1
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi đánh giá về vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động trong hệ
thống sản xuất, V.I.Lênin đã khẳng định: trong thời đại ngày nay, lực lượng sản xuất hàng
đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động. Ở Việt Nam, GCCN là giai cấp
lãnh đạo cách mạng, là lực lượng chủ đạo và tiên phong trong suốt tiến trình phát triển của
cách mạng Việt Nam.
Là lực lượng trung tâm của tiến trình CNH, HĐH đất nước, GCCN Việt Nam đang
nắm giữ những cơ sở vật chất và các phương tiện sản xuất hiện đại nhất, quyết định phương
hướng phát triển chủ yếu của nền kinh tế. Mặc dù, về số lượng, GCCN Việt Nam chiếm tỷ lệ
không lớn trong tổng số dân cư, nhưng lại là lực lượng lao động đóng góp nhiều nhất vào
ngân sách Nhà nước.
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Đảng ta đã nhận
định: “Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công
của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [15, tr.47]. Theo đó, để
GCCN xứng đáng là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng
sản Việt Nam, thì yêu cầu bồi dưỡng, “nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp và bản
lĩnh chính trị... cho công nhân" là một trong những đòi hỏi khách quan và cấp bách của
Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của mỗi công nhân và của toàn xã hội trong
điều kiện hiện nay.
Là một tỉnh có vị trí địa lý chính trị quan trọng, điều kiện tự nhiên nhiều ưu đãi,
Đồng Nai trở một vùng kinh tế trọng điểm, năng động của đất nước. Trong những năm gần
đây, cùng với cả nước, Đồng Nai đang không ngừng phát huy nội lực, tập trung đầu tư phát
triển sản xuất công nghiệp, đồng thời có những chính sách ưu đãi, khuyến khích hợp lý nên đã
thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư vào, góp phần tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
khiến cho “vóc dáng” của một tỉnh công nghiệp trọng điểm của khu vực phía Nam hình thành
Nam; thực trạng và xu hướng biến đổi của GCCN trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước;
quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng GCCN Việt Nam trở
thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Trong cuốn sách của TS Nguyễn An Ninh (2008), Về xu hướng công nhân hóa ở nước
ta hiện nay, (Sách phục vụ nghiên cứu, triển khai Nghị quyết Trung ương 6 khóa X), Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, nhiều vấn đề liên quan tới quá trình phát triển của GCCN đã được đề cập,
trong đó có việc hoàn thiện cơ cấu GCCN đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước.
Cuốn sách do TS Đặng Ngọc Tùng (chủ biên), (2010), Xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Nxb Lao động, Hà Nội cũng đã góp phần làm rõ quan điểm,
đường lối của Đảng trong vấn đề xây dựng GCCN; đưa ra hệ thống giải pháp cho việc xây dựng
3
3
GCCN trong thập niên tới; cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, xác định
nội dung xây dựng GCCN Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 của Đảng và Nhà nước ta.
Ths Phạm Văn Giang (2012), “Xu hướng vận động của giai cấp công nhân Việt
Nam trong quá trình đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung của cuốn sách
góp phần nghiên cứu, tìm hiểu xu hướng vận động của GCCN Việt Nam trong quá trình
đổi mới; những vần đề mới xuất hiện trong GCCN Việt Nam dưới tác động của điều kiện
mới – toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như: sự đa dạng về thành phần xuất thân, thành
phần kinh tế và ngành nghề hoạt động; hiện tượng phân tầng, phân hóa trong nội bộ
GCCN…
Đề tài cấp nhà nước "Xây dựng GCCN Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020" do TS
Đặng Ngọc Tùng - Chủ tịch Tổng LĐLĐVN làm chủ nhiệm - đã góp phần thay đổi
nhận thức và thái độ, hành vi của các DN, các cấp lãnh đạo trong việc xây dựng
GCCN. Điều này thật sự cần thiết trong giai đoạn mới, khi mà những đòi hỏi khách
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tạp chí Xây dựng Đảng, (số 10).
