Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nớc (NSNN) là bộ phận cơ bản, là khâu chủ đạo, có vị
trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, đồng thời là
công cụ tài chính để Nhà nớc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với hoạt
động kinh tế - xã hội của đất nớc trong từng giai đoạn phát triển.
Những năm qua, cùng với quá trình đổi mới kinh tế nói chung, việc
quản lý, điều hành NSNN đã có những đổi mới căn bản và từng bớc đợc hoàn
thiện góp phần thúc đẩy tăng trởng và phát triển kinh tế, giải quyết đợc những
vấn đề bức thiết về kinh tế - xã hội kể từ khi Luật NSNN ra đời và bắt đầu có
hiệu lực từ năm 1997, đánh dấu bớc đổi mới quan trọng trong lĩnh vực quản lý
NSNN. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cho đến nay cũng đặt ra nhiều vấn đề
cần phải tiếp tục nghiên cứu sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc Nam Trung Bộ có nguồn thu còn hạn
hẹp, trong khi nhu cầu chi cho đầu t phát triển ngày càng lớn, đòi hỏi quản lý
ngân sách cần phải đợc hoàn thiện. Trong thực tế các biện pháp quản lý NSNN
còn những vấn đề nh: Quy trình NSNN cha đợc tiêu chuẩn hóa và cha thống
nhất hóa, các chỉ tiêu tài chính, ngân sách còn rất phức tạp, cha đồng bộ, cha
tính đến sự biến đổi trong quá trình vận động ; phân cấp quản lý cha rõ nét
gây nên tình trạng chồng chéo trách nhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan quản
lý NSNN Do vậy, việc quản lý NSNN đôi khi xử lý chậm chạp, bị động,
không phù hợp, hiệu quả cha cao. Đây là những vấn đề bức xúc trong quản lý
ngân sách hiện nay. Chính vì vậy, cần thiết phải đánh giá lại việc thực hiện
quy trình và phân cấp quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và
những vấn đề đặt ra từ thực tiễn do quản lý cha đồng bộ, phân cấp cha hợp lý,
để tìm giải pháp phù hợp góp phần hoàn thiện quản lý NSNN, nhằm thực hiện
đợc các mục tiêu kinh tế - xã hội do Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đề ra.
1
Với lý do đó, tôi chọn đề tài: "Hoàn thiện quy trình và phân cấp
quản lý ngân sách nhà nớc trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi" làm luận văn
thạc sĩ kinh tế.
phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh.
- Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu
trong phạm vi quy trình quản lý NSNN và phân cấp quản lý NSNN, các nội
dung khác của quản lý NSNN đợc đề cập chỉ nhằm làm rõ thêm hai nội dung
trên. Phạm vi giới hạn trong thời gian 4 năm 1998, 1999, 2000 và 2001 trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử và các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm đờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật hiện hành của
Nhà nớc.
- Phơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phơng pháp luận khoa học, phơng pháp diễn dịch
qui nạp, phơng pháp phân tích - khái quát, phơng pháp hạch toán thống kê, kết
hợp với khảo cứu thực tiễn và các tài liệu khác có liên quan.
5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý quy trình và phân
cấp quản lý NSNN trên địa bàn cấp tỉnh.
3
- Phân tích làm rõ thực trạng quản lý NSNN, tìm ra những vấn đề cha
hoàn thiện trong các văn bản quy định và thực hiện cha đúng hoặc cha hợp lý
trong tổ chức quản lý cụ thể tại địa bàn khảo sát.
- Đề xuất những vấn đề có tính khả thi để hoàn thiện chức năng, nhiệm
vụ, trách nhiệm, quyền hạn quản lý ngân sách, phù hợp với yêu cầu quản lý
hiện nay và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phơng.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Tài liệu dùng tham khảo cho công việc nghiên cứu, giảng dạy, hoạch
định các chính sách quản lý nhà nớc và quản lý NSNN.
- Tài liệu giúp cho các nhà quản lý ở địa phơng tham khảo để vận dụng
đợc dùng từ đó.
