PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, việc điều tra và nghiên cứu kiến thức bản
địa đã được nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm chú ý trong nhiều lĩnh vực tự
nhiên, kinh tế, xã hội, văn hoá, y tế…
Kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa hoặc
của một cộng đồng hay một khu vực cụ thể nào đó, tồn tại và phát triển
trong những điều kiện nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong
cộng đồng ở một vùng địa lý xác định. Kiến thức bản địa bao hàm rất nhiều
lĩnh vực như kiến thức tận dụng dược liệu trong thiên nhiên, về dinh dưỡng
và sức khoẻ con người, sản xuất nông lâm nghiệp, quản lí tài nguyên và
quản lí cộng đồng, sự thích nghi với sự thay đổi của môi trường và xã hội.
Phần lớn kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện môi
trường rất đa dạng của địa phương vùng cao, gắn liền với nền văn hoá riêng
của từng dân tộc (Hoàng Xuân Tý, 1998) [11].
Vườn Quốc gia Ba Vì là một trong những nơi có đa dạng sinh học cao
ở Việt nam (thiennhien.net) [13]. Trên địa bàn có các dân tộc khác nhau
sinh sống, chủ yếu là dựa vào nông, lâm nghiệp. Nét đặc thù của cộng đồng
các dân tộc ít người ở miền núi là sống gần rừng và dựa vào rừng, vì vậy họ
có một hệ thống kiến thức và kinh nghiệm về đa dạng sinh học rừng. Kiến
thức bản địa có vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất nông nghiệp,
đặc biệt, người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa có kiến thức bản địa rất
phong phú. Kiến thức này là nguồn lực quý giá cho sự phát triển của cộng
đồng cũng như sự phát triển của xã hội, góp phần duy trì và bảo tồn giá trị
đa dạng sinh học cho từng địa phương.
Việc nâng cao kiến thức và nhận thức của người dân trong quản lí và
bảo vệ sự đa dạng sinh học là hết sức cần thiết và thường xuyên. Trong đó,
1
giai đoạn chủ yếu tập trung vào việc khôi phục nền kinh tế thế giới sau
cuộc chiến, tiếp theo sau giai đoạn này là sự tăng trưởng đồng đều trên mọi
lĩnh vực của cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Chủ nghĩa tư
bản phát triển tới giai đoạn này được coi như là một đại chủ nghĩa, siêu lý
thuyết, phủ bóng lên toàn thế giới, các nhà tư bản được trang bị hệ thống
khoa học và kiến thức của phương tây, họ mở rộng công cuộc truyền bá và
ứng dụng tri thức khoa học. Trong công cuộc này họ coi các nguồn tri thức
địa phương như là những trở ngại cần phải vượt qua, để có thể đạt tới mục
tiêu của phát triển. Các nhà làm công tác phát triển coi truyền thống và các
kinh nghiệm truyền thống của các dân tộc người trên thế giới như một điều
gì đó yếu kém, lạc hậu, cần được huỷ bỏ hơn là động viên sử dụng chúng.
Những kinh nghiệm, hiểu biết của các dân tộc bản địa bị bỏ qua, hoặc bị
đánh giá là không mang tính khoa học (phi khoa học), lạc hậu và không
đáng được xem xét (Osseweijer, Mannon, 2003) [17].
Bắt đầu những năm 60 - 70 của thế kỷ 20, vai trò của các tri thức bản
địa được xem xét lại. Mối quan tâm, thiện cảm dành cho tri thức bản địa
càng nhiều lên nhờ một số nhân tố sau:
Thứ nhất là chính sách phát triển bị thất bại. Các chuyên gia phát
triển dần dần nhận ra rằng: các tộc người bản địa cùng với các sinh hoạt
văn hoá, xã hội kinh tế của mình đã và đang sống cuộc sống hài hoà với
môi trường xung quanh. Trong khi đó, sự đổ vỡ của các tri thức khoa học
phương tây, các dự án hiện đại hoá mang tính công nghệ cao lại không đem
đến những kết cục đáng mong đợi, xa rời thực tiễn của các địa phương và
không có khả năng giải quyết nhiều vấn đề đặt ra trong cuộc sống hằng
ngày mà người dân bản địa có thể làm.
