Giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình Luận văn ThS 2014 - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
NGUYỄN THANH NGHỊ GIẢM NGHÈO TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - Năm 2014
Hà Nội - Năm 2014MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM
NGHÈO CỦA TỈNH NINH BÌNH 7
1.1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo 7
1.1.1. Lý luận chung về đói, nghèo 7
1.1.2. Công tác giảm nghèo 20
1.2. Cơ sở thực tiễn của giảm nghèo 23
1.2.1. Chủ trƣơng, chính sách giảm nghèo của Đảng, Chính phủ 23
1.2.2. Kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo ở Thành phố Hồ Chí Minh 27
1.2.3. Kinh nghiệm giảm nghèo ở Quảng Bình 28
1.2.4. Kinh nghiệm giảm nghèo ở Hải Dƣơng 29
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO Ở TỈNH NINH BÌNH GIAI
ĐOẠN 2000 - 2013 31
2.1. Tổng quan chung về Ninh Binh 31
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Ninh
Bình 31
2.1.2. Tình hình nghèo của Ninh Bình (Căn cứ số liệu thứ cấp tỉnh công
bố) 38
2.2. Tình hình giảm nghèo ở Ninh Bình 47


STT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa Tiếng Việt
1
BHXH
Bảo hiểm xã hội
2
BHYT
Bảo hiểm y tế
3
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
4
DN
Doanh nghiệp
5
ESCAP
Ủy ban ktế xã hội châu Á và Thái Bình Dƣơng
6
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
7
HĐND
Hội đồng nhân dân
8
HTX
Hợp tác xã
9
KHKT

Uỷ ban nhân dân
20
UNDP
Chƣơng trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
21
XDCB
Xây dựng cơ bản
22
XĐGN
Xoá đói giảm nghèo
23
XKLĐ
Xuất khẩu lao động

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Khảo sát nguyên nhân nghèo của các hộ nghèo
trong tỉnh Ninh Bình
39-40
2
Bảng 2.2
Tổng hợp kinh phí năm 2013 từ nguồn ngân
sách tỉnh và quỹ tỉnh để thực hiện nghị quyết

8
Bảng 2.8
Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2001-
2006
89
9
Bảng 2.9
Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2006-
2010
90
10
Bảng 2.10
Biểu tổng hợp số liệu hộ nghèo năm 2010-
2013
91

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Hình 2.1
Bản đồ tỉnh Ninh Bình
31
2
Hình 2.2
Quy trình xét duyệt cho vay vốn ngƣời nghèo
60


2

của Việt Nam đã đi qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1998 - 2000 và 2001 - 2005
với những kết quả đáng khích lệ. Thành quả xóa đói giảm nghèo của Việt
Nam đã đƣợc cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, coi đó là một
trong những "câu chuyện thành công nhất" trong thời kỳ đổi mới.
Trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội, cùng với các địa phƣơng
khác trong cả nƣớc, tỉnh Ninh Bình đã có nhiều cố gắng trong công tác xóa
đói, giảm nghèo. Kết quả là từ năm 2000 đã đƣợc công nhận là địa phƣơng
thoát đói. Công tác giảm nghèo của tỉnh Ninh Bình cũng đã đạt đƣợc một số
kết quả đáng khích lệ theo các chƣơng trình, nghị quyết của Tỉnh ủy và đề án
của UBND tỉnh. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 12,83% (tính đến cuối năm
2006), 10,07% (tính đến cuối năm 2007), 8,91% (cuối năm 2008), 6,88%
(cuối năm 2009), 12,39% (cuối năm 2010), 9,85% (cuối năm 2011), 7,54%
(cuối năm 2012), 5,44% (cuối năm 2013). Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo trên toàn
tỉnh Ninh Bình vẫn còn cao so với một số tỉnh, địa bàn khác nhƣ TP Hồ Chí
Minh, Tỉnh Hải Dƣơng.
Vậy thực tế giảm nghèo ở Ninh Bình đƣợc thực hiện nhƣ thế nào? Ninh
Bình đã đạt đƣợc những thành công gì trong giảm nghèo? Và còn những hạn
chế gì đang tồn tại và nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng này? Cần có giải
pháp gì để Ninh Bình có thể thành công trong giảm nghèo? Đây là những vấn
đề cấp thiết cần đƣợc làm rõ để góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác giảm
nghèo của tỉnh Ninh Bình. Luận văn với Đề tài: “Giảm nghèo trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình” nhằm mục đích nghiên cứu đề tìm
ra câu trả lời cho các vấn đề cấp thiết trên.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan tới đề tài này đã có những công trình nghiên cứu sau:
“Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để góp phần xóa đói giảm nghèo
ở nông thôn Việt Nam”, luận án Tiến sĩ của Vũ Thị Hiểu (năm 1996) đã