5
Theo Luật NSNN đợc Quốc hội nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20 tháng 3 năm 1996 và có hiệu
lực thi hành từ năm 1997, tại Điều 1 quy định: "Ngân sách nhà nớc là toàn bộ
các khoản thu, chi của Nhà nớc trong dự toán đã đợc cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền quyết định và đợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc" [19, tr. 19-20].
Hoạt động của NSNN đợc biểu hiện thông qua các hiện tợng, bị ràng
buộc bởi những nội dung bên trong hết sức chặt chẽ, đó là dự toán thu, chi
bằng tiền của Nhà nớc trong một khoảng thời gian nhất định (thờng là một
năm). Đặc trng của ngân sách:
- Các khoản thu NSNN phần lớn đều mang tính chất cỡng bức, còn các
khoản chi lại mang tính cấp phát [16, tr. 8-13]. NSNN khác với ngân sách của
các chủ thể ở chỗ dự toán thu, chi của nó đợc thể chế hóa bằng luật pháp và do
luật định của Nhà nớc. Nguồn thu của NSNN do Luật Thuế và các văn bản
khác qui định; còn chi NSNN thì căn cứ vào điều kiện kinh tế, tình hình tài
chính quốc gia, nhu cầu chi và hệ thống định mức, tiêu chuẩn do cấp Nhà nớc
có thẩm quyền ban hành để lập dự toán chi.
- Mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân phối bằng tiền của
các chủ thể nào đó, tạo mối quan hệ giữa các chủ thể một bên là Nhà nớc với
một bên là xã hội. Nh vậy, thực chất của hoạt động này là hoạt động phân phối
các nguồn tài chính trong nền kinh tế - xã hội.
Nh vậy, bản chất của NSNN đợc quan sát qua hai khía cạnh bộc lộ, đó
là:
Về nội dung vật chất: Là các khoản thu và chi NSNN. Các khoản thu
vào NSNN từ nền kinh tế phần lớn đều mang tính bắt buộc của Nhà nớc, Nhà
nớc đã sử dụng quyền lập pháp để qui định hệ thống pháp luật tài chính và
thuế khoá để động viên các nguồn lực vào tay Nhà nớc. Tính chất bắt buộc các
nguồn thu này không mang ý nghĩa tiêu cực, bởi vì mọi ngời trong diện động
là việc giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế nhà nớc và xã hội. Nếu chỉ chú trọng
đến lợi ích của Nhà nớc mà không chú trọng đến lợi ích của xã hội thì quan hệ
giữa Nhà nớc và xã hội trở nên căng thẳng, sản xuất đình trệ, đời sống nhân
dân bị bần cùng.
Mọi hoạt động thu, chi của NSNN đều nhằm tạo lập và sử dụng các
nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nớc
và các chủ thể trong xã hội. Do đó, có thể kết luận về bản chất NSNN nh sau:
NSNN là hệ thống các mối quan hệ giữa Nhà nớc và xã hội phát sinh trong
quá trình Nhà nớc huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu
cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của mình.
1.1.2. Chức năng của ngân sách nhà nớc
Trong thời gian dài nhiều nhà kinh tế đều cho rằng, NSNN có hai chức
năng là phân phối và giám đốc, mỗi chức năng có những đặc trng riêng. Chức
năng phân phối bao gồm: phân phối lần đầu là phân phối lại giá trị tổng sản
phẩm xã hội, cùng với các nguồn tài chính khác dới hình thức động viên các
nguồn thu vào NSNN theo các luật định nh thuế, phí, lệ phí và các văn bản
khác, sau đó phân phối lại thông qua các khoản chi đầu t phát triển và chi th-
ờng xuyên cho nền kinh tế - xã hội. Chức năng giám đốc là hệ quả của chức
năng phân phối, tùy thuộc vào việc triển khai chức năng phân phối, chức năng
giám đốc của NSNN là việc kiểm tra, kiểm soát tình hình thu, chi NSNN, nhng
nếu chỉ nhìn nhận ở phạm vi hai chức năng trên của NSNN thì chức năng của
NSNN chỉ mới có ý nghĩa quá trình phân chia số học, cha thể hiện rõ ý nghĩa
kinh tế tổng hợp và bao quát của chức năng.
