“Phát triển kinh tế thủy sản ở Hải phòng hiện nay”
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nước ta có điều kiện tự nhiên về đất đai, mặt nước và khí hậu thuận lợi
cho phát triển kinh tế thuỷ sản thành ngành kinh tế mũi nhọn và ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhận
thức sâu sắc tầm quan trọng của kinh tế thủy sản, trong “Chiến lược phát triển
kinh tế giai đoạn 2011-2020” được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng thông qua, đã xác định: “Khai thác bền vững, có hiệu quả nguồn lợi
thủy sản, phát triển đánh bắt xa bờ, ... Phát triển nuôi trồng thủy sản theo quy
hoạch, tập trung vào những sản phẩm có thế mạnh, có giá trị cao,... Xây dựng
ngành thủy sản Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [26, tr.116].
Thực hiện chủ trương trên của Đảng, nhiều địa phương trên phạm vị cả nước
có tiềm năng, thế mạnh về kinh tế thủy sản đều đẩy mạnh phát triển ngành
kinh tế này, trong đó có Thành phố Hải Phòng.
Với chiều dài bờ biển 125 km, có 15 quận/huyện (7 quận và 8 huyện),
trong đó có hai huyện đảo (Cát Hải và Bạch Long Vỹ), Thành phố Hải Phòng
có nhiều tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế thủy sản. Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ Thành phố Hải Phòng lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2011-2015) xác định
chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế thủy sản, xây dựng kinh tế thủy sản là
ngành kinh tế mũi nhọn của Thành phố. Thực hiện chủ trương này, trong
những năm qua, kinh tế thủy sản ở Hải Phòng có sự phát triển nhanh. Bình
quân giai đoạn 2005-2012 ngành thủy sản thành phố Hải Phòng đóng góp vào
GDP chung toàn thành phố khoảng trên 2,3%/năm; hằng năm, ngành thủy sản
đã giải quyết việc làm thêm cho khoảng gần 2.000 lao động/năm, góp phần
quan trọng vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn,
xóa đói giảm nghèo của Thành phố trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, bên
cạnh những thành tựu đó, trong quá trình phát triển, kinh tế thủy sản ở Hải
3
nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn được
công bố, trong đó có các công trình tiêu biểu là:
* Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về lý luận, thực tiễn phát triển
kinh tế thủy sản trên bình diện cả nước:
- Sách: “Phát triển thuỷ sản Việt Nam - những luận cứ và thực tiễn”,
tác giả Hoàng Thị Chỉnh (2003), Nxb Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
Cuốn sách đã luận giải đặc điểm kinh tế thủy sản ở Việt Nam; phân tích
những tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam về kinh tế thủy sản; đánh giá thực
trạng phát triển kinh tế thủy sản ở Việt Nam thập kỷ 90, thế kỷ XX, đề xuất
định hướng phát triển kinh tế thủy sản ở nước ta giai đoạn 2001-2010.
- Đề án: “Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020”, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội, 2010. Đề án xác định mục tiêu,
xây dựng kế hoạch và xác định những quan điểm, giải pháp phát triển ngành
thủy sản nước ta đến năm 2020.
- Đề án: “Chiến lược xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm 2015, định
hướng đến 2020”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010). Đề án xác
định mục tiêu, xây dựng kế hoạch và xác định những quan điểm, giải pháp nước
ta đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến 2020”.
- Đề tài:“Điều tra thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu nghề
nghiệp khai thác hải sản của Việt Nam”, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy
sản, 2009. Đề tài đánh giá thực trạng, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, xác
định nguyên nhân và đề xuất giải pháp chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp khai
thác hải sản ở nước ta trong thời gian tới.
- Đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu
đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản”, Viện Nghiên cứu Hải sản, 2011.