Liên quan trực tiếp đến công tác giảm nghèo của Ninh Bình có luận văn
thạc sĩ của tác giả Bùi Mai Hoa (2009). Tác giả đã sử dụng nghiên cứu một
cách khá tổng quát công tác giảm nghèo của Ninh Bình giai đoạn từ năm
2006 đến 2009 và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện công tác giải nghèo
Ninh Bình. Tuy nhiên, luận văn của tác giả Bùi Mai Hoa chƣa áp dụng
phƣơng pháp khảo sát điều tra thực trạng giảm nghèo ở Ninh Bình và mới
nghiên cứu công tác xóa đói, giảm nghèo của Ninh Bình đến năm 2009. Từ
2009, kinh tế Việt Nam nói chung và của Ninh Bình nói riêng gặp nhiều khó
khăn do ảnh hƣởng của khủng hoảng kinh tế, do vậy công tác giảm nghèo của
Ninh Bình cũng gặp nhiều khó khăn, nhƣng chƣa có công trình mới cập nhật
tình hình này.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu của các công trình trên là nguồn tƣ liệu
tham khảo tốt đối với tác giả để viết luận văn. Nhƣng các công trình, đề tài
phần lớn chỉ tập trung nghiên cứu về giải quyết việc làm đối với ngƣời lao
động trong quá trình CNH-HĐH trên phạm vi tỉnh và trong cả nƣớc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng giảm nghèo ở tỉnh
Ninh Bình giai đoạn 2000 - 2013 nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần cải
thiện giảm nghèo của tỉnh Ninh Bình.
3.2 Nhiệm vụ của luận văn:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về giảm nghèo.
- Phân tích, đánh giá thực trạng giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn
2000 - 2013.
- Đƣa ra những giải pháp về giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5


Luận văn sử dụng cả số liệu sơ cấp và thứ cấp, trong đó:
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ 2 nguồn.
+ Niên giám thống kê của tỉnh Ninh Bình, các Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ tỉnh Ninh Bình, các Báo cáo tổng kết hàng năm của UBND tỉnh, báo cáo
của Sở Lao động, thƣơng binh và xã hội tỉnh, Cục Thống kê tỉnh.
+ Các sách, công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học đƣợc các cơ
quan có uy tín xuất bản nhƣ: Tổng cục thống kê, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Nhà xuất bản Nông nghiệp.
6. Những đóng góp của luận văn
- Đánh giá đƣợc thực trạng giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000-2013 làm rõ những thành tựu đã đạt
đƣợc và chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thành đƣợc mục tiêu đề
ra cho giảm nghèo ở Ninh Bình đến năm 2015.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giảm nghèo của
tỉnh Ninh Bình
Chƣơng 2: Thực trạng giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn
2000-2013
Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện giảm nghèo trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình

7

CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
GIẢM NGHÈO CỦA TỈNH NINH BÌNH

1.1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo

mức trung bình của cộng đồng tại địa phƣơng, ở một thời kỳ nhất định.
Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ
yếu của ngƣời nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức
tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng;
thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cƣ không
đƣợc thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con ngƣời, trƣớc hết là ăn, mặc, ở.
Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận
dân cƣ khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phƣơng trong
một thời kỳ nhất định. Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo
tƣơng đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng
cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảm thiểu
tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tƣơng đối.
Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đƣa ra và căn
cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong Chiến lược toàn diện về
tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo năm 2010, Việt Nam thừa nhận định
nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á -
Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993.
Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn đƣợc nghiên cứu ở các cấp độ
khác nhau nhƣ cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, do đó bên cạnh khái niệm
nghèo đói, ở nƣớc ta còn có một số khái niệm sau:
Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới
mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì

9

cuộc sống. Đó là những hộ dân cƣ hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai
tháng, thƣờng vay mƣợn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cộng đồng.
Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không đƣợc học
hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát

phi chính phủ) thì những khái niệm về giàu nghèo dựa trên thu nhập hiện
đang đƣợc chính phủ và nhân dân sử dụng ngày càng nhiều, để xác định ai
"giàu" và ai "nghèo".
Đối với nƣớc ta đã 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo từ 1993 đến 2013.
* Giai đoạn 1993 - 1995:
Hộ đói: bình quân thu nhập đầu ngƣời quy gạo/tháng dƣới 13 kg đối
với thành thị, dƣới 8 kg đối với khu vực nông thôn.
Hộ nghèo: bình quân thu nhập đầu ngƣời quy gạo/tháng dƣới 20 kg đối
với thành thị, dƣới 15 kg đối với khu vực nông thôn.
* Giai đoạn 1995 - 1997:
Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một ngƣời trong hộ một tháng
quy ra gạo dƣới 13 kg, tính cho mọi vùng.
Hộ nghèo là hộ có thu nhập nhƣ sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dƣới 15 kg/ngƣời/tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dƣới 20 kg/ngƣời/tháng.
+ Thành thị: dƣới 25kg/ngƣời/tháng.
* Giai đoạn 1997 - 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH).
Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một ngƣời trong hộ một tháng
quy ra gạo dƣới 13 kg, tính cho mọi vùng.
Hộ nghèo là hộ có thu nhập nhƣ sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dƣới 15 kg/ngƣời/tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dƣới 20 kg/ngƣời/tháng.
+ Thành thị: dƣới 25kg/ngƣời/tháng.

11

* Giai đoạn 2001 - 2005 (Quyết định số 1143/2000/QĐ - LĐTBXH).
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dƣới 80.000 đ/ngƣời/tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng: dƣới 100.000 đ/ngƣời/tháng.
+ Thành thị: dƣới 150.000 đ/ngƣời/tháng.

hàng hoá khoảng 40 mặt hàng. (Rổ hàng hoá tính cho Việt Nam cũng 40
mặt hàng và xếp thành 16 nhóm hàng hoá: gạo các loại; lương thực khác
quy gạo; thịt các loại; mỡ, dầu ăn; tôm cá; trứng gia cầm các loại; đậu
phụ; đường, mật, sữa, bánh kẹo mứt; nước mắm, nước chấm; chè, cà phê;
rượu, bia; đồ uống khác; đỗ các loại; lạc, vừng; rau các loại; quả chín); từ
rổ hàng hoá này ngƣời ta xác định đƣợc số tiền cần thiết chi tiêu cho lƣơng
thực thực phẩm. Tuy nhiên, giá cả của rổ hàng hoá ở thành thị, nông thôn
và các vùng rất khác nhau, vì vậy ngƣời ta phải lấy giá trị trung bình của rổ
hàng hoá này.
Bước hai là xác định nhu cầu chi tiêu lƣơng thực thực phẩm (7 nhu cầu
cơ bản còn lại). Thông thƣờng chi cho lƣơng thực, thực phẩm chung của dân
cƣ chiếm khoảng 60% tổng chi tiêu, còn 40% là nhu cầu phi lƣơng thực thực
phẩm. Đối với nhóm giàu tỷ lệ tƣơng ứng là 50% và 50%; đối với nhóm
nghèo 70% chi tiêu cho nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm, còn 30% chi tiêu cho
phi lƣơng thực, thực phẩm (ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp
xã hội).
Bước ba là xác định tổng nhu cầu chi tiêu cho lƣơng thực, thực phẩm
(LTTP) và phi lƣơng thực, thực phẩm.
Tổng chi tiêu = chi tiêu cho LTTP + chi tiêu cho phi LTTP
Giá trị bằng tiền của tổng chi tiêu đƣợc gọi là đƣờng nghèo chung hay
còn gọi là chuẩn nghèo cao.

