LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP vừa và NHỎ ở TỈNH THANH hóa HIỆN NAY - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp và xây dựng
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đăng kí kinh doanh
Kế hoạch và Đầu tư
Kinh tế - Xã hội
Khu vực công nghiệp
Khoa học và Công nghệ
Ngân sách nhà nước
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất kinh doanh
Uỷ ban nhân dân

Chữ viết tắt
CN-XD
DNNN
DNVVN
ĐKKD
KH - ĐT
KT - XH
KVCN
KH - CN
NSNN
NLTS
SXKD
UBND

MỤC LỤC


2.1.

Đặc thù điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa

2.2.

có ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra

32
32

cần giải quyết về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
tỉnh Thanh Hóa
Chương 3

35

QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Ở TỈNH THANH HÓA THỜI GIAN TỚI

60

3.1.

Quan điểm cơ bản nhằm phát triển doanh nghiệp vừa và
60


trọng của các DNVVN. Vì vậy, phát triển doanh nghiệp nói chung, đặc biệt là
DNVVN là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước cũng như
chính quyền địa phương các cấp trong giai đoạn hiện nay.
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, những năm qua, các DNVVN đã có sự
phát triển về số lượng, quy mô; phát triển về chất lượng và cơ cấu. Các doanh
nghiệp này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Tỉnh. Điều
đó được minh chứng qua sự đóng góp vào tăng trưởng GDP của Tỉnh ngày
một cao. Hàng năm, các doanh nghiệp này đã thu hút và giải quyết việc làm
cho hàng vạn lao động, góp phần ổn định trị an xã hội, cải thiện và đa dạng
hóa các nguồn thu nhập cho dân cư. Như vậy, phát triển DNVVN ở tỉnh
Thanh Hóa không những đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của
Tỉnh mà còn tạo ra sự ổn định về mặt xã hội thông qua việc tạo việc làm cho
người lao động, giảm khoảng cách giàu nghèo và các tệ nạn xã hội.
Tuy nhiên, quá trình phát triển DNVVN ở tỉnh Thanh Hoá thời gian
qua đang còn tồn tại những hạn chế như: Qui mô doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ
và cực nhỏ, công nghệ lạc hậu, cơ cấu chưa hợp lý, liên kết hợp tác còn lỏng
lẻo, hiệu quả kinh tế - xã hội chưa cao... Điều đó nói lên bản thân DNVVN còn

3


nhiều hạn chế và khó khăn. Mặt khác, tỉnh Thanh Hoá chưa có nhiều biện pháp
thực sự phù hợp để hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển; một số cơ chế,
chính sách, giải pháp đã đề ra, song triển khai thực hiện chưa đạt hiệu quả
cao, chưa tương xứng với những tiềm năng và thế mạnh của Tỉnh. Vì vậy,
thời gian tới cần phải nghiên cứu thấu đáo cả về mặt lý luận và thực tiễn để
có những chủ trương, cơ chế, chính sách đúng, thật sự hợp lý để phát triển
DNVVN, từ đó tạo động lực thúc đẩy KT - XH ở tỉnh Thanh Hóa phát triển
nhanh và vững chắc.
Nhận thức được điều đó, tác giả đã tâm đắc lựa chọn đề tài “Phát triển