Bản chất, chức năng của Nhà nớc quyết định bản chất, chức năng của
NSNN. Hoạt động của NSNN, thực chất là hoạt động của Nhà nớc trên lĩnh
vực tài chính. Nhà nớc ra đời và tồn tại đều phải có nguồn lực tài chính để chi
tiêu, phục vụ cho việc duy trì bộ máy quản lý và phát triển kinh tế - xã hội.
Chức năng của NSNN phải có nhiệm vụ thống nhất tập hợp các khoản thu và
8
các khoản chi, sự thống nhất đó thể hiện cả hệ thống ngân sách, nghĩa là luôn
chính chỉ chủ yếu tác động trong phạm vi nhỏ hẹp, bản thân nguồn tài chính
mang tính chất đơn điệu. Nhận thức về các quan hệ tài chính nói chung và
quan hệ ngân sách nói riêng cha thật đầy đủ, rõ ràng. Các quan hệ tài chính
lúc đó chủ yếu là quan hệ thu, chi trong phạm vi tài chính nhà nớc với nét đặc
trng là quan hệ giao nộp cấp phát [13, tr. 29].
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các hoạt động thu, chi:
Thông qua các sắc thuế, là công cụ của NSNN và là nguồn thu chủ yếu
của NSNN, có tác dụng để khuyến khích, mở rộng sản xuất. Những mặt hàng
sản xuất trong nớc, hàng xuất khẩu cần khuyến khích và tạo điều kiện cho
cạnh tranh với hàng hóa trong khu vực và trên thế giới, nhất là hiện nay Việt
Nam đã bắt đầu có những động thái hòa nhập thơng mại với Mỹ, thế giới,
đang đứng trớc thời cơ và thách thức mới; cho nên cần phải có chính sách
động viên NSNN hợp lý Chính vì thế, thông qua chính sách thuế, không chỉ
tập trung nguồn thu cho NSNN mà còn góp phần thực hiện vai trò định hớng
đầu t, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế phát triển theo hớng tích cực, kích thích
hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh [20, tr. 32].
Ngoài công cụ thuế còn có khoản thu từ nguồn vay nợ trong nớc và
ngoài nớc sẽ tạo thêm nguồn vốn cho NSNN, vấn đề là việc sử dụng nguồn
vốn vay sao cho đúng hớng, có chế độ quản lý hợp lý để có hiệu quả. Nếu
không sử dụng tốt thì đây là khoản nợ lớn của ngân sách, càng làm cho ngân
sách khó khăn bởi gánh nợ chi trả.
Thông qua chi đầu t của NSNN cho xây dựng, kết cấu hạ tầng nh xây
dựng giao thông, thủy lợi, điện, nớc, bu điện đã tạo đợc môi trờng kết cấu hạ
tầng thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh. Ngân sách còn dành vốn
10
đầu t để hình thành các doanh nghiệp then chốt, mũi nhọn có tác dụng thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ, và cuối cùng tác
động đến tăng trởng kinh tế và là một biện pháp để chống độc quyền, thực
hiện các chính sách u đãi thuế đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh miền
núi, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công ích đã tạo điều kiện hỗ trợ cho
1.2.1. Quản lý và chu trình quản lý ngân sách nhà nớc
Quản lý NSNN là quá trình Nhà nớc vận dụng các chức năng của
NSNN để hoạch định chính sách, chế độ; sử dụng hệ thống các phơng pháp
thích hợp tác động đến các hoạt động thu - chi của NSNN, làm cho chúng vận
động theo yêu cầu khách quan của nền kinh tế - xã hội, nhằm phục vụ tốt nhất
cho việc thực hiện các chức năng do Nhà nớc đảm nhận.