- Đề tài:“Nghiên cứu xây dụng quy trình công nghệ dự báo ngư
trường khai thác hải sản ngắn hạn ở vùng biển Hải Phòng và lân cận”,
5
- Bài báo khoa học: “Thuỷ sản Việt Nam phát triển đúng tầm và bền
vững”, Nguyễn Chu Hồi , Tạp chí Biển Việt Nam, số 6/2006. Bài báo phân
tích định hướng phát triển kinh tế thủy sản Việt Nam theo hướng bền vững
tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam.
- Bài báo khoa học:“Để Việt Nam sớm trở thành một quốc gia mạnh
về biển và giàu lên từ biển”, Tiến sĩ Tạ Quang Ngọc, Tạp chí Cộng sản, số
777 (7/2007); tác giả đã khái quát và tập trung luận giải chủ trương của Đảng
và Nhà nước về khai thác lợi thế của biển để phát triển kinh tế - xã hội; về
phát triển kinh tế biển; về việc triển khai Nghị quyết của Trung ương Đảng
đối với ngành thuỷ sản nước nhà.
- Bài báo khoa học:“Về Chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt
Nam”, PGS, TS Bùi Tất Thắng, Tạp chí Kinh tế và dự báo, (số 7 và số
8/2007). Tác giả phân tích hiện trạng phát triển kinh tế biển của Việt Nam,
luận giải mục tiêu, quan điểm, định hướng chiến lược phát triển đối với các
ngành, lĩnh vực kinh tế biển cơ bản và đề xuất 6 nhóm giải pháp nhằm hiện
thực hoá các mục tiêu mà Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã đề ra.
…
* Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về phát triển kinh tế thủy sản
ở một số tỉnh, thành phố, khu vực
- Đề án:“Quy hoạch nghề khai thác hải sản gần bờ các tỉnh Vịnh Bắc
Bộ đến năm 2010”, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, 2003.
- Luận án tiến sĩ kinh tế: "Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển
công nghiệp CBTS xuất khẩu của tỉnh Khánh Hoà", của tác giả Lê Kim Chung,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2002). Luận án tập trung phân tích, làm rõ
thực trạng CNH, HĐH ngành thuỷ sản ở duyên hải Nam Trung Bộ, trên cơ sở
đó, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH ngành kinh tế này ở các tỉnh
thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, trong đó có Khánh Hoà.
- Luận án tiến sĩ kinh tế: “Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát
7
- Bài báo khoa học: Triển vọng phát triển Hải Phòng nhìn từ Chiến
lược biển của Việt Nam, PGS-TS Đan Đức Hiệp, Sở KH&ĐT Hải Phòng,
năm 2007. Trên cơ sở quán triệt Chiến lược biển của Việt Nam, tác giả phân
tích tiềm năng, thế mạnh và đề xuất định hướng phát triển kinh tế biển, trong
đó có kinh tế thủy sản của Hải Phòng trong thời gian tới.
- Bài báo khoa học: “Giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường do nuôi
trồng thủy sản ở Hải Phòng”, tác giả Hoàng Minh Huệ, Baomoi.com,
ngày 02/08/2014 05:23, bài báo cho rằng những năm gần đây, nghề nuôi
trồng thủy sản lồng bè ở Hải Phòng phát triển khá mạnh, song sự phát triển tự
phát và thiếu quy hoạch đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường biển
nghiêm trọng và dịch bệnh phát sinh ngày một nhiều.
- Bài báo khoa học: “Ngành Thủy sản Hải Phòng tập trung thực hiện
tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, baohaiphong.com.vn, ngày
13/07/2014. Bài báo đề xuất hướng tái cơ cấu ngành thủy sản ở Hải Phòng và
đề xuất giải pháp thực hiện tái cơ cấu ngành thủy sản ở Hải Phòng theo hướng
nâng cao giá trị gia tăng.
- Bài báo khoa học: “Đánh bắt thủy sản tại Hải Phòng : Nằm bờ vì sợ...
lỗ !”, tác giả Nguyễn Tiềm, báo Diễn đàn doanh nghiệp (dddn.com.vn), thứ
ngày 26/10/2012. Bài báo cho rằng, Hải Phòng có nhiều lợi thế phát triển kinh
tế biển khu vực phía Bắc, nhưng hiện nay, hàng trăm tàu cá phải nằm bờ, ngư
dân không dám vươn khơi vì sợ lỗ.