13

Giá trị bằng tiền của chi tiêu cho lƣơng thực, thực phẩm là đƣờng
nghèo lƣơng thực, thực phẩm hay còn gọi là chuẩn nghèo thấp.
Cũng bằng phƣơng pháp trên, theo Tổng cục Thống kê đã chuyển từ
mức chi tiêu sang mức thu nhập để mọi ngƣời dễ hiểu và thuận lợi hơn cho
việc điều tra khảo sát và tính toán tỷ lệ nghèo đói. Những ngƣời có thu nhập
thấp hơn chuẩn nghèo chung đƣợc xếp vào nhóm ngƣời nghèo, còn những ai

nhập cao, chi phí đắt đỏ có thể lấy mức 1/2, nƣớc chậm phát triển có thể lấy
mức 1/3; nƣớc đang phát triển có thể lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 mức
thu nhập bình quân đầu ngƣời. Nƣớc ta đƣợc xếp vào nhóm nƣớc đang phát
triển, vào thời điểm năm 2002 thu nhập bình quân đầu ngƣời là 4.281 nghìn
đồng, thì chuẩn nghèo là 1.875 nghìn đồng, tƣơng đƣơng với 156,250 nghìn
đồng/ngƣời/tháng. Năm 2005 ƣớc tính thu nhập bình quân đầu ngƣời của các
hộ gia đình là 5.183 nghìn đồng/ngƣời/năm (tính theo tốc độ tăng bình quân
của thời kỳ 1998 - 2002 là 6,58% một năm) thì chuẩn nghèo là 2.159 nghìn
đồng/năm, tƣơng đƣơng 179,9 nghìn đồng/tháng.
Công thức tính cụ thể cho Việt Nam nhƣ sau [7]:

CNj = (TNj /2 + TNj /3): 2
Trong đó: - CNj là chuẩn nghèo năm thứ j
- TNj là thu nhập bình quân đầu ngƣời của các hộ gia đình
năm thứ j
Trong trƣờng hợp này chuẩn nghèo đƣợc lấy ở khoảng giữa của 1/2 và
1/3 thu nhập bình quân đầu ngƣời của hộ gia đình.
Phƣơng pháp này có ƣu điểm là đơn giản, dễ tính toán và nó gắn rất
chặc với tốc độ tăng thu nhập của dân cƣ, ít tốn kém kinh phí vì có thể sử
dụng số liệu có sẵn, các địa phƣơng cũng tự tính đƣợc chuẩn nghèo của mình.
1.1.1.3. Nguyên nhân gây nghèo

15

Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu
trung lại, nghèo đói ở các nƣớc đang phát triển chủ yếu là do các nguyên nhân
cơ bản sau đây:
Thứ nhất, do người nghèo không có khả năng và cơ hội để tiếp cận
và kiểm soát các nguồn lực sản xuất.
Các nguồn lực sản xuất chủ yếu hiện nay có thể kể đến nhƣ vốn, đất

thể thoát khỏi đói nghèo trong khi tƣ liệu sản xuất chủ yếu là đất đai lại đang
bị thu hẹp dần. Do tất cả những nguyên nhân đó mà thu nhập của ngƣời lao
động ở nông thôn trở nên quá thấp, phần lớn không có lích lũy. Mặc dù hầu
hết các địa phƣơng đã thành lập quỹ XĐGN, nhƣng trên thực tế cũng chỉ đáp
ứng đƣợc một phần số hộ nghèo vay vốn.
Thứ hai, do dân số tăng nhanh.
Hiện các nƣớc đang phát triển đang đóng góp lớn nhất vào phần tăng
thêm của dân số thế giới. Trong suốt thập kỷ 90, phần đóng góp của các nƣớc
đang phát triển vào số lƣợng ngƣời tăng thêm chiếm tới 93 - 95%. Nói cách
khác, dân số thế giới tăng lên nhanh là do các nƣớc đang phát triển quyết
định. Hiện tại châu Á chiếm 60% số dân cả thế giới, châu Phi
là 12%. Sự tăng dân số rất khác nhau ở các khu vực trên thế giới đã làm thay
đổi cơ cấu tuổi của dân số. Một bộ phận dân số quá trẻ, trong đã một bộ phận
tại các nƣớc công nghiệp già đi nhanh chóng. Dân số tăng nhanh ở các nƣớc
đang phát triển dẫn đến thu nhập bình quân đầu ngƣời giảm, đồng thời tạo ra
áp lực rất gay gắt về việc làm và làm nhức nhối những vấn đề xã hội. Nghèo
đói ở các nƣớc công nghiệp phát triển chủ yếu do thất nghiệp gây ra. Còn
nghèo đói ở các nƣớc đang phát triển do rất nhiều nguyên nhân, trong đã có
nguyên nhân trực tiếp là dân số tăng nhanh. Trên thế giới không có nơi đâu có