Quản lý NSNN đợc thể hiện qua việc hoạch định các chính sách, cơ
chế quản lý và Luật NSNN. Việc hoạch định chính sách, cơ chế quản lý và
Luật ngân sách đúng đắn sẽ tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của ngân sách
trong đời sống kinh tế, xã hội. Quản lý NSNN là nghiệp vụ quản lý vĩ mô nh-
ng có sự phân công, phân cấp quản lý kinh tế và hành chính, tinh thần là vừa
khai thác, tạo ra và nuôi dỡng nguồn thu, vừa phải bố trí các nguồn chi hợp lý.
Tác động quản lý phải thông qua các hệ thống, các biện pháp phù hợp với đặc
điểm và quy luật vận động của đối tợng quản lý và đợc biểu hiện qua nhiều
mặt khác nhau nh sau:
- NSNN phải đợc quản lý bằng pháp luật và kế hoạch; hoạt động thu,
chi của NSNN đều phải đợc quy định rõ ràng, chặt chẽ từ khâu lập kế hoạch,
thực hiện kế hoạch; xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nớc các
cấp, của các cán bộ nhà nớc trong quản lý ngân sách; việc lập, chấp hành, quyết
toán, kiểm tra NSNN hàng năm thể hiện sự kết hợp chặt chẽ việc sử dụng luật
và kế hoạch để quản lý ngân sách.
12
- Quản lý NSNN sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhng rất coi trọng
biện pháp tổ chức - hành chính: biện pháp này bảo đảm đợc tính thống nhất
chỉ huy, quyền lực; nó thể hiện tính luật pháp trong quản lý ngân sách vì nó
bảo vệ lợi ích cộng đồng.
- Quản lý NSNN là sự quản lý kết hợp yếu tố con ngời và yếu tố tài
chính: các cơ quan Nhà nớc vừa là ngời thụ hởng ngân sách, vừa là ngời tổ
chức các hoạt động ngân sách, cho nên trớc hết phải quản lý con ngời; các
hoạt động NSNN có liên quan đến tất cả các chủ thể kinh tế - xã hội, cũng là
tất yếu là phải phân cấp quản lý cho mỗi cấp chính quyền nhà nớc về nhiệm
vụ, quyền hạn đối với các vấn đề thuộc về NSNN để NSNN ngày càng đạt
hiệu quả cao hơn.
1.2.2. Quy trình ngân sách nhà nớc
Quy trình NSNN bao gồm lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; đó
là quá trình từ khi hình thành ngân sách cho tới khi kết thúc để chuyển sang
ngân sách mới.
* Lập NSNN là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của quy
trình ngân sách. Chính trong giai đoạn này các vấn đề về khối lợng ngân sách,
về chính sách thuế, chính sách vay nợ và tiền tệ cho năm sau đợc xem xét,
quyết định. Lập ngân sách thực chất là dự toán các khoản thu, chi của ngân
sách trong một năm ngân sách.
Dự toán NSNN là dự toán tổng hợp phản ánh và đáp ứng những yêu
cầu cơ bản về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và những
yêu cầu về mặt tài chính của bộ máy nhà nớc. Khi việc dự toán thu, chi đúng
đắn, có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội nói chung và thực hiện ngân sách nói riêng.
Do đó lập dự toán NSNN hàng năm phải dựa vào những căn cứ sau:
14
- Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an
ninh; chi tiêu, nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánh
quy mô nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện kinh tế - xã hội và tự nhiên
của từng vùng nh dân số theo vùng lãnh thổ, biên chế, các chỉ tiêu về kinh tế - xã
hội do cơ quan có thẩm quyền thông báo với từng Bộ, ngành, địa phơng và
đơn vị cơ sở.
- Các luật, pháp lệnh thuế, chế độ thu; chế độ tiêu chuẩn, định mức chi
ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định; các chế độ, chính sách hiện hành
làm cơ sở lập dự toán chi NSNN năm, trờng hợp cần sửa đổi, bổ sung phải đợc
nghiên cứu và ban hành trớc thời điểm lập dự toán NSNN.
