác?
Phần E: Hỗ trợ về phát triển công nghệ
Phần này gồm 5 câu hỏi liên quan đến các vấn đề sau:
- Các chương trình và dịch vụ khuyến khích do chính phủ cung cấp được doanh nghiệp sử
dụng;

20
- Các chương trình và dịch vụ khuyến khích do NSTDA cung cấp được doanh nghiệp sử
dụng;
- Các khoản vốn mạo hiểm dành cho các hoạt động NC&TK và đổi mới mà doanh nghiệp đã
nhận được trong thời gian 2008-2009;
- Nhận xét của doanh nghiệp về các chương trình khuyến khích và các dịch vụ hiện hành do
các cơ quan của chính phủ cung cấp; theo doanh nghiệp cần có thêm các hoạt động hỗ trợ nào
khác từ phía chính phủ;
- Ý kiến của doanh nghiệp về việc Chính phủ cần làm gì để thúc đẩy hoạt động NC&TK và
đổi mới ở Thái Lan.
Một số gợi suy cho điều tra đổi mới của doanh nghiệp ở Việt nam từ bài học kinh nghiệm
của Thái lan
Từ kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy cuộc điều tra về NC, TK và đổi mới được tiến hành ở quy
mô quốc gia theo định kỳ là 3 năm một lần (đây là một trong những cuộc điều tra mang tính pháp
lý), tuy nhiên tỷ lệ trả lời phiếu từ phía doanh nghiệp chỉ đạt 42% vậy đây là một thách thức lớn
đối với cuộc điều tra đổi mới ở Việt Nam khi được thực hiện điều tra đổi mới lần đầu, có nhiều
khái niệm còn mới đối với bản thân doanh nghiệp.
Xác định được một danh sách các doanh nghiệp sẽ tiến hành đi
ều tra đổi mới phù hợp với mục
tiêu đặt ra của đề tài đóng một vai trò đặc biệt trong thành công của hoạt động điều tra bởi từ kết

cho việc xếp hạng và so sánh quốc tế theo chuẩn quốc tế. Trong quá trình điều tra đổi mới này,
hàng loạt câu hỏi chưa được giải đáp như làm thế nào để xây dựng các chỉ số đổi mới hữu ích
từ các dữ liệu điều tra và đưa những thông tin thu được từ cuộc điều tra đổi mới vào trong quá
trình hoạch định chính sách đổi mới quốc gia.
Bài học thứ hai là chỉ số đổi mới phải thể hiện được bốn yếu tố đặc trưng của hệ thống đổi mới
phù hợp với điều kiện phát triển của các nước đang phát triển, đó là:
• Khả năng tìm kiếm các công nghệ ẩn chứa trong phương tiện máy móc phục vụ cho
đổi mới sản phẩm và đổi mới quá trình là một bộ phận quan trọng của đổi mới;

22
• Những thay đổi nhỏ, từng bước mang tính tiệm tiến (incremental change) được xem là
những hoạt động đổi mới thường hay diễn ra ở các nước đang phát triển, cùng với việc
thay đổi các sản phẩm và quá trình;
• Những thay đổi về tổ chức cũng rất quan trọng đối với quá trình đổi mới. Bên cạnh
những tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghi
ệp, thay đổi về tổ chức cũng góp
phần xây dựng năng lực làm chủ công nghệ được tích tụ trong trang thiết bị (loại hình
đổi mới thường hay xảy ra) tại doanh nghiệp;
• Đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp có tác động rất lớn về kinh tế, do vậy cần hướng
nỗ lực ưu tiên điều tra đổi mới trong ngành nông nghiệp.
Bài học thứ ba là bên cạnh những y
ếu tố quan trọng đối với điều tra đổi mới (nguồn nhân lực,
các mối liên kết, hệ thống đảm bảo chất lượng), điều tra đổi mới cũng cần đề cập đến những
hoạt động khác như mua thiết bị phần cứng và chương trình phần mềm, thiết kế công nghiệp,
hoạt động thiết kế, xây dựng và điều hành (engineering activities), thuê hoặc cho thuê máy,
trang thiết bị, hệ thống phần mềm của doanh nghiệp và năng lực bắt chước kỹ thuật (reverse
engineering).
Bài học thứ tư liên quan đến đặc trưng đổi mới ở doanh nghiệp thu được từ cuộc điều tra đổi
mới, đó là đa số các doanh nghiệp không tiến hành hoạt động đổi mới một cách chính thức, ít
thực hiện các dự án NC&TK, hoạt động đổi mới của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào các công

chúng là mới đối với một đơn vị sáng tạo hoặc thích nghi, được triển khai hoặc sản xuất hoặc
thực thi hoặc chuyển giao tới những đối tác thị trường mới hay cũ”
2

Chúng tôi cũng xin trích dẫn 10 định nghĩa chọn lọc tiêu biểu trong hộp sau đây và xin để
nguyên văn để tiện cho việc tham khảo:

Mười định nghĩa về Innovation:

1."The three stages in the process of innovation: invention, translation and commercialization."
Bruce D. Merrifield. 1986. Forces of Change Affecting High Technology Industries. A speech by

2
Joerg Gemuenden. 2009. Trao đổi xung quang khái niệm về Đổi mới. từ Mạng lưới Quản lý Đổi mới. Tạp chí Đỏi
mới. http://www.innovation.cc/discussion-papers/definition.htm#Gemuenden24
U.S. Assistant Secretary of Commerce.

2. Invention: the power of inventing or being invented; ingenuity or creativity; something originating in
an experiment. Innovation: the act or process of innovating; something newly introduced, new
method, custom, device, etc; change in the way of doing things; renew, alter.
Webster's New World Dictionary. 1982. Second College Edition.

3. Phases of Growth: entrepreneurial; divergent; inventive; creative; exploratory management;
duplication; modification; improvement; commonality/likeness shared leadership; divergence and
innovation; sharing and integrating differentness; partnering/vision.
"Innovators can hold a situation in chaos for long periods of time without having to reach a
resolution won't give up have a long-term commitment to their dream innovators introduce a

organizations can accomplish for the world and lead their enterprises toward it. They appreciate the

25
role of innovation in achieving their goals and consciously manage their concerns, value systems and
atmospheres to support it."
James Brian Quinn. 1986. Innovation and Corporate Strategy: Managed Chaos. In Technology in the
Modern Corporation: A Strategic Perspective. New York, NY: Pergamon Press. p.170.

8. Five Stages of the Innovation Process:
1. Recognition
2. Invention
3. Development
4. Implementation
5. Diffusion
Modesto A. Maidique. 1980. Entrepreneurs, Champions and Technological Innovation. Sloan
Management Review (Winter).

9. "The literature on organizational innovation is rich in lessons describes processes that are also
prevalent in the natural universe. Innovation is fostered by information gathered from new
connections; from insights gained by journeys into other disciplines or places; from active, collegial
networks and fluid, open boundaries. Innovation arises from ongoing circles of exchange, where
information is not just accumulated or stored, but created. Knowledge is generated anew from
connections that weren't there before."
Margaret J. Wheatley. 1992. Leadership and the New Science. San Francisco, CA: Berrett-Koehler
Publishers. p.113.

10. "To explain innovation, we need a new theory of organizational knowledge creation The
cornerstone of our epistemology is the distinction between tacit and explicit knowledge the key to
knowledge creation lies in the mobilization and conversion of tacit knowledge."
Ikujiro Nonaka and Hirotaka Takeuchi. 1995. The Knowledge-Creating Company. New York, NY:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status