Cù Thị Hậu, Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, xứng đáng là giai cấp tiên
phong, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Đảng
Cộng sản Việt Nam (2006), tham luận tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội).
Những công trình nêu trên đã đề cập đến GCCN ở nhiều nội dung với các góc độ
khác nhau, và có những đóng góp quan trọng trong xây dựng GCCN như: trình bày thực
trạng GCCN Việt Nam trong điều kiện CNH, HĐH đất nước; đã đưa ra một số biểu hiện mới
của GCCN Việt Nam trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ, toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về GCCN thể hiện qua Văn
kiện của các Đại hội, các biến đổi của GCCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; đã đưa ra
được những giải pháp căn bản nhằm xây dựng GCCN Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.… Trong đó, vấn đề YTCT của GCCN nước ta đã được
đề cập ở một số khía cạnh. Tuy nhiên, chưa có một công trình chuyên biệt nào đi sâu tìm
hiểu, nghiên cứu về YTCT của công nhân KCN tỉnh Đồng Nai hiện nay. Do vậy, đề tài mà
tác giả lựa chọn là một đề tài độc lập, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu có liên
quan.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về YTCT của công nhân KCN tỉnh
Đồng Nai, trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao YTCT của
công nhân KCN tỉnh Đồng Nai hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ quan niệm và vai trò YTCT của GCCN Việt Nam hiện nay.
Phân tích thực trạng YTCT của công nhân KCN tỉnh Đồng Nai hiện nay và nguyên
nhân của thực trạng đó.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao YTCT của công nhân khu KCN tỉnh Đồng Nai
5
6
6
Chương 1
QUAN NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC CHÍNH TRỊ
ĐỐI VỚI GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Quan niệm về ý thức chính trị và ý thức chính trị của giai cấp công nhân
Việt Nam hiện nay
1.1.1. Ý thức chính trị
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, toàn bộ đời sống chia thành hai lĩnh
vực lớn: vật chất và tinh thần; tồn tại xã hội và YTXH. YTXH là sự phản ánh của tồn tại xã
hội, nó bao gồm tình cảm, tập quán, truyền thống, thói quen, quan điểm, tư tưởng, lý
luận… Tồn tại xã hội quyết định YTXH, YTXH là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ
thuộc vào tồn tại xã hội. Tồn tại xã hội như thế nào, YTXH như thế ấy. Khi tồn tại xã hội
biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết
học, đạo đức, văn học, nghệ thuất… sớm muộn cũng biến đổi theo. Tuy nhiên, YTXH cũng
có tính độc lập tương đối, nó có những tư tưởng tiến bộ, vượt trước so với tồn tại xã hội và
có tác động trở lại tồn tại xã hội.
Ý thức xã hội được thể hiện dưới nhiều hình thái cụ thể như: chính trị, pháp quyền,
đạo đức, triết học, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo… Mỗi hình thái YTXH phản ánh một đối
tượng nhất định, một phạm vi nhất định của tồn tại xã hội, nhưng giữa chúng có mối liên
hệ với nhau. Ở mỗi thời đại, tùy theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà thường có những
hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng đầu, chúng biểu hiện tập trung ý thức của thời đại đó
và có tác động mạnh đến các hình thái ý thức khác. Tuy nhiên trong tổng thể của YTXH thì
YTCT có tầm quan trọng đặc biệt, nó quyết định đến xu hướng và bản chất của các hình
thái YTXH khác.
Vậy, YTCT là gì? Để hiểu YTCT, cần bắt đầu từ việc nghiên cứu khái niệm chính
trị và ý thức.