Thứ hai là khái niệm phát triển bền vững được hình thành. Phát triển
bền vững được thay thế hoàn toàn cho phát triển truyền thống (phát triển
kinh tế bằng mọi giá không quan tâm tới môi trường). Nó nhấn mạnh đến
thức để thu hoạch Hải Sâm được hiệu quả nhất.
4
Về mặt lịch sử, khái niệm kiến thức bản địa được nhắc tới nhiều do
sự ảnh hưởng của khoa học tự nhiên và các chương trình phát triển kinh tế
xã hội. Xuất phát từ kinh nghiệm trong việc trồng trọt và chăn nuôi ở
những vùng có thổ nhưỡng và nguồn gốc xuất xứ khác nhau của những cây
trồng, vật nuôi, các nhà khoa học đã để ý đến kinh nghiệm của người dân
bản địa trong việc xử lí những vấn đề khó khăn trong quá trình thích nghi.
Vốn trải qua quá trình thích nghi từ rất lâu đời, người dân ở từng địa
phương đã tích luỹ được những kinh nghiệm nhất định đối với cuộc sống
xung quanh họ. Người dân hiểu rõ mối quan hệ giữa vật nuôi, cây trồng của
họ với các điều kiện tự nhiên. Khi các nhà khoa học biết cách phối hợp
những kiến thức bản địa này với những kiến thức và phương pháp khoa học
hiện đại, họ có thể giúp cây trồng và vật nuôi thích nghi tốt hơn với điều
kiện địa phương. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 124 nước hoạt động
trong lĩnh vực nghiên cứu kiến thức bản địa nhằm tăng tính hiệu quả trong
phát triển nông thôn và quản lí bền vững tài nguyên thiên nhiên. Đặc biệt,
nhiều nước chú trọng khai thác dạng tài nguyên thiên nhiên này cho các
mục đích thương mại có giá trị cao, ví dụ trong các lĩnh vực dược học và
mỹ phẩm. Ngoài ra, ở nhiều nơi ở các nước đang phát triển và phát triển,
kiến thức bản địa đang được nghiên cứu hỗ trợ cho các nghiên cứu khoa
học, làm tăng nguồn cơ sở tư liệu về môi trường, được sử dụng để đánh giá
tác động của quy trình phát triển, được sử dụng như một công cụ lựa chọn
để quyết định. Vì vậy, việc phát triển nghiên cứu kiến thức bản địa góp
phần thu thập, lưu trữ, nâng cao sự hiểu biết các tiến trình phát triển, ứng
dụng và điều chỉnh kỹ thuật của các cộng đồng cư dân địa phương. Các tổ
chức quốc tế cũng đóng góp vai trò quan trọng trong việc khuyến khích các
Nghiên cứu về kiến thức bản địa hay cụ thể hơn là kiến thức bản địa
về môi trường là một ngành nghiên cứu còn rất mới ở Việt Nam. Việt Nam
vẫn đang được coi là một nước đang phát triển với phần lớn đại bộ phận
dân cư sống tại các vùng nông thôn, miền núi cần được nâng cao chất
lượng cuộc sống.Việt Nam là một nước có 54 dân tộc đồng nghĩa với việc
có từng ấy kho tàng kiến thức bản địa cần được nghiên cứu. Một loạt các
6
chính sách phát triển của chính phủ Việt Nam và các quốc gia trên thế giới
vẫn đang gặp khó khăn trong việc truyền đạt tới mục tiêu phát triển ổn định
và cân bằng tiến tới bền vững, do đó kiến thức bản địa cần được tìm hiểu
nhằm hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu phong tục, tập quán, kiến thức bản địa của người dân
xã Khánh Thượng liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia
Ba Vì nhằm thấy được vai trò của kiến thức bản địa trong công tác bảo tồn
đa dạng sinh học.
- Đề xuất các biện pháp phù hợp để bảo tồn và phát triển hệ thống
kiến thức bản địa hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Người dân tại xã Khánh Thượng, Ba Vì, Hà Nội trong việc quản lí
bảo vệ rừng.
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tại xã Khánh Thượng, Ba Vì,
thành phố Hà Nội.
- Đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Ba Vì.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn dân cư tại xã Khánh Thượng, Ba Vì, Hà Nội.
knowledge), kiến thức truyền thống (traditionnal knowledge), hay kiến thức
bản địa (indigenous technique knowledge), (Viện Kinh tế Sinh thái, 2000)
[12]. Mặc dù tên gọi khác nhau nhưng các thuật ngữ trên gần như đồng
nhất. Dưới đây là một số tính chất được thừa nhận tạm thời về kiến thức
bản địa theo Roy Ellen và Holy Harris trong phần giới thiệu của cuốn sách
“Kiến thức bản địa về môi trường và các biến đổi” đưa ra như sau:
+Kiến thức bản địa mang tính địa phương, bắt đầu từ một địa điểm
cụ thể, là một tập hợp của các kinh nghiệm có được từ những con người
sống tại địa điểm đó. Việc di chuyển các kiến thức này sang một địa điểm
khác có thể làm biến đổi kiến thức bản địa.
8
+Kiến thức bản địa là những tri thức được truyền miệng, hoặc được
chuyển giao qua hình thức mô phỏng, hoặc mô tả. Ghi chép lại những kiến
thức này bằng văn bản có thể làm thay đổi các đặc tính đặc trưng của
chúng.
+Kiến thức bản địa là hệ quả của các gắn kết thực tế trong cuộc sống
hằng ngày và liên tục được củng cố bằng các lần thử nghiệm, các lần mắc
lỗi.
+Kiến thức bản địa có xu hướng là loại kiến thức mang tính thực tiễn
hơn là mang tính lý thuyết. Ở mức nào đó, thì tính truyền miệng phi văn
bản, cũng như sự gắn kết của nó trong các hoạt động thực tiễn hàng ngày
và những hồi ức chứa đựng nó gây trở ngại cho những kiểu tổ chức cần
thiết cho sự phát triển của loại lý thuyết suông.
+Kiến thức bản địa được chia sẻ nhiều hơn so với kiến thức khác,
bao gồm cả kiến thức khoa học (Ellen. R and Harris. H, 2003) [15].
+Kiến thức bản địa có thể tập trung vào cá nhân và có thể gắn kết với
các nghi lễ hoặc các cấu trúc biểu tượng khác nhau nhưng sự phân bố của
thông tin định hướng và dùng để kiểm tra chéo thông tin…
Các nguồn cung cấp tài liệu:
- Chính quyền địa phương: Uỷ ban Nhân dân xã Khánh Thượng
- Các cơ quan chuyên môn liên quan: Các phòng ban thuộc Uỷ ban
Nhân dân xã Khánh Thượng
- Các tổ chức, dự án, chương trình đã có các hoạt động tại địa phương.
- Các tài liệu xuất bản liên quan đến địa phương.
Phương pháp thu thập tài liệu:
- Liệt kê các số liệu thông tin cần thiết có thể thu thập, hệ thống hoá
theo nội dung hay địa điểm thu thập và dự kiến địa điểm cơ quan cung cấp
thông tin.
- Liên hệ với các cơ quan cung cấp thông tin.
- Tiến hành thu thập bằng ghi chép, sao chụp.
10
- Kiểm tra tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp.
- Phân tích các tài liệu thu thập được, tập hợp thông tin liên quan tới
kiến thức bản địa vườn quốc gia Ba Vì.
5.2. Tạo lập mối quan hệ với người dân địa phương
- Gặp lãnh đạo thôn và các nhà chức trách địa phương khi bắt đầu
công việc tại địa phương để giải toả mọi nghi ngờ.
- Giải thích lí do đến thôn bản và công việc sẽ làm cùng dân.
- Tự biểu hiện sự chân thành của mình với người dân.
- Lựa chọn thời gian và địa điểm mà người dân làm việc thuận tiện.
5.3. Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán định hướng
- Thảo luận, trao đổi với các cơ quan và tổ chức có liên quan.
- Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, phỏng vấn bán định hướng
kết hợp với khảo sát hiện trường. Phỏng vấn bán định hướng hay còn gọi là
dân về đời sống và điều kiện nông thôn. Như vậy, PRA cho phép cán bộ
phát triển nông thôn học hỏi từ người dân và cùng người dân, là người thúc
đẩy để giúp người dân địa phương tự phân tích, lập kế hoạch và thực hiện.