…
Tổng quan lại, các công trình nghiên cứu có liên quan đề đề tài luận án
đã đề cập một số vấn đề mà luận văn có thể kế thừa: Quan niệm về kinh tế
thủy sản và phát triển kinh tế thủy sản; phân tích về tiềm năng, thế mạnh,
đánh giá thực trạng và đề xuất định hướng, giải pháp phát triển kinh tế thủy
sản trên phạm vị cả nước cũng như ở một số địa phương v.v.. Tuy nhiên, cho
đến nay chưa có công trình nghiên cứu, hoàn chỉnh, hệ thống về phát triển
* Phương pháp luận: Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng là phép biện chứng duy vật.
10
* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp
nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị Mác - Lênin: Trừu tượng hóa khoa
học, kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, sử dụng
chuyên gia và một số phương pháp khác.
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài được thực hiện thành công góp phần cung cấp cơ sở khoa học
cho Thành ủy, Chính quyền và cơ quan chức năng của thành phố Hải Phòng
xây dựng chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế thủy sản của Thành phố
giai đoạn 2015-2025.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo
nghiên cứu khoa học, giảng dạy môn Kinh tế chính trị Mác - Lênin.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
đề tài kết cấu thành 3 chương, 6 tiết.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
THỦY SẢN Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của kinh tế thủy sản đối với
thể các quan hệ kinh tế trong quá trình nuôi trồng, khai thác, chế biến và
thương mại thuỷ sản.
* Đặc điểm kinh tế thủy sản:
So với nhiều ngành kinh tế khác, kinh tế thủy sản có các đặc điểm riêng
như sau:
Một là, tư liệu sản xuất chủ yếu là mặt nước và hoạt động lao động sản
xuất phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.
Hoạt động kinh tế là sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất tác
động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên,
mỗi ngành kinh tế khác nhau thì tư liệu sản xuất có đặc điểm khác nhau. Với
các ngành công nghiệp, tư liệu sản xuất chủ yếu là máy móc. Với ngành nông
nghiệp trồng trọt, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai. Với ngành kinh tế thủy
sản, do các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chủ yếu diễn ra trên mặt
nước, nên tư liệu sản xuất chủ yếu là mặt nước. Các loại thủy sản sinh sống chủ
yếu trong môi trường nước; đồng thời các hoạt động đáng bắt, khai thác thủy
sản cũng chủ yếu diễn ra trên mặt nước.
Ngoài tư liệu sản xuất là mặt nước là chủ yếu, hầu hết các hoạt động đánh
bắt, nuôi trồng, khai thác thủy sản đều gắn bó chặt chẽ với điều kiện tự nhiên,
như thời tiết, khí hậu, vị trí địa lý... Điều kiện tự nhiên tác động, ảnh hưởng rất
lớn đến sinh trưởng, phát triển của các loại thuỷ sinh và đến chất lượng, hiệu
quả của hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản. Điều kiện tự nhiên thuận lợi,
mặt nước rộng, nguồn nước, cũng như thời tiết, khí hậu phù hợp, vị trí địa lý
thuận lợi cho việc sự nuôi trồng, khai thác, đánh bắt và trao đổi hàng hóa, sản
phẩm thủy thì kinh tế thuỷ sản có điều kiện phát triển. Ngược lại, nếu điều kiện
13
tự nhiên, như mặt nước hẹp, môi trường nước không phù hợp với sự phát triển
của các loại thủ sản, thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp, không thuận lợi thì
việc nuôi trồng, đánh bắt, khai thác sản gặp khó khăn, cản trở sự phát triển của
kết chặt chẽ, đồng bộ giữa các khâu, các ngành của kinh tế thủy sản trong quá
trình sản xuất kinh doanh. Nếu trong quá trình phát triển kinh tế thủy sản
không tính đến mối liên hệ nội tại giữa các khâu, các ngành sẽ dẫn đến mất
cân đối và làm suy yếu cả hệ thống. Ví dụ như, nuôi trồng và khai thác thủy
sản không gắn với chế biến và tất cả các khâu này lại không gắn với thị
trường thì không thể bảo đảm cho việc sản xuất kinh doanh thủy sản diễn ra
trôi chảy và có hiệu quả cao. Đặc biệt là, khi các hoạt động nuôi trồng, khai
thác thuỷ sản diễn ra một cách tự phát, không tính đến năng lực chế biến thủy
sản và nhu cầu thị trường, thì tình trạng thừa hoặc thiếu hụt nguồn nguyên
liệu đầu vào và sản phẩm, hàng hóa thủy sản là dễ xẩy ra.