Khi bàn về vấn đề chính trị, V.I.Lênin cho rằng, chính trị là mối quan hệ giữa các
giai cấp, các đảng phái, các dân tộc về mặt Nhà nước; “chính trị là sự tham gia vào những
công việc của Nhà nước, là việc vạch hướng đi cho Nhà nước, việc xác định những hình
thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước” [28, tr.404]. Như vậy, cái quan trọng
nhất trong chính trị, theo V.I.Lênin là “tổ chức quyền lực Nhà nước”, là mối quan hệ giữa
các giai cấp và các cộng đồng xã hội về vấn đề Nhà nước, là sự tham gia của nhân dân vào
công việc Nhà nước; là tổng hợp những phương hướng, những mục tiêu được quy định bởi
lợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng
phái, các Nhà nước để thực hiện đường lối đã lựa chọn nhằm đạt được những mục tiêu đã
đề ra. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, “quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo
lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác” [33, tr.628]. Quyền lực chính
trị nói lên thực chất hoạt động của giai cấp cầm quyền được tổ chức thành Nhà nước.
Chính trị là một lĩnh vực bao trùm, thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, đặc biệt trong kinh tế, tư tưởng, khoa học, nghệ thuật. Trong xã hội còn giai cấp, chính
8
8
trị lôi cuốn tất cả các thành viên trong xã hội vào các hoạt động của xã hội và về thực chất thì
không ai có thể “đứng ngoài chính trị”. V.I.Lênin có lưu ý: “một người không biết chữ là
người đứng ngoài chính trị” [28, tr.106] thì đó chỉ là lưu ý đến trình độ “dân trí”, nếu thấp
kém sẽ dẫn đến dễ ngộ nhận, hoạt động chính trị phiêu lưu, mạo hiểm, mù quáng.
Con người tham gia vào hoạt động chính trị để đạt được những giá trị nhất định
trong xã hội có giai cấp. Nhân tố thúc đẩy con người đi đến hành động chính trị là động lực
chính trị. Động lực chính trị hình thành trên cơ sở nhu cầu, lợi ích chính trị. Sự mong
muốn đạt được lợi ích chính trị - đó là động cơ thúc đẩy các hoạt động chính trị của con
người, của giai cấp, dân tộc, quốc gia. Động lực chính trị bao gồm hai yếu tố: Nhu cầu –
lợi ích và giác ngộ lợi ích của mỗi người, mỗi giai cấp, mỗi tổ chức chính trị. Mỗi hành
về địa vị lịch sử, về đường lối chiến lược, sách lược và những nhiệm vụ của giai cấp mình
trong sự phát triển của lịch sử. Bên cạnh đó, YTCT còn thể hiện ở quan điểm giải quyết
mối quan hệ giữa các lợi ích chính trị mà các giai cấp, tầng lớp xã hội đó đang theo đuổi; ở
sự liên minh giai cấp, đấu tranh và hợp tác giữa các giai cấp, tầng lớp vì những yêu cầu
nhất định.
Chính trị là sự tham gia vào các công việc của Nhà nước, vì thế, YTCT còn là sự
nhận thức về Nhà nước, về mục tiêu, nhiệm vụ cũng như con đường, lực lượng xã hội để
thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Nhà nước và sự tham gia của chủ thể vào hoạt động của
Nhà nước đó.
Trong xã hội có giai cấp, có áp bức bóc lột thì tất yếu có đấu tranh giai cấp. Khi đấu
tranh giai cấp phát triển đến trình độ đấu tranh chính trị thì các đảng phái ra đời, trong đó
có đảng cầm quyền, đảng đối lập và không đối lập đại biểu cho lợi ích của các giai cấp,
tầng lớp trong xã hội. Đảng chính trị cầm quyền bao giờ cũng đóng vai trò quyết định đến
sự phát triển của mỗi nước, chi phối hoạt động của Nhà nước. Do đó, đồng thời với việc
nhìn nhận Nhà nước, YTCT còn là thái độ đối với hoạt động của các đảng phái.
Trung tâm của đời sống chính trị là quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị nói lên
thực chất hoạt động chính trị của mọi giai cấp, mọi đảng phái trong xã hội có giai cấp.