17

tỷ lệ tăng dân số cao mà vẫn giảm đƣợc tỷ lệ nghèo đói. Do đó, các nƣớc đang
phát triển chỉ có thể giảm nghèo đói bằng cách giảm tỷ lệ sinh.
Rơnê Đuy Mông trong "Một thế giới không thể chấp nhận được" đã
cảnh báo các nƣớc đang phát triển về sự bùng nổ dân số, về sự luẩn quẩn giữa
đói nghèo - lạc hậu - dân số tăng nhanh. Theo ông thì: " Chính nhà nước
phải có trách nhiệm đối với cộng đồng là đánh giá tài nguyên của mình về
đất, nước, và khoáng sản, và khoảng không gian còn rỗi rãi, những hy vọng
tiến bộ thật sự và đã đưa ra những tỷ lệ hợp lý về tăng số dân để bảo đảm cho

dụng không đúng mục đích, nên hiệu quả của những nguồn viện trợ rất thấp.
Qua những nguyên nhân gây nên nghèo ở các nƣớc đang phát triển vừa
nêu, ta thấy nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân kinh tế.
Do đó, việc giảm nghèo ở đây trƣớc hết đƣợc hiểu nhƣ là sự hỗ trợ phát
triển của nhà nƣớc và cộng đồng để nâng cao đời sống dân cƣ, xóa bỏ tình
trạng còn tồn tại các hộ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu
nhƣ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có
tiền chữa trị, nhà ở bằng tranh tre vách đất, nhằm duy trì cuộc sống bình
thƣờng. Từ đó giúp họ vƣợt qua tình trạng đói khổ triền miên để đi tới sự phát
triển.
Giảm nghèo tức là tạo điều kiện cho bộ phận dân cƣ nghèo tiếp cận
đƣợc với các nguồn lực cần thiết để họ tự nâng cao mức sống, từng bƣớc
thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lƣợng ngƣời
nghèo giảm xuống làm cho mức sống chung của toàn bộ cộng đồng đƣợc
nâng lên.
Giảm nghèo còn đƣợc hiểu là quá trình chuyển một bộ phận dân cƣ
nghèo lên một mức sống cao hơn nhờ sự hỗ trợ của Nhà nƣớc, cộng đồng và
sự nỗ lực vƣơn lên của bản thân các hộ nghèo. Ở khía cạnh khác, giảm nghèo

19

là chuyển từ tình trạng ngƣời nghèo có một ít sự lựa chọn sang tình trạng có
nhiều sự lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi ngƣời.
Nhƣ vậy, có thể nói một cách khái quát, xóa đói, giảm nghèo là quá
trình tạo điều kiện giúp các hộ đói nghèo có khả năng và cơ hội để tiếp cận
với các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh chóng, trên cơ sở đã họ có
nhiều sự lựa chọn hơn, giúp họ từng bƣớc thoát ra khỏi cảnh nghèo đói.
Giảm nghèo còn gắn với trung lƣu hóa một bộ phận dân cƣ, khuyến
khích và tạo điều kiện cho một bộ phận dân cƣ biết vƣơn lên làm giàu chính
đáng trong khuôn khổ pháp luật cho phép.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status