Đồng thời, do đối tượng tác động của sản xuất thuỷ sản là những sinh vật
sống dưới nước; khi các loại thủy sản bị cách ly khỏi môi trường nước, nếu
không có sự gắn kết chặt chẽ giữa nuôi trồng, khai thác với chế biến thì chúng
sẽ nhanh bị giảm về chất lượng và sản lượng.
Ngoài ra, mặc dù thủy sản là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo được
thông qua lao động của con người, nhưng không phải là vô hạn. Nên nếu chủ
động gắn kết chặt chẽ giữa các khâu, các ngành của kinh tế thủy sản thì sự
phát triển kinh tế thủy sản sẽ bền vững.
Thứ tư, hình thức tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh phong phú, đa
dạng với nhiều qui mô khác nhau.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện
nay, cũng như nhiều ngành kinh tế khác, trong kinh tế thủy sản có nhiều thành
phần kinh tế tham gia (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân). Tuy
nhiên, do đặc thù của các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy sản nên hình
thức tổ chức sản xuất phong phú, đa dạng với nhiều qui mô khác nhau. Trong
kinh tế thủy sản ở nước ta hiện nay, bên cạnh các hộ sản xuất kinh doanh cá
15
thể, có các hình thức trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh
hàng hóa thủy sản cho xã hội; góp phần to lớn vào việc thực hiện chiến lược quốc
gia về nâng cao thể chất con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
Ngoài vai trò trên, do kinh tế thủy sản là ngành kinh tế tổng hợp liên quan
đến nhiều ngành kinh tế khác, nên việc phát triển kinh tế thủy sản ở nước ta hiện
nay sẽ góp phần kích thích nhiều ngành kinh tế khác phát triển, trước hết là các
ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho ngành kinh tế thủy sản (công nghiệp đóng
tàu, thuyền, máy móc, thiết bị nuôi trồng, đánh bắt thủy sản), các ngành chế biến
sản phẩm, hàng hóa thủy sản (sản xuất thủy sản đông lạnh, thủy sản đóng hộp,...)
và các ngành sử dụng thực phẩm thủy sản (khách sạn, nhà hàng,...) v.v..
Theo thống kê của thành phố Hải Phòng bình quân giai đoạn 2005-2014
thủy sản đóng góp vào nguồn thực phẩm chung khoảng 40% tổng sản lượng
thực phẩm toàn thành phố Hải Phòng (sau khi trừ sản lượng chế biến, và tiêu
thụ ở các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Hồng). Năm 2012, theo số
liệu thống kê của thành phố Hải Phòng bình quân tiêu thụ thực phẩm thủy sản
khoảng 34,52 kg/người/năm (chiếm 38,96% tổng nhu cầu tiêu thụ thực phẩm
bình quân đầu người toàn thành phố) [14, tr.5].
* Kinh tế thủy sản góp phần quan trọng vào tăng trưởng, phát triển kinh tế
nói chung và kinh tế biển nói riêng ở các địa phương và cả nước
Thực tiễn phát triển kinh tế thủy sản ở nước ta cho thấy, ngành kinh tế thủy
sản ngày càng đóng góp quan trọng vào tăng trưởng, phát triển kinh tế của đất
nước và của nhiều địa phương, nhất là những địa phương có tiềm năng, thế mạnh
về kinh tế thủy sản.