5.4. Họp dân
Họp dân thể hiện sự tham gia đóng góp đầy đủ nhất của người dân
trong quá trình thực hiện, nhằm kiểm tra lại thông tin, bổ sung và thống
nhất chương trình hành động và cam kết thực hiện. Trong một đợt PRA
phải tổ chức nhiều cuộc họp dân. Để tổ chức cuộc họp dân thành công cần
thực hiện các bước sau:
-
Chuẩn bị:
+ Xác định mục tiêu họp dân.
+ Chuẩn bị nội dung.
+ Chuẩn bị địa điểm và ánh sáng.
+ Thông báo rõ về thời gian họp cho mọi người.
- Tiến hành cuộc họp:
+ Giới thiệu, nêu mục đích cuộc họp, giới hạn nội dung thảo luận.
12
+ Đại diện cộng tác viên thôn trình bày và điều hành thảo luận theo
từng nội dung.
+ Tạo điều kiện cho người dân thảo luận, đóng góp, bổ sung ý kiến.
+ Tổng hợp các ý kiến, thống nhất các kết luận và chốt lại các vấn đề
trước dân.
+ Kết thúc cuộc họp.
Trước khi tiến hành điều tra, phỏng vấn và thảo luận nhóm tại các
loại để từ đó xác định những vấn đề cần đánh giá.
5.6. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý thống kê trên máy vi tính theo chương trình Excel
7.0.
- Dựa trên các tài liệu, số liệu đã thu thập, tiến hành tổng hợp, lựa chọn
và phân tích các số liệu, dữ liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu
của đề tài.
- Các thông tin, số liệu sau khi được thu thập, điều tra sẽ được xử lý bằng
phương pháp thống kê sinh hoc, phần mềm Excel 7.0.
14
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
1.1. Vị trí địa lí và địa hình
Vườn Quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 5 huyện: Ba Vì, Thạch Thất,
Quốc Oai thành phố Hà Nội, huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn tỉnh Hoà Bình,
cách trung tâm Hà nội 60km theo đường quốc lộ 21A, 87.
Ba vì là một vùng núi trung bình và núi thấp có toạ độ địa lí: từ
20055’ – 21007’ vĩ độ Bắc. Từ 105018’ – 105030’ kinh độ Đông. Vùng núi
tiếp giáp với vùng bán sơn địa, vùng này trông như một dải núi nổi lên giữa
đồng bằng chỉ cách hợp lưu sông Đà và sông Hồng 20 km về phía Nam.
Trong Vườn Quốc gia Ba Vì có một số đỉnh núi có độ cao trên 1000
m như đỉnh Vua (1296 m), đỉnh Tản Viên (1227 m), đỉnh Ngọc Hoa (1131
m), đỉnh Viên Nam (1081 m) và một số đỉnh thấp hơn như đỉnh Hang Hùm
776 m, đỉnh Gia Dê 714 m. Dãy núi Ba Vì có 2 dải dông chính. Dải dông
thứ nhất chạy theo hướng Đông-Tây từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản
Viên và Đỉnh Hang Hùm dài 9 km. Dải dông thứ 2 chạy theo hướng TâyBắc-Đông-Nam từ Yên Sơn qua đỉnh Tản Viên đến núi Quýt dài 11 km,
Thứ qua Khánh Chúc, phố Chẹ, Bát Còn đến xóm Bóp dài trên 10km.
Chiều rộng nhất từ xóm Ninh ra bờ sông Đà khoảng 4 km.