Trong xã hội có giai cấp, ngoài quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền còn có quyền
lực chính trị của các giai cấp, tầng lớp khác. Vì vậy, YTCT còn thể hiện ở sự nhận thức về
quyền lực chính trị, cơ chế thực hiện quyền lực chính trị. Cụ thể, đối với giai cấp cầm
quyền, phải nhận thức được những nội dung sau:
- Cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược… thể hiện mục tiêu chính trị của
giai cấp cầm quyền.
- Hệ thống hiến pháp, pháp luật… thể hiện mục tiêu chính trị của giai cấp cầm
quyền thành những văn bản mang tính pháp quy.
- Hệ thống tổ chức thực hiện làm cho những quy định pháp lý đi vào cuộc sống và
đạt được những mục tiêu mà giai cấp cầm quyền đã xác định.
- Hệ thống kiểm tra giám sát việc thực hiện hiến pháp, pháp luật nhằm nâng cao
hiệu quả hiện thực hóa mục tiêu chính trị mà giai cấp cầm quyền đã xác định.
Các nội dung trên được thể hiện và thực hiện thông qua một cơ chế thực hiện tương
thường ngày của xã hội, được hình thành một cách tự phát trong xã hội có sự phân chia giai
cấp nên thường chưa có hệ thống, thiếu tính bền vững và không ổn định. Mặc dù là tự phát
nhưng tâm lí chính trị vẫn mang tính giai cấp và bị chi phối bởi địa vị chính trị cơ bản của
giai cấp mà nó phản ánh. Tâm lí chính trị cũng có vai trò nhất định trong đời sống xã hội và
là điều kiện để con người trong các giai cấp tiếp thu tốt hơn hệ tư tưởng chính trị. Tâm lí
chính trị là cầu nối để hệ tư tưởng chính trị thâm nhập và phát huy vai trò quyết định trong
đới sống xã hội.
Cấp độ cao của YTCT là hệ tư tưởng chính trị. Hệ tư tưởng chính trị là hệ thống
những quan điểm, tư tưởng chính trị của một giai cấp nhất định, phản ánh trực tiếp, tập
11
11
trung lợi ích của giai cấp ấy, được diễn tả một cách lôgíc và hệ thống dưới dạng các học
thuyết chính trị.
Hệ tư tưởng chính trị được thể hiện trong đường lối, cương lĩnh chính trị của các
chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như trong luật pháp, chính sách nhà nước –
công cụ của giai cấp thống trị. Khác với tâm lí chính trị, hệ tư tưởng chính trị không hình
thành tự phát mà được hình thành một cách tự giác trải qua quá trình đấu tranh giai cấp,
cách mạng xã hội, do nhu cầu cải tạo xã hội. Nó được các nhà lý luận, các nhà tư tưởng
tiên tiến, các lãnh tụ của giai cấp xây dựng và truyền bá trong quần chúng nhân dân thông
qua các phong trào cách mạng. Hệ tư tưởng chính trị gắn với các tổ chức chính trị. Thông
qua các tổ chức chính trị mà một giai cấp nào đó tiến hành cuộc đấu tranh về ý thức hệ vì
lợi ích của giai cấp mình.
Ý thức chính trị thông thường và YTCT lý luận tuy là hai mức độ phát triển khác
nhau nhưng chúng đều là sự phản ánh hiện thực đời sống chính trị nên chúng có mối quan hệ
biện chứng với nhau. YTCT thông thường biểu hiện dưới dạng tâm lí, tình cảm giai cấp, là
cơ sở cho việc tiếp thu hệ tư tưởng của giai cấp và cũng là kho tàng để YTCT lý luận khai
người. Vì vậy, nó chỉ tồn tại, phát triển, thể hiện thông qua YTCT của mỗi cá nhân. Tất
nhiên, YTCT cộng đồng không phải là phép cộng giản đơn của các YTCT cá nhân mà nó là
chất mới được được đúc kết từ những tinh hoa của các YTCT cá nhân, nó được cả cộng
đồng chấp nhận. Ngược lại, mỗi cá nhân là một cá nhân xã hội, là thành viên của một xã
hội cụ thể, của một giai cấp cụ thể; được hình thành, phát triển trong quan hệ xã hội cụ thể
nên YTCT của cá nhân đều mang nội dung, dấu ấn nào đó; đều là sự biểu hiện ở mức độ
này hay mức độ khác YTCT cộng đồng và đều bị chi phối, bị định hướng bởi YTCT cộng
đồng. Trong thực tế có thể biết được YTCT của cộng đồng nào đó thông qua việc tìm hiểu
YTCT của các thành viên trong cộng đồng đó và ngược lại.