Theo số liệu thống kê đối với cả nước, kinh tế thủy sản đóng góp 30 35% GDP trong khối nông - lâm - ngư nghiệp, tốc độ tăng giá trị sản xuất
ngành thủy sản từ 8 - 10%/năm. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8 - 9 tỷ
USD. Tổng sản lượng thủy sản đạt 6,5 - 7 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm
65 - 70% tổng sản lượng. Riêng đối với thành phố Hải Phòng, theo số liệu
17
Theo số liệu thống kê, ở Hải Phòng, năm 2012 ngành thủy sản góp phần
giải quyết việc làm cho khoảng trên 84 nghìn lao động chiếm 5,69% tổng số lao
động toàn thành phố. Trong đó, lao động chuyên thủy sản có khoảng trên 50
nghìn người, còn lại là lao động thủy sản kết hợp. Đồng thời, kinh tế thủy sản
góp phần quan trọng vào xóa đói, giảm nghèo ở Hải Phòng (số hộ nghèo trong
ngành thủy sản chiếm khoảng 5% tổng số hộ nghèo toàn Hải Phòng) [68, tr.6].
* Kinh tế thủy sản góp phần củng cố quốc phòng, tăng cường khả năng
bảo vệ chủ quyền quốc biển, đảo của đất nước
Từ đặc điểm kinh tế thủy sản cho thấy, nhiều hoạt động trong ngành kinh tế
thủy sản gắn bó chặt chẽ với biển, đảo và phạm vi hoạt động rộng lớn, bao gồm
cả trên đất liền, khu vực ven biển, trên biển và trên các đảo. Đây là những địa
bàn thường có vị trí chiến lược về quốc phòng – an ninh, nhất là đối với bảo vệ
chủ quyền biển, đảo của đất nước. Vì vậy, sự phát triển kinh tế thủy sản vừa có ý
nghĩa về mặt kinh tế, khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh của quốc gia về các
nguồn lợi thuỷ sản, vừa có ý nghĩa quan trọng về mặt quốc phòng - an ninh, nhất
là đối với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước.
Trước hết, lực lượng lao động đông đảo trong ngành kinh tế thuỷ sản
cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng (cầu cảng, bến bãi,..) và các phương tiện tàu
thuyền, cơ sở vật chất kỹ thuật khác là nguồn lực quan trọng để xây dựng,
củng cố quốc phòng - an ninh trong thời bình cũng như khi có tình huống
quốc phòng, an ninh xảy ra trên các vùng biển, đảo của đất nước.
Đặc biệt là, đối với nước ta do bờ biển dài, vùng đặc quyền kinh tế biển
rộng lớn đặt ra những khó khăn, thách thức nhất định trong việc bảo vệ chủ
quyền, quyền chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Do đó, để tăng cường khả
năng quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và
lợi ích quốc gia trên biển; đồng thời, để đối phó với những nguy cơ gây mất ổn
định quốc phòng - an ninh trên biển và từ hướng biển, đòi hỏi nước ta phải có
sự đầu tư rất lớn để tăng cường khả năng quốc phòng, bố trí lực lượng vũ trang
19
20
Tiếp cận dưới góc độ kinh tế: Phát triển kinh tế là sự gia tăng về quy
mô, chất lượng và thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý. Tuy nhiên, tùy
theo phạm vi phát triển kinh tế các ngành kinh tế ở từng địa phương hoặc trên
phạm vi quốc gia, có những nội hàm cụ thể khác nhau về chủ thể lãnh đạo,
quản lý, lực lượng tham gia, cũng như về nội dung phát triển kinh tế.