làm và nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội... đồng thời, tác giả đã đưa ra quan
điểm và các nhóm giải pháp nhằm phát huy vai trò của DNVVN đối với xây
dựng lực lượng dự bị động viên trên địa bàn Tỉnh.
Nguyễn Xuân Qúy (2007), Tác động của phát triển DNVVN đến xây
dựng khu vực phòng thủ tỉnh Bắc Ninh hiện nay, Luận văn thạc sĩ Kinh tế
Chính tri, Học viện Chính trị, Hà Nội. Trong đó, tác giả tập trung bàn đến vấn
đề phát triển DNVVN ở tỉnh Bắc Ninh và tác động của phát triển DNVVN
trên địa bàn Tỉnh đến xây dựng khu vực phòng thủ Tỉnh trong thời gian tái lập
Tỉnh từ năm 1997 đến nay. Theo tác giả, trong thời gian qua ở Bắc Ninh, sự
phát triển của các DNVVN đã góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế và
ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng niềm tin của nhân dân vào
đảng, chính quyền, vào chủ nghĩa xã hội; tăng cường về mọi mặt cho xây
dựng khu vực phòng thủ Tỉnh vững chắc. Tuy nhiên, phát triển DNVVN trên
địa bàn Tỉnh trong điều kiện kinh tế thị trường với những yếu kém về quản lý
và cơ chế, chính sách chưa phù hợp đã có tác động tiêu cực đến việc huy động
kinh tế, lực lượng; khó khăn trong quản lý an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội của khu vực phòng thủ Tỉnh. Tác giả đã đưa ra hệ thống nhóm giải pháp
góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển DNVVN với tăng cường, củng cố sức
mạnh cho khu vực phòng thủ Tỉnh.
Trần Sửu (2006), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều
kiện toàn cầu hóa, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội. Tác giả đã phân tích, đề
cập đến cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến

5


năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, chỉ rõ các nhân tố cấu thành và tiêu chí
đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đánh giá thực
trạng năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp Việt Nam, tác giả đã đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

doanh nghiệp; nghiên cứu các nhân tố tác động đến quá trình tăng trưởng và
phát triển của doanh nghiệp; nghiên cứu các vấn đề vận dụng khoa học quản
trị công ty, tạo lập quan hệ lao động lành mạnh trong doanh nghiệp, tác giả đã
bàn sâu và đưa ra giải pháp về vấn đề quản lý nhà nước đối với DNVVN ở
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Phạm Quang Trung (2008), Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 129 (2008).
Tác giả phân tích và luận giải những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trên địa bàn như: Vấn đề khó khăn về vốn và sự
hạn chế trong tiếp cận các nguồn tài chính; nhiều doanh nghiệp trong nhận
thức chưa rõ ràng, còn mơ hồ về xây dựng và phát triển thương hiệu, chưa có
chiến lược Marketing để chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước; đội ngũ
cán bộ và đội ngũ công nhân lành nghề trong nhiều doanh nghiệp còn thiếu và
yếu; trình độ máy móc, thiết bị, công nghệ rất lạc hậu nên đã ảnh hưởng
không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của DNVVN trên địa bàn như: Đa dạng
hóa các kênh tài chính; nâng cao vốn điều lệ của doanh nghiệp; phát triển
thương hiệu; xây dựng và phát triển hệ thống phân phối, thúc đẩy đầu tư phát
triển công nghệ.
Nguyễn Công Tạn (2003), Vị trí chiến lược của doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam, Tạp chí Kinh tế
và Phát triển số 67 (01/2003). Tác giả đã đề cập đến những điều kiện cần và
đủ cho sự ra đời của DNVVN. Trên cơ sở những lợi thế như tính năng động
và khả năng thích ứng tốt; tinh thần tự lực, tự cường cao, không dựa dẫm, ỷ
lại vào Nhà nước nên các DNVVN ở nước ta đã có nhiều đóng góp quan
trọng như việc thu hút đáng kể nguồn vốn trong xã hội, thúc đẩy quá trình
tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn, nâng cao thu
nhập cho lao động nông thôn. Mặt khác, tác giả đã chỉ ra những yếu kém, khó
khăn của các DNVVN đòi hỏi phải có sự quan tâm, giúp đỡ của Nhà nước

7

triển DNVVN ở tỉnh Thanh Hóa thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về phát triển DNVVN ở tỉnh Thanh Hóa.