- Những quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và phân cấp
đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp quyết định dự toán ngân sách địa phơng
(NSĐP) và phơng án phân bổ ngân sách cấp mình; báo cáo cơ quan hành
chính nhà nớc, cơ quan tài chính cấp trên dự toán NSĐP và kết quả phân bổ dự
toán ngân sách cấp mình đã đợc HĐND cùng cấp quyết định.
Trên cơ sở nhiệm vụ ngân sách cả năm gồm nội dung tổ chức thu
NSNN và bố trí cấp phát kinh phí của NSNN, cơ quan quản lý thu (thuế, hải
quan) lập dự toán thu ngân sách quý có chia ra khu vực kinh tế, địa bàn và đối
tợng thu chủ yếu là hình thức thu: các đơn vị thụ hởng ngân sách lập dự toán,
chi quý, chi tiết theo mục lục NSNN gửi cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan quản
lý cấp trên tổng hợp, lập dự toán chi ngân sách quý (chia ra tháng). Dự toán
thu, chi gửi cơ quan tài chính đồng cấp trớc ngày 10 của tháng cuối quý.
Việc xem xét và thảo luận ngân sách đợc tiến hành tại kỳ họp Quốc
hội; sau khi thảo luận và thông qua, Quốc hội sẽ ra nghị quyết về việc phê
chuẩn ngân sách, nghị quyết này trở thành văn bản luật, mọi tổ chức và cá
nhân đều có nghĩa vụ chấp hành.
16
- Thông báo ngân sách là bớc cuối cùng của quá trình hình thành ngân
sách đợc thực hiện sau khi có quyết định nghị quyết phê chuẩn ngân sách của
Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính giao hớng dẫn nhiệm vụ thu, chi ngân
sách cho các bộ, ngành, địa phơng để thực hiện.
* Chấp hành NSNN là quá trình sử dụng tổng hòa các biện pháp kinh
tế, tài chính và biện pháp hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong
dự toán NSNN trở thành hiện thực [26].
Chấp hành ngân sách đợc thực hiện khi năm ngân sách bắt đầu và
ngân sách đợc triển khai; nội dung chủ yếu là tổ chức thu, quản lý nguồn thu
NSNN và cấp phát kinh phí của NSNN.
Việc chấp hành NSNN thuộc về tất cả pháp nhân và thể nhân dới sự
điều hành của Bộ Tài chính.
Thực chất của tổ chức chấp hành thu, chi ngân sách là việc tìm kiếm,
sử dụng các biện pháp có hiệu quả nhất để thắng lợi các nhiệm vụ chấp hành
sách đúng mục đích, tiết kiệm đạt hiệu quả cao.
- Tham mu cho Nhà nớc điều phối nguồn vốn cấp phát của ngân sách
khi những nhu cầu đột xuất không nằm trong dự kiến kế hoạch chi nhng đòi
hỏi phải đáp ứng.
Tổ chức đánh giá tình hình chấp hành kế hoạch chi và kịp thời đề xuất
những biện pháp khắc phục những tồn tại. Đồng thời thông báo kịp thời tình
hình cấp phát, tình hình tồn quỹ ngân sách cho các cấp có thẩm quyền theo
chế độ báo cáo qui định [26, tr. 356], [28].
* Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong quy trình NSNN.
Thông qua quyết toán NSNN có thể cho ta thấy bức tranh toàn cảnh
hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nớc trong thời gian qua, tình hình hoạt
18
động NSNN với t cách là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc. Từ đó rút ra
kinh nghiệm trong việc quản lý điều hành NSNN.
Các đơn vị dự toán các cấp I, II, III và đơn vị dự toán cấp dới của
cấp III, cơ quan tài chính các cấp; KBNN; cơ quan thu đều là đối tợng thực
hiện kế toán NSNN. Trình tự lập, phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán thu, chi
NSNN hàng năm của ngân sách các cấp chính quyền địa phơng nh sau:
+ Ban Tài chính xã có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán thu, chi
ngân sách hàng năm của xã trình UBND xã, UBND xã trình HĐND xã phê
chuẩn xem xét để gửi Phòng Tài chính huyện.