Từ những quan niêm chung như trên, tiếp cận sự phát triển kinh tế thủy
sản dưới góc độ kinh tế chính trị (nghiên cứu quan hệ sản xuất trong mối quan
hệ với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng) có thể quan niệm phát triển
kinh tế thủy sản ở Thành phố Hải phòng hiện nay như sau:
Phát triển kinh tế thủy sản ở thành phố Hải Phòng hiện nay là tổng thể
các hoạt động của các chủ thể nhằm thay đổi qui mô, chất lượng và cơ cấu
kinh tế thủy sản theo mục tiêu, kế hoạch đã xác định.
Việc phân tích mục đích, chủ thể, lực lượng, phương thức và nội dung
phát triển kinh tế thủy sản ở thành phố Hải Phòng hiện nay sẽ làm rõ hơn quan
niệm trên.
- Mục đích phát triển kinh tế thủy sản ở thành phố Hải Phòng hiện nay:
Nhằm tăng quy mô, chất lượng và xây dựng cơ cấu kinh tế thủy sản hợp lý,
góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc
phòng - an ninh của thành phố Hải Phòng.
- Chủ thể và lực lượng tham gia phát triển kinh tế thủy sản ở thành phố
Hải Phòng hiện nay: Quá trình phát triển kinh tế thủy sản ở thành phố Hải
Phòng hiện nay đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và sự
quản lý của bộ máy nhà nước về kinh tế thủy sản từ Trung ương đến địa
phương. Tuy nhiên, chủ thể trực tiếp lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế thủy
sản ở thành phố Hải Phòng hiện nay là cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền
các cấp của Thành phố, trong đó cấp ủy, tổ chức đảng các cấp có vai trò đề ra
đường lối, chủ trương trình phát triển kinh tế thủy sản; chính quyền các cấp
22
Một là, mở rộng qui mô kinh tế thủy sản thành phố Hải Phòng.
Mở rộng quy mô kinh tế thủy sản thành phố Hải Phòng thực chất là
phát triển kinh tế thủy sản về chiều rộng, biểu hiện ở việc gia tăng sản lượng
đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy sản, bảo đảm kinh tế thủy sản có tốc độ
tăng trưởng cao.
Việc mở rộng qui mô, tăng cường sản lượng sản phẩm, hàng hóa thủy
sản ở thành phố Hải Phòng bao gồm nội dung đầu tư, nâng cấp, mở rộng năng
lực sản xuất kinh doanh của các cơ sở, doanh nghiệp thủy sản hiện có ở
Thành phố và đầu tư phát triển thêm các cơ sở, doanh nghiệp thủy sản mới.
Đồng thời, mở rộng quy mô kinh tế thủy sản ở thành phố Hải Phòng
hiện nay còn bao hàm nội dung đa dạng hóa các sản phẩm, hàng hóa thủy sản
và mở rộng thị trường cung cấp sản phẩm, hàng hóa đầu vào và sản phẩm,
hàng hóa đầu ra của kinh tế thủy sản Thành phố.
Hai là, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa thủy sản của Thành phố
Hải phòng.
Nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa thủy sản thành phố Hải Phòng
được hiểu là những hoạt động đầu tư nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm,
hàng hóa thủy sản lên mức cao hơn trước nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách
và đem lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp và của địa phương. Thực chất
của nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa thủy sản ở Thành phố hải phòng
hiện nay hiện nay là phát triển kinh tế thủy sản của thành phố theo chiều sâu.
Nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa thủy sản là nội dung rất quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế thủy sản ở thành phố Hải Phòng hiện
nay. Bởi vì: Thứ nhất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa thủy sản luôn là nhân
tố quan trọng bậc nhất tạo nên uy tín, thương hiệu, nâng cao khả năng cạnh
tranh của kinh tế thủy sản của Thành phố trong điều kiện kinh tế thị trường;
Thứ hai, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa thủy sản là biện pháp hữu
24
Xây dựng cơ cấu kinh tế thủy sản hợp lý ở thành phố Hải Phòng biểu
hiện trên các nội dung chủ yếu là:
- Xây dựng kinh tế thủy sản hợp lý về cơ cấu ngành:
Xét trên phạm vi thành phố Hải Phòng, kinh tế thủy sản bao gồm các phân
ngành khác nhau, như: Nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản và thương mại
thủy sản. Đồng thời, kinh tế thủy sản có quan hệ rất chặt chẽ với các ngành kinh tế
khác, như: đóng tàu thuyền, dụng cụ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản; cơ điện lạnh
bảo quản sản phẩm, hàng hóa thủy sản; hệ thống giao thông vận tải thủy, cầu
cảng; các ngành kinh doanh tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa thủy sản (dịch vụ nhà
hàng, khách sạn) v.v..