8


- Đánh giá thực trạng phát triển DNVVN ở tỉnh Thanh Hóa thời gian qua,
xác định nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
- Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
DNVVN ở tỉnh Thanh Hóa thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các DNVVN đang hoạt động sản
xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
* Phạm vi nghiên cứu
- Loại hình doanh nghiệp: Là toàn bộ các đơn vị kinh tế hạch toán độc lập,
có đầy đủ tư cách pháp nhân, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được thành lập theo quy định của pháp luật (Luật doanh nghiệp, Luật hợp
tác xã), đang tồn tại về mặt pháp lý tại thời điểm 31/12 hàng năm.
- Nội dung: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng hoạt động
của DNVVN thời gian qua.
- Thời gian: Nghiên cứu DNVVN ở tỉnh Thanh Hóa từ năm 2009 đến nay.
- Không gian: Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, bao gồm:

1.1.1. Khái niệm, tiêu chí xác định, đặc điểm và vai trò của doanh
nghiệp vừa và nhỏ
* Khái niệm doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Lược sử tính tất yếu khách quan của sự phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, DNVVN ra đời sớm
hơn doanh nghiệp lớn. Lịch sử của các DNVVN là các hộ gia đình sản xuất tự
cung tự cấp. DNVVN không chỉ là một phạm trù phản ánh độ lớn của doanh
nghiệp mà là một phạm trù bao hàm nội dung tổng hợp về kinh tế tổ chức sản
xuất, tổ chức quản lý, tiến bộ khoa học - công nghệ. DNVVN tồn tại và phát
triển là tất yếu khách quan phù hợp với yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Lịch sử ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hóa gắn với sự hình
thành và phát triển của các doanh nghiệp. Nền sản xuất hàng hóa xuất hiện
khi sự phân công lao động đạt đến một trình độ nhất định, cùng với chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất được xác lập.
Trong giai đoạn sản xuất hàng hóa giản đơn không có sự phân biệt giữa
giới chủ và giới thợ. Người sản xuất hàng hóa vừa là người chủ sở hữu tư liệu
sản xuất, là người lao động trực tiếp, vừa là người quản lý công việc của mình,
vừa là người trực tiếp mang sản phẩm của mình ra trao đổi thị trường. Đó là
loại doanh nghiệp cá thể, doanh nghiệp gia đình.
Các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng, thông thường đại đa số những
người khi mới trưởng thành đều muốn thử sức mình trong nghề kinh doanh.
Bắt đầu sự nghiệp với số vốn nhỏ. Trong quá trình kinh doanh, một số người

11


thành đạt đã phát triển doanh nghiệp của mình bằng cách mở rộng quy mô
SXKD và như vậy, nhu cầu về vốn đòi hỏi sẽ nhiều hơn. Từ đó, thôi thúc các

quy mô vừa và nhỏ chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
DNVVN có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô, đó là
doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Mỗi thời
kỳ, giai đoạn và ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định
DNVVN khác nhau.
Ở Việt Nam, ngày 30/6/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN. Nghị định đã đưa ra một
định nghĩa chung về DNVVN để các ban ngành, địa phương, các tổ chức
trong và ngoài nước có căn cứ xác định đối tượng thực hiện chính sách và
các biện pháp trợ giúp DNVVN phát triển. Theo đó, DNVVN là cơ sở kinh
doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba
cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình
quân năm [8].
* Tiêu chí xác định
Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, cụm từ
DNVVN được sử dụng một cách phổ biến. Đối với các nước phát triển, khái
niệm DNVVN được biết đến từ những năm đầu của thế kỷ XX, khu vực
DNVVN đã được quan tâm phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX. Ở
Việt Nam, khái niệm DNVVN được biết đến từ những năm 1990 đến nay,
nhưng còn nhiều quan điểm khác nhau về DNVVN. Theo tiêu chí của Ngân
hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động
dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50
người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DNVVN khác nhau.
Nhìn chung đều dựa vào hai tiêu chí chủ yếu là số lượng lao động và tổng vốn
đầu tư để xác định loại hình DNVVN, nhưng ở mỗi nước, mức độ định lượng
là rất khác nhau.