Địa bàn xã gồm 2 vùng đất chính được phân ra một cách rõ rệt, đó là
vùng đồi gò thấp ven chân núi, ruộng bậc thang ven suối và vùng đồng
ruộng được bồi đắp phù sa hàng năm ven sông Đà. Đất đai tuy rộng nhưng
chủ yếu là đất đồi gò. Ruộng canh tác toàn xã có 647 mẫu. Từ xưa, vùng
đất Khánh Thượng là những khu rừng nguyên sinh. Cho đến năm 1950,
rừng tự nhiên trong xã còn bao phủ trên một diện tích lớn, nối liền từ sông
Đà tới chân núi Ba Vì. Nằm trên địa bàn một huyện có vị trí cầu nối giữa
hai vùng đồng bằng và miền rừng núi, địa bàn xã Khánh Thượng có hệ
thống giao thông đường thuỷ từ Sông Đà lên Hoà Bình, Tây Bắc xuôi
Trung Hà về Hà Nội. Trong xã có đường tỉnh lộ 89A chạy dọc từ phía bắc
đến phía nam xã. Cùng với hệ thống đường thuỷ, dọc theo sông Đà trong
xã còn có đường 89B. Nằm ở vị trí địa lí này, Khánh Thượng là xã có nhiều
lợi thế, đặc biệt về mặt quân sự, tiến có thể đánh, rút lại an toàn rất thuận
lợi cho những hoạt động quân sự (Đinh Xuân Lộc, 2004) [6].
1.2. Khí hậu, thuỷ văn
Đặc điểm chung của Ba Vì bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ
chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới
ẩm với mùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là
23,4oC. Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống 2,70C. Nhiệt độ tối cao lên
đến 420C. Ở độ cao 400 m nhiệt độ trung bình năm 20,6 0C. Lượng mưa
trung bình năm 2500 mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều
vào tháng 7, tháng 8. Độ ẩm không khí 86,1%. Vùng thấp thường khô hanh
vào tháng 12, tháng 1. Từ độ cao 400 m trở lên không có mùa khô. Mùa
Đông có gió Bắc với tần suất lớn hơn 40%. Mùa Hè có gió Đông Nam với
tần suất 25% và hướng Tây Nam. Với đặc điểm này, đây là nơi nghỉ mát lí
tưởng và khu du lịch giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác.
Nét riêng của vùng cao Ba Vì là tuy cùng nằm trong vùng có hệ thực
vật bản địa của Việt Nam – Nam Trung Hoa như một số nơi khác nhưng
18
ảnh hưởng của độ cao, số loài thuộc các họ phân bố chủ yếu ở á nhiệt đới
và ôn đới nhiều hơn. Đáng chú ý là ở đây là đã có tới 5 chi 5 loài thuộc họ
Đỗ quyên (Ericaceae), 6 loài thuộc họ chè (Theacae), 3 chi 19 loài thuộc họ
Dẻ (Fagaceae) nhiều hơn số chi cùng họ ở vườn Quốc gia Cúc Phương
(Nơi có diện tích lớn gấp 10 lần). Ngược lại số chi có loài thuộc các họ
phân bố chủ yếu ở nhiệt đới như họ Dầu (Dipterocarpaceae) lại tồn tại
tương đối ít ở vùng cao Ba Vì. Nhiều loài phân bố chủ yếu ở đây như: Giổi
nhung (Michelia faveolata), Giổi lá bạc (Michelia sp.), các loài họ Đỗ
Quyên (Ericaceae), Chè thơm (Annesla fragrans), Hoa Tiên (Asarum
maximum)… chỉ gặp ớ các vùng cao Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sapa (Lào
Cai), Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), Sốpcộp (Sơn La), Hoàng Su Phì (Hà
Giang), trong khi các loài phổ biến trong các kiểu rừng kín ẩm nhiệt đới
như: Chò xanh thuộc họ Bàng (Combretaceae), Chò chỉ, Chò nâu, Táu ruối,
Táu nước, thuộc họ Dầu (Dipterocapaceae) lại không tồn tại, mặc dù có thể
gặp chúng ở đai thấp 600 m trở xuống: Những đặc điểm trên đã phản ánh
rõ nét rừng đai cao Ba Vì gồm nhiều thực vật thuộc đai á nhiệt đới núi thấp.
Tham gia vào thành phần thực vật ở đây còn có một loài thực vật tàn
di (Hoá thạch sống) của kỷ Đệ Tam, qua thời kỳ băng hà còn sót lại như:
các loài Quyết thân gỗ: Cibotium barometz (L).J.Sm.; Gymnosphaera
gigantea (Wall. ex Hook.) và các loài thực vật hạt trần Calocedrus
macrolepis, podocarpus nerifolius D.Don, Amentotaxus… làm tăng thêm
tính đa dạng và phong phú của hệ thực vật.