Các loại ngành kinh tế thủy sản và nhiều ngành kinh tế, lĩnh vực khác
với kinh tế thủy sản của thành phố Hải Phòng có mối quan hệ rất chặt chẽ với
nhau, đòi hỏi phải được phát triển đồng bộ, cân đối nhằm phát huy tiềm năng,
thế mạnh của Thành phố và đem lại hiệu quả cao. Nếu các ngành kinh tế như
trên không được phát triển đồng bộ, cân đối thì việc hoạt động của từng
ngành sẽ ách tắc, gặp khó khăn. Ví dụ như, năng lực nuôi trồng, đánh bắt thủy
sản phải phù hợp với năng lực ngành chế biến thủy sản; đồng thời các ngành
này phải phù hợp với thị trường cung cấp đầu vào và đầu ra của kinh tế thủy
sản.
Đối với phát triển kinh tế thủy sản của thành phố Hải phòng về cơ cấu
kinh tế ngành cần tập trung vào phát triển một số phân ngành chủ yếu sau:
Nuôi trồng thủy sản: Nuôi trồng thuỷ sản biển, Nuôi trồng thuỷ sản nội
địa (nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt), sản xuất
giống thuỷ sản.
Khai thác thủy sản: Khai thác thuỷ sản biển (đánh bắt và thu nhặt hải
sản), Khai thác thuỷ sản nội địa (Khai thác thuỷ sản nước lợ, Khai thác thuỷ
sản nước ngọt).
hiện nay, hoạt động kinh doanh trong ngành kinh tế thủy sản ở các tỉnh, thành
26
nói chung và ở thành phố Hải Phòng nói riêng sẽ có nhiều thành phần kinh tế
tham gia. Xây dựng kinh tế thủy sản ở thành phố Hải Phòng hiện nay hợp lý
về thành phần kinh tế, thực chất là xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp
trong ngành kinh tế thủy sản.
Xây dựng kinh tế thủy sản ở thành phố Hải Phòng hợp lý về cơ cấu
thành phần còn biểu hiện ở việc huy động các thành phần kinh tế, bao gồm cả
kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài tham gia phát triển kinh tế thủy sản;
Đồng thời, trong phát triển kinh tế thủy sản ở thành phố Hải Phòng phải
phát huy vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể; xây dựng mối liên hệ,
liên kết chặt chẽ giữa các các tổ chức, doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh tế
thủy sản của thành phần kinh tế.
1.2.2. Các yếu tố tác động đến phát triển kinh tế thủy sản ở thành
phố Hải Phòng hiện nay
Sự phát triển kinh tế thủy sản ở Hải Phòng hiện nay chịu sự tác động của
nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan, trong đó nổi lên là các nhân tố sau:
Một là, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thủy sản của thành
phố Hải Phòng.
Vị trí địa lý: Thành phố Hải Phòng nằm trong cực tăng trưởng kinh tế
lớn nhất miền Bắc, với tam giác kinh tế phát triển Hà Nội - Hải Phòng Quảng Ninh. Đặc biệt đáng chú ý là vùng biển và ven biển thành phố nằm án
ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn
Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông, Trung Quốc
và Nhật Bản với các nước trong khu vực.
Điều kiện tự nhiên: Thành phố Hải Phòng có bờ biển dài trên 125 km,
có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có đảo Cát Bà, xa nhất là đảo