13



Tổng

Số lao

nguồn

động
(người)
I. Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
II. Công nghiệp và
xây dựng
III. Thương mại và
dịch vụ

vốn
(tỷ đồng)

DN vừa

Số lao

Tổng

động

nguồn vốn

(người)


Một là, các DNVVN có tính linh hoạt, năng động cao, dễ thích ứng với
các biến động của thị trường.
Do qui mô không lớn nên DNVVN rất năng động và dễ thích ứng với

15


những thay đổi nhanh chóng của thị trường. Khi phải thay đổi cơ cấu sản
xuất, cơ cấu lao động, DNVVN gặp ít khó khăn hơn so với các doanh nghiệp
lớn. Những máy móc, công nghệ cũ có thể dễ dàng bán đi để thay bằng dây
chuyền mới sản xuất sản phẩm mới, điều này đối với các doanh nghiệp lớn sẽ
khó thực hiện hơn nhiều, nó luôn đòi hỏi chi phí lớn, thời gian dài mới có thể
làm được. Trong một số trường hợp, DNVVN còn năng động thích ứng nhanh
với những biến động về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của nhà nước.
Trong thương mại, nhờ tính linh hoạt, dễ tham gia thị trường, cũng như dễ rút
lui khỏi thị trường khi điều kiện kinh doanh không thuận lợi, nên DNVVN dễ
tìm kiếm lợi nhuận từ những “ngách” của thị trường, đặc biệt là trong giai
đoạn chuyển đổi của nền kinh tế.
Hai là, dễ khởi nghiệp: Do vốn ít, lao động không đòi hỏi chuyên môn
cao; qui trình tổ chức quản lý trong các DNVVN gọn nhẹ, khi hoạt động kinh
doanh gặp khó khăn thì nội bộ doanh nghiệp dễ dàng bàn bạc, thống nhất
hành động. Hơn nữa với đặc tính chu kỳ sản phẩm ngắn nên các doanh nghiệp
có thể sử dụng vốn tự có hoặc vay mượn bạn bè, các tổ chức tín dụng. Vì vậy,
DNVVN dễ dàng khởi sự và hoạt động nhạy bén theo cơ chế thị trường. Thực
tế ở Việt Nam đã có rất nhiều DNVVN do khôi phục và phát triển các ngành
nghề truyền thống trong từng hộ gia đình, từng dòng họ, làng nghề của nông
thôn Việt Nam đã từng bước trưởng thành, lớn mạnh. Mặt khác, nếu chủ thể
nào đó có ý tưởng sản xuất kinh doanh cộng với một số ít vốn, một số lao
động nhất định và mặt bằng không lớn là có thể khởi sự được doanh nghiệp.
Ba là, DNVVN có một số lợi thế trong việc theo sát nhu cầu và thị hiếu

nghiệp, thương mại, dịch vụ. Từ công nghiệp thủ công truyền thống đến các
ngành công nghiệp kỹ thuật cao, tạo khả năng gia công, thầu phụ cho các
doanh nghiệp lớn. Sự phát triển có hiệu quả, nguồn vốn quay vòng nhanh trong
các DNVVN góp phần nâng cao tích luỹ tài sản trong nước.
Doanh nghiệp tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong
phú hơn, chất lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu,
góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng
xuất khẩu, đó cũng là nhân tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển. Vì

17


vậy, các doanh nghiệp này góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc
dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP ở mỗi
nước. Riêng ở Việt Nam, trong những năm qua, mỗi năm các DNVVN đóng
góp khoảng 25% GDP của cả nước [46, tr.16].
Hai là, gia tăng tính năng động của nền kinh tế
DNVVN là nhân tố tạo nên sự năng động của nền kinh tế trong cơ chế
thị trường. Do số lượng các DNVVN tăng lên rất nhanh, làm gia tăng số
lượng, chủng loại hàng hoá, dịch vụ và làm tăng tính cạnh tranh trong nền
kinh tế. Chính sự cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị trường,
mẫu mã sản phẩm, giá cả hàng hóa… đã thúc đẩy nền kinh tế ngày càng trở
nên năng động.
Với quy mô vừa và nhỏ, lại được thành lập phân tán ở hầu khắp các địa
phương, các khu vực, nên DNVVN có khả năng tận dụng các tiềm năng về
lao động, về nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương, sử dụng sản phẩm phụ
hoặc phế liệu, phế phẩm của doanh nghiệp lớn. Lợi thế của quy mô nhỏ là
năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh với nhiều hình thức, có nhiều
khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ, sự
kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, đáp ứng kịp thời những