+ Phòng Tài chính huyện có trách nhiệm thẩm tra báo cáo quyết toán
thu, chi ngân sách xã; lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện;
tổng hợp báo cáo thu NSNN trên địa bàn huyện; quyết toán thu, chi ngân sách
huyện (gồm thu, chi ngân sách cấp huyện và thu, chi ngân sách xã) trình
UBND huyện, UBND huyện trình HĐND huyện phê chuẩn xem xét để gửi Sở
Tài chính - Vật giá.
+ Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm thẩm tra báo cáo quyết toán
thu, chi ngân sách huyện; lập báo cáo thu NSNN trên địa bàn tỉnh và báo cáo
quyết toán thu, chi ngân sách tỉnh (bao gồm: thu, chi ngân sách cấp tỉnh; thu,
Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay, những nhiệm vụ điều chỉnh kinh tế vĩ mô nền kinh tế - xã hội sẽ
ngày càng trở nên phức tạp đối với chính quyền nhà nớc trung ơng, nên việc
phân cấp quản lý ngân sách với sự tồn tại NSĐP là hoàn toàn phù hợp với điều
kiện, hình thái tổ chức nhà nớc và Hiến pháp nớc ta, phân cấp quản lý ngân
sách theo cấp chính quyền sẽ tăng cờng quyền hạn, trách nhiệm của chính
quyền địa phơng trong việc chủ động khai thác nguồn thu và đảm nhận các
20
nhiệm vụ chi đợc giao. Phân cấp ngân sách không chỉ dừng lại ở việc phân
giao nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp ngân sách mà còn giải quyết tất cả các
mối quan hệ về kinh tế - tài chính giữa các cấp chính quyền địa phơng. Do đó,
nó là công việc của chính các cấp chứ không phải chỉ là công việc điều hành
riêng trong nội bộ của ngành tài chính [33].
* Nội dung phân cấp quản lý NSNN:
Giải quyết mối quan hệ giữa NSTW và NSĐP theo hớng tập trung cần
thiết NSTW để phát huy vai trò chủ đạo, chi phối trong toàn bộ hệ thống
NSNN. Đồng thời mở rộng hơn quyền chủ động NSĐP trong bảo đảm nguồn
thu và nhiệm vụ chi. Quá trình đó giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền
các cấp trong quản lý ngân sách, với ý nghĩa đó phân cấp ngân sách phải bao
gồm các nội dung sau:
Thứ nhất là quan hệ về mặt chế độ, chính sách.
Trong phân cấp quản lý ngân sách phải phân định rõ cấp chính quyền
nào đợc ban hành các chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩn, chỉ tiêu ngân
sách ban hành những loại chế độ nào. Những vấn đề này phải đợc quy định rõ
ràng về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn mỗi cấp tức là cấp trung
ơng thì phạm vi thực hiện đến đâu, cấp địa phơng thì quyền xử lý ở phạm vi
mức độ giới hạn nào trong hoạt động ngân sách. NSĐP vừa thể hiện tính chủ
động, độc lập, vừa là sự chấp hành. Các chế độ, chính sách, định mức, tiêu
chuẩn mỗi cấp ngân sách tuy phân định phạm vi, giới hạn nhng chúng có mối
quan hệ khăng khít và thống nhất toàn quốc. Nếu không chấp hành nghiêm
- Về phân cấp nguồn thu:
+ Theo Luật NSNN quy định các khoản thu NSĐP gồm: các khoản thu
đợc tập trung vào ngân sách cấp mình 100% và các khoản thu đợc phân chia
22
theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách các cấp. Quy định của cơ chế phân cấp
NSNN, các khoản thu đợc để lại 100% cho NSĐP nh:
- Tiền cho thuê mặt đất, mặt nớc đối với các doanh nghiệp. Tiền thuê và
bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nớc - do ngân sách tỉnh thu.
+ Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ nớc ngoài
hoặc từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển từ nớc ngoài (ODA) thuộc ngân sách cấp
nào thì ngân sách cấp đó thu
Tùy theo yêu cầu tình hình kinh tế - xã hội và nhiệm vụ chi trên từng
địa bàn, ngân sách các cấp trung ơng, tỉnh, huyện có nhiệm vụ chi bổ sung
cho ngân sách cấp dới, ngợc lại ngân sách các cấp, tỉnh, huyện, xã (phờng, thị
trấn) còn có một phần đợc bổ sung từ ngân sách cấp trên trực tiếp.
Phần đợc bổ sung thu ngân sách này là các khoản thu phân chia theo
tỷ lệ phần trăm giữa các cấp ngân sách.
Đây là các khoản thu khá phức tạp và cơ chế phân cấp ngân sách đã
quy định cho phép điều hòa theo tỷ lệ phần trăm giữa các cấp ngân sách. Các
khoản thu này nh:
+ Đối với các doanh nghiệp do Trung ơng quản lý bao gồm thu thuế
giá trị gia tăng (trừ thuế giá trị gia tăng hàng hóa xuất nhập khẩu), thuế thu
nhập doanh nghiệp (không kể đơn vị hạch toán toàn ngành), các khoản thu
thuế sử dụng vốn NSNN, thu hoàn vốn chênh lệch giá và thu khác phân cấp
nhiệm vụ thu do tỉnh đảm nhiệm và đợc phân chia tỷ lệ phần trăm giữa NSTW
và ngân sách tỉnh theo quy định của Trung ơng (không phân chia cho ngân
sách huyện).
+ Đối với các doanh nghiệp do địa phơng quản lý và các doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài bao gồm thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh
nghiệp, thu sử dụng vốn NSNN, thu hoàn vốn chênh lệch giá và các khoản thu
+ Chi đầu t XDCB các hạng mục công trình cấp tỉnh là nhiệm vụ chi
của ngân sách tỉnh. Riêng các khoản, chi xây dựng kết cấu hạ tầng huy động
góp từ các tổ chức, cá nhân thì cấp ngân sách nào huy động, cấp đó đảm
nhiệm chi.
+ Chi vốn lu động cho các doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) địa phơng
do ngân sách tỉnh chi.
Đối với sự nghiệp kinh tế bao gồm chi sự nghiệp nông nghiệp, sự
nghiệp thủy lợi, sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kiến thiết thị chính, phân cấp
chi cho cả ngân sách tỉnh, huyện, xã. Các khoản chi sự nghiệp đó cho các
công trình thuộc cấp nào quản lý thì ngân sách cấp đó đảm nhiệm chi. Sự
nghiệp giáo dục - đào tạo, sự nghiệp y tế, khoa học - công nghệ, môi trờng
phân cấp cho ngân sách tỉnh đảm nhiệm chi thông qua phơng thức cấp phát ủy
quyền cho các huyện.
+ Chi quản lý hành chính bao gồm chi quản lý nhà nớc, chi hoạt động
cho khối Đảng, đoàn thể, hiệp hội thuộc cấp nào quản lý thì phân cấp ngân
sách cho cấp đó chi bao gồm phân cấp nhiệm vụ chi cho cả cấp ngân sách
tỉnh, huyện, xã [1].
1.3. Yêu cầu hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý
ngân sách nhà nớc
Luật NSNN đảm bảo nguyên tắc tập trung, dân chủ và yêu cầu quản lý
thống nhất nền tài chính quốc gia của Nhà nớc, có phân cấp quản lý giữa các
ngành, các cấp là nội dung đổi mới cơ bản trong quản lý NSNN. Triển khai
theo nội dung đó là những công việc hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có quá
trình nghiên cứu, rút kinh nghiệm, chu chỉnh để không ngừng hoàn thiện các
chính sách, không ngừng nâng cao vai trò chủ đạo NSNN trong hệ thống tài
25