SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI GIẢM NGHÈO TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Pdf 67

SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI GIẢM NGHÈO TRONG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của
nền kinh tế. Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về
lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn
thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu
như vậy, phát triển kinh tế là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội
tại của nền kinh tế quyết định
Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so
với khái niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ
bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát
triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội
hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt
chất của nền kinh tế - xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH,HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng
nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể
hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ
chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp
dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế-xã hội.Với
nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế đã đáp
ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực
kinh tế, văn hoá, xã hội… Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai
thập niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá
phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là
ở phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng
chung đến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có
những vấn đề cực kỳ phức tạp, nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức
của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống, thiên tai, dịch

điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng, từng quốc gia theo từng thời
kỳ
Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức đã đưa ra định nghĩa chung như sau: Nghèo là tình
trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu
cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận
tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa
phương. Định nghĩa này hiện nay được nhiều quốc gia sử dụng trong
đó có Việt Nam
Như vậy nghèo khổ được định nghĩa trên nhiều khía cạnh khác
nhau. Việc đo lường được từng khía cạnh đó một cách nhất quán là
điều rất khó, còn gộp tất cả những khía cạnh đó vào một chỉ số nghèo
hay thước đo nghèo khổ duy nhất là điều không thể
1.2.2. Cách xác định giới hạn nghèo khổ
* Chuẩn nghèo quốc tế
- Ngân hàng Thế giới (WB) khuyến nghị áp dụng chuẩn nghèo 2
USD/người/ngày (sức mua tương đương) đối với các nước đang phát
triển. Trong tương lai sẽ tiến đến sử dụng một chuẩn nghèo thống nhất
để đánh giá tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam và có tính đến tiêu chí Quốc tế
để so sánh.
*. Chuẩn nghèo theo bộ lao động thương binh xã hội
Chuẩn nghèo theo quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ ngày 27/9/2001 trong đó phê duyệt “Chương trình mục tiêu
quốc gia Xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005” cụ thể như sau:
- Vùng nông thôn, miền núi, hải đảo là 80.000 đồng/người/tháng.
- Vùng nông thôn đồng bằng là 100.000 đồng/người/tháng.
- Vùng thành thị là 150.000 đồng/tháng.
Đến hết giai đoạn 2001-2005, do mức sống của nhân dân ngày
càng cao, cùng với chủ trương chung là từng bước tiếp cận các nước
đang phát triển trong khu vực về XĐGN. Do vậy, ngày 8/7/2005 Thủ

1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hộ nghèo
Nghèo khổ gồm các khía cạnh cơ bản sau:
- Trước tiên và trước hết là sự khốn cùng về vật chất đo lường một
tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng.
- Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn
về giáo dục và y tế.
- Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức khả năng một hộ
gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập và về sức
khoẻ.
- Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của người
nghèo.
Để phân biệt rõ hơn nữa quan niệm về đói nghèo, các nước đã
phân làm hai loại: “Nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”.
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả
năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống.
Nghèo tương đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức
sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương.
Theo đó sự thiếu thốn “của cải” trong mối quan hệ với nhu cầu thiết
yếu của con người được xem xét là nghèo khổ tuyệt đối. Còn khi xem
xét thực trạng mức sống và vị trí (về kinh tế và xã hội) các nhóm hoặc
các cá nhân khác ở phương diện mức độ tiêu thụ và thu nhập của họ
(quan hệ so sánh bằng phương pháp phân tích so sánh) ta sẽ hình
dung được nghèo khổ tương đối. Từ cách hiểu chung này cần thấy sự
khác biệt về mức độ nghèo khổ có tính chất địa phương và khu vực
(trong vùng trong một quốc gia, giữa quốc gia này với quốc gia khác,
giữa các quốc gia trong khu vực này với quốc gia thuộc khu vực
khác…).
Tóm lại, khi xem xét tình trạng hoặc mức độ đói nghèo chúng ta cần
chú ý mấy điểm:
Một là, xem xét hiện tượng đói nghèo trước hết phải xem xét ở lĩnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status