tế. DNVVN không chỉ tạo việc làm trực tiếp cho số lao động làm việc thường
xuyên trong doanh nghiệp, mà còn tạo điều kiện để lao động ngoài doanh
nghiệp có việc làm thông qua các hoạt động cung ứng đầu vào, tiếp nhận đầu
ra và phục vụ sản xuất kinh doanh.
Xét trên góc độ giải quyết việc làm thì DNVVN luôn đóng vai trò quan
trọng hơn các doanh nghiệp lớn, đặc biệt trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Lịch
sử phát triển của các nước công nghiệp phát triển cũng như ở Việt Nam trong
thời kỳ đầu đổi mới đã cho thấy: Khi nền kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp
lớn phải giảm lao động để giảm chi phí đến mức có thể tồn tại được vì cầu
của thị trường thấp hơn cung, nhưng đối với DNVVN, do đặc tính linh hoạt,
uyển chuyển, dễ thích ứng với thay đổi của thị trường nên vẫn có thể hoạt
động được. Do đó, các DNVVN không những không giảm lao động mà còn

19


có thể thu hút thêm lao động. Chính vì vậy, Hội đồng doanh nghiệp nhỏ thế
giới đã cho rằng: “DNVVN là liều thuốc cuối cùng chữa trị bệnh thất nghiệp
khi nền kinh tế suy thoái”.
Năm là, đào tạo các doanh nhân cho nền kinh tế
Sự xuất hiện và khả năng phát triển doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều
vào những nhà sáng lập ra chúng. Với ưu thế của mình, DNVVN dễ và
thường xuyên phải thay đổi cơ cấu sản phẩm, thị trường, chiến lược kinh
doanh... để thích nghi với môi trường xung quanh; ứng xử linh hoạt với
những tác động do sự phát triển, xu hướng tích tụ và tập trung hoá sản xuất;
sự sáp nhập, giải thể và xuất hiện mới các doanh nghiệp thường xuyên diễn ra
trong mọi giai đoạn. Đó là sức ép lớn buộc chủ doanh nghiệp phải có tính linh
hoạt cao trong quản lý, điều hành, dám nghĩ, dám làm và chấp nhận sự mạo
hiểm. Sự có mặt của đội ngũ quản lý với khả năng, trình độ, nhận thức của họ
về tình hình thị trường và khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh sẽ tác động lớn

doanh nghiệp theo vùng lãnh thổ, thành phần kinh tế, ngành sản xuất kinh
doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Như vậy, quan niệm trên cho thấy, phát triển DNVVN nhằm đẩy
nhanh tốc độ phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, lành mạnh để các
DNVVN đóng góp ngày càng cao vào phát triển kinh tế, nâng cao năng
lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển DNVVN
chính là quá trình phát triển cả về số lượng, chất lượng doanh nghiệp; có
quy mô, cơ cấu hợp lý, trình độ công nghệ thích hợp với tiềm năng và lợi
thế từng vùng, từng địa phương; nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra những sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ, mang lại ngày càng nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp, tạo việc
làm, tăng thu nhập cho người lao động và đóng góp ngày càng cao vào sự
phát triển kinh tế - xã hội.
1.2. Quan niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Thanh Hóa
1.2.1. Quan niệm về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Thanh Hóa
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về DNVVN và phát triển

21


DNVVN, vận dụng vào điều kiện cụ thể phát triển DNVVN ở tỉnh Thanh
Hóa, tác giả quan niệm về phát triển DNVVN ở tỉnh Thanh Hóa như sau:
Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Thanh Hóa là hoạt động
tích cực, chủ động của cấp ủy, chính quyền địa phương, các ban ngành và
các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng tổng thể các giải pháp nhằm đẩy
nhanh tốc độ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cả về số lượng, quy mô;
phát triển về chất lượng và cơ cấu doanh nghiệp theo vùng lãnh thổ, thành
phần kinh tế, ngành sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