Bảng 1.1. Danh mục cây gỗ quý hiếm:
STT
10
11
12
13
14
15
16
17
18
Phỉ ba mũi
Dẻ tùng sọc trắng:
Vàng tâm
C. mannii Hook.f.
A. oliver sp.
Magnolia
fistulosa
Trầm
Lát hoa
Re hương
Vù hương
Mắc liễng
Lim xanh
Đinh thối
Táu mặt quỷ
Thiết đinh
Gagnep.)Dandy
Thực vật cây thuốc:
Thực vật thuốc vườn quốc gia Ba Vì có tới 503 loài thuộc 118 họ,
321 chi chữa 33 loại bệnh và chứng bệnh khác nhau trong đó có nhiều loài
20
thuốc quý như: Hoa tiên, Huyết đằng, Bát giác liên, Râu hùm…
(thiennhien.net) [13].
Đặc điểm các kiểu thảm thực vật rừng:
Thảm thực vật ở khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì gồm 3 kiểu chính:
- Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp. Đây là
một quần thể nguyên sinh bị tác động nhẹ nhưng do được bảo vệ trong thời
gian lâu dài, rừng đã trải qua diễn thế hồi nguyên, nên đến nay hình thái và
cấu trúc vẫn mang sắc thái một quần thể nguyên sinh. Kiểu thảm thực vật
này phân bố chủ yếu trên các hệ thống dông mái núi của các dãy núi sau:
Ngọc Hoa, Tản Viên, Đỉnh Vua. Đỉnh Vua - đỉnh 1200 m – 1189 m – 1060
m và 969 m (hệ thống dông phía Tây của đỉnh Vua). Ngọc Hoa - đỉnh
1021 m và 765 m (dải dông phía Tây và Đông Bắc Ngọc Hoa). Từ 700 m
trở lên thuộc núi Viên Nam, Vua Bà.
Hình thái cấu trúc: Loài ưu thế sinh thái là các loài cây thuộc khu hệ
thực vật đệ tam đặc hữu bản địa Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam. Những
họ tiêu biểu gồm: họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Trúc đào
(Apocynaceae). Rừng có kiểu có cấu trúc đơn giản là chỉ có 2 tầng không có
tầng vượt tán, quần thể gồm những cá thể tương đối tròn trịa, rất hiếm thấy
cây có bạnh vè kể cả những cây có tầm vóc to lớn như Giổi (Michelia sp.),
Sến (Madhuca pasquyeri). Tầng ưu thế sinh thái đồng thời cũng là tầng cây
cao nhất. Cả 2 tầng rừng gồm những loài với tỷ lệ cá thể như sau: Dẻ, Sồi
chiếm 14%, Re, Bời lời Ba Vì chiếm 7%, Cồng Sữa chiếm 6 %, Nóng chiếm
6%, Trâm chiếm 6% ở đai rừng á nhiệt đới còn có 2 kiểu phụ chính sau đây:
(Bambusaceae)
chủ
yếu
là
Giang
(Dendrocalamus). Kiểu thảm rừng này phân bố ở các sườn núi, dưới các
kiểu rừng nguyên sinh, nơi có địa hình khá dốc 40-450, trên đất Feralit
vàng nhạt trên núi trung bình, tầng đất mỏng phát triển trên đá pocphirit,
tầng mùn dày 15-20cm, đất chua pH=4-4,5. Tỷ lệ cá thể những loài cây
ưu thế cũng không rõ ràng, chủ yếu gồm các loài thuộc họ sau: Trâm
(Myrtaceae) chiếm 5%, Bời lời Ba Vì, Bời lời lá tròn thuộc họ Lauraceae
chiếm 5%, Sồi thuộc họ Fagaceae chiếm 4%....
- Kiểu rừng kín thường xanh hỗn hợp cây lá rộng, cây lá kim á
nhiệt đới núi thấp.