hiệu quả kinh doanh, bản thân các doanh nghiệp phải tích cực, chủ động nắm
bắt những chủ trương, cơ chế, chính sách trong phát triển DNVVN. Các
doanh nghiệp có vai trò quyết định trong sự tồn tại, phát triển hay suy vong
của doanh nghiệp mình. Vai trò quyết định của doanh nghiệp thế hiện trên hai
mặt: Một là, biết khai thác và tận dụng những điều kiện và nhân tố thuận lợi
của môi trường bên ngoài. Hai là, doanh nghiệp phải chủ động tạo ra những
điều kiện, nhân tố cho chính bản thân mình để phát triển. Cả hai mặt này cần
được phối hợp đồng bộ để tận dụng được tối đa các nguồn lực. Hiệu quả kinh
tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là phạm trù tổng hợp. Muốn nâng cao
hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải sử
dụng tổng hợp các biện pháp từ nâng cao năng lực quản trị, điều hành hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến việc tăng cường và cải thiện
mọi hoạt động bên trong doanh nghiệp, biết làm cho doanh nghiệp luôn thích
ứng với những biến động của thị trường.
Vì vậy, các DNVVN cần tích cực, chủ động tìm ra các giải pháp để
phát triển doanh nghiệp của mình, đồng thời đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội chung của Tỉnh. Do đó chủ thể đề cập đến là cấp ủy, chính quyền Tỉnh,
các ban ngành và các DNVVN trên địa bàn.
Mục tiêu phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: Nhằm phát triển cả về số
lượng, chất lượng; có quy mô, cơ cấu hợp lý, trình độ công nghệ thích hợp
với tiềm năng và đặc điểm của các vùng, miền trong Tỉnh; tạo dựng mối quan
hệ hợp tác, liên kết chặt chẽ trong cộng đồng doanh nghiệp với hợp tác xã và
các hộ sản xuất để phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao năng lực cạnh

23


tranh, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm
hàng hoá, dịch vụ, mang lại ngày càng nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp, tạo
việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và đóng góp ngày càng cao vào
sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Chỉ tiêu phản ánh gián tiếp quy mô doanh nghiệp: Tổng số vốn và từng
loại vốn; tổng số lao động và từng loại lao động; tổng số cơ sở vật chất; diện
tích mặt bằng SXKD. Các chỉ tiêu phản ánh quy mô ở trên đồng thời là chỉ
tiêu phản ánh năng lực doanh nghiệp, thông qua đó phản ánh năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp.
Ba là, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng tích cực
Chuyển dịch cơ cấu gồm các nội dung như cơ cấu ngành, cơ cấu vùng,
cơ cấu giá trị, cơ cấu lao động. Với cơ cấu ngành cần phát triển DNVVN trong
ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ với xu hướng tăng hơn trong ngành
nông, lâm nghiệp và thủy sản. Với cơ cấu vùng cần phát triển hợp lý số lượng,
chất lượng các DNVVN trên các địa bàn trong Tỉnh, cần ưu tiên đầu tư phát
triển doanh nghiệp ở khu vực các huyện miền núi, huyện ven biển có điều kiện
kinh tế - xã hội còn khó khăn. Với cơ cấu giá trị, cần gia tăng hàm lượng chất
xám trong cấu thành giá trị sản phẩm của DNVVN. Với cơ cấu lao động, cần
tăng dần lao động qua đào tạo, lao động kỹ thuật, giảm dần lao động giản đơn.
Sự phát triển của DNVVN tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ
quan trọng vì DNVVN thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết
được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Đặc biệt, đối với khu vực
nông thôn, sự phát triển của DNVVN không chỉ làm cho công nghiệp phát triển
mạnh, đồng thời thúc đẩy sự phát triển các ngành thương mại, dịch vụ. DNVVN
là cầu nối giữa công nghiệp hiện đại với tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp
phi tập trung, làm cơ sở và tiền đề cho phát triển công nghiệp hiện đại.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở tỉnh Thanh Hóa
Cũng như các doanh nghiệp trong cả nước nói chung, DNVVN trên địa

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status