Đây là kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ bản địa Nam
Trung Bắc Việt Nam và khu hệ di cư Hymalaya-Vân nam-Quý châu. Từ độ
cao 900 m trở lên đã thấy lác đác có những cá thể loài cây Bách xanh
(Calocedrus macrolepis) trong ngành phụ Hạt trần (Gymnospermae) xuất
hiện ngày càng tăng, và cuối cùng Bách xanh trở thành một trong những
loài ưu thế của ưu hợp Bách xanh, Dẻ, Re, Giổi, Mỡ. Kiểu rừng này đều
22
(Anacardiaceae), họ Trám (Burceraceae), họ Bồ hòn (Sabindaceae), họ Sến
(Sapindaceae). Nhưng trải qua quá trình chặt chọn những cây gỗ tốt làm vật
liệu xây dựng của người dân địa phương và chặt phá làm nương rẫy bởi thế
đai rừng nhiệt đới này đã bị mất hoàn toàn quần thể thành thục mà chỉ còn
những kiểu phụ nhân tác sau đây:
- Rừng thưa nhiệt đới: Kiểu thảm thực vật này phân bố đều khắp ở
vành đai độ cao 400 m-700 m xung quanh sườn núi Ba Vì, rừng phát triển
trên loại đất Feralit vàng đỏ có mùn trên núi thấp, tầng đất mỏng có nơi
tầng đất trung bình phát triển trên đá Pocphirit độ dốc cao bình quân 26350, tầng mùn mỏng xói mòn mạnh tỷ lệ đá lẫn cao độ chua lớn. Mặc dù
được bảo vệ trong thời gian dài, song đến nay kiểu thảm này vẫn chỉ là một
kiểu rừng thưa, tầng tán đã bị phá vỡ, mất hẳn tính liên tục vốn có của nó,
23
khái niệm về tầng của rừng gỗ chỉ được biểu hiện ở những đám, những vạt
lâm phần gỗ mọc tập trung. Dưới tán cây gỗ có những loài dây leo thân gỗ,
cây phụ sinh thắt nghẹn khá nhiều thuộc nhiều thuộc nhiều họ khác nhau,
những cây dương xỉ phụ sinh, những loài phong lan phụ sinh, những cây họ
Môn, họ Ráy bán phụ sinh, nhiều loài khác nhau thường mọc dầy trên cành
nhánh, trên thân già những cây cổ thụ, những loài trong các chi của họ Dừa
(palmaae) mọc dưới tán rừng. Ngoài ra, dưới tán rừng còn có những loài cây
thuộc họ phụ Tre nứa (Bambusaceae) mọc thành bụi hay đám hạn chế sự tái
sinh của các loài cây gỗ. Do điều kiện khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho điều
kiện sinh trưởng phát triển của nhiều loài, nhiều họ nên tổ thành cây gỗ ở kiểu
thảm rừng này rất phức tạp không thể hiện rõ tính chất ưu thế như vành đai á
nhiệt đới, tỷ lệ % cá thể từ lớn đến nhỏ có các loài trong các họ sau: Trâm
(Syzygium sp.) chiếm 7,1%, Đa (Ficus sp.) chiếm 5,3%, Cà lồ Ba Vì
(Caryodaphnopsis baviensis) chiếm 5%, nóng (Sauraulia trystyla) chiếm 4%,
Theo những tài liệu nghiên cứu gần đây thì Khánh Thượng là một xã
miền núi thuộc vùng đất cổ Văn Lang, thời các vua Hùng dựng nước, cả
một vùng thung lũng đồng bằng từ Ba Vì sang Tam Đảo, nơi hợp lưu của
những con sông lớn nhất đồng bằng Bắc bộ là vùng đất đai trồng trọt tốt
nhất, địa thế lại thuận lợi nên dân cư tập trung đông đúc.
Cuộc khảo sát được tiến hành trên các thôn của xã Khánh Thượng
bao gồm: thôn Bưởi, thôn Bắt Còn Chèm, thôn Gò, thôn Mít, thôn Khánh
Chúc Bãi, thôn Khánh Chúc Đồi, thôn Hương Canh, thôn Sơn Hà.
Dân cư ở đây chủ yếu là dân tộc thiểu số, thuộc địa hình miền núi,
canh tác nương rẫy và trồng cây nông lâm nghiệp.
Bảng 1.2. Số liệu về diện tích đất xã Khánh Thượng
Loại đất
Tổng diện tích tự nhiên
Diện tích (ha)
3,492,0 ha
*Diện tích đất nông nghiệp
699,5 ha
*Diện tích đất lâm nghiệp
1,173,0 ha
*Diện tích đất chuyên dùng
97,7 ha
*Diện tích đất ở