Việc phân loại YTCT theo chủ thể đã chỉ rõ: nhóm xã hội nào, giai cấp nào, tầng
lớp nào trong xã hội cũng có YTCT. Trong xã hội có nhiều nhóm xã hội, nhiều tầng lớp,
nhiều giai cấp. Mỗi giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội lại có nhận thức, thái độ về đời sống
chính trị khác nhau do điều kiện sinh hoạt vật chất riêng, có địa vị và lợi ích chính trị khác
nhau, do đó, trong xã hội sẽ có nhiều loại YTCT khác nhau (có thể đối lập, có thể không)
nhưng không phải YTCT của nhóm xã hội, tầng lớp, giai cấp nào cũng vươn tới được tầm
lý luận, hơn nữa, có hệ tư tưởng chính trị. Chỉ có những giai cấp tiến bộ, đại biểu cho
phương thức sản xuất mới, tiến bộ, cách mạng mới có thể hình thành tư tưởng chính trị có
hệ thống, có tính lý luận, tính khoa học dưới dạng học thuyết và tất yếu khi ấy, hệ tư tưởng
chính trị của giai cấp ấy sẽ trở thành thống trị trong xã hội, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển
của xã hội.
Xét về cấu trúc, YTCT là tổng hòa của tri thức, tình cảm (thái độ), ý chí và niềm tin
về chính trị. Các yếu tố đó có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ trong một chỉnh thể hữu cơ, vừa
là tiền đề, vừa là điều kiện bổ sung, thúc đẩy lẫn nhau, tạo nên đặc điểm YTCT của mỗi cá
nhân hay cộng đồng xã hội nhất định và bao giờ cũng được thể hiện bằng các hành vi, hành
động chính trị.
13
13
các tổ chức Cộng sản và Công hội Đỏ ở Việt Nam, đặc biệt là sự ra đời của Đảng Cộng
sản Việt Nam vào đầu năm 1930. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết
hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt
14
14
Nam vào đầu năm 1930 của thế kỷ XX. Đảng đã đem yếu tố tự giác vào phong trào công
nhân, làm cho GCCN nước ta sớm giác ngộ được mục tiêu lý tưởng, chân lý của thời đại:
độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; làm cho GCCN nước ta giác ngộ được SMLS lãnh
đạo cách mạng Việt Nam và trong giai đoạn cách mạng hiện nay GCCN Việt Nam có
SMLS to lớn “là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng
sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng” [13, tr.43-44], trước mắt là tiến
hành thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH hiện nay, “GCCN Việt Nam
là lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và lao
động trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ
công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” [13, tr.43], tạo
thành một lực lượng GCCN thống nhất đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh đang lãnh đạo công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. GCCN Việt
Nam là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH, là cơ sở xã hội chủ yếu nhất của
Đảng và Nhà nước ta, là hạt nhân vững chắc trong liên minh công nhân - nông dân - trí
thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
YTCT của GCCN nước ta hiện nay được thể hiện rõ nhất thông qua nhận thức, tình
cảm, ý chí và niềm tin chính trị của mỗi người công nhân và được biểu hiện ở những nội
dung cơ bản sau:
Một là, nhận thức, tình cảm, ý chí và niềm tin chính trị của người công nhân đối với
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng.
Đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, người công nhân có
YTCT phải nhận thức sâu sắc và có niềm tin vững chắc được rằng, học thuyết Mác –
Lênin là hệ tư tưởng chính trị của GCCN, là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra
mục tiêu, chỉ rõ con đường và lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng triệt
để GCCN, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới thoát khỏi tình trạng
bị nô dịch và bóc lột, thoát khỏi đói nghèo và tha hoá về nhiều mặt; còn tư tưởng Hồ Chí
Minh là sự vận dụng học thuyết Mác – Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của
Việt Nam, chỉ ra con đường để cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động
của GCCN Việt Nam. Đồng thời, GCCN phải có ý chí kiên định, vững vàng, tuyệt đối
trung thành, không hoang mang dao động trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc;
tích cực học tập, trau dồi lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh không
khoan nhượng với các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, phủ nhận lý luận chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của giai cấp mình.
16
16
Ý thức chính trị của GCCN còn là nhận thức, tình cảm, ý chí và niềm tin của GCCN
đối với Cương lĩnh, quan điểm, đường lối, chiến lược, sách lược… của Đảng. Có YTCT khi
giai cấp công nhân có hiểu biết sâu sắc, tuyệt đối tin tưởng vào Cương lĩnh, quan điểm,
đường lối, chiến lược, sách lược, vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam;
chủ động tự giác, khắc phục mọi khó khăn để thực hiện và đưa các quan điểm, đường lối của
17
Nhận thức đúng về sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đòi hỏi người
công nhân phải giác ngộ về tính tất yếu khách quan, mục tiêu, nguyên tắc của đổi mới: Đổi
mới không phải là từ bỏ mục tiêu CNXH mà là làm cho CNXH được nhận thức đúng đắn
hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng,
vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm
nền tảng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng; còn phải hiểu rằng, sự nghiệp
đổi mới, bên cạnh những thời cơ và thuận lợi, còn nhiều thử thách và nguy cơ cần vượt qua
để tiếp tục đưa sự nghiệp này tiếp tục tiến lên.
Người công nhân có nhận thức và thái độ đúng đối với sự nghiệp CNH, HĐH, đổi
mới toàn diện đất nước phải là người có sự quan tâm, nghiên cứu để biết được những nội
dung lớn trong đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nhất là
những nội dung có liên quan trực tiếp đến công nhân và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước để
qua đó góp phần vào việc giải thích, tuyên truyền và luôn bảo vệ đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước. Đồng thời, tích cực chủ động đóng góp sức mình vào thắng lợi của sự
nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước mà trước hết là đóng góp vào sự nghiệp đổi mới
của doanh nghiệp, nhà máy mình làm việc. Sự đóng góp này bắt đầu từ việc chấp hành
tốt mọi quy định của doanh nghiệp, nhà máy; không ngừng nâng cao trình độ, tay nghề,
nâng cao năng xuất, chất lượng lao đông; tích cực hăng say lao động sản xuất hoàn thành
tốt nhiệm vụ của mình… để đưa doanh nghiệp, nhà máy đi lên trong sự nghiệp đổi mới…
Ba là, nhận thức, tình cảm, ý chí và niềm tin chính trị của người công nhân đối với
hệ thống chính trị và các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thực hiện
bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó là hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm các
đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau
trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố,
duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền.
đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, thực hiện cuộc vận động
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từng bước hình thành văn hóa Đảng, văn hóa lãnh đạo của
Đảng. Từ đó đòi hỏi mỗi người công nhân phải xây dựng kế hoạch và ý chí quyết tâm rèn
luyện, phấn đấu để sớm đứng trong đội ngũ của Đảng.
Đối với Nhà nước, người công nhân có YTCT phải nhận thức được rằng, Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo
của Đảng; Nhà nước quản lí sự phát triển mọi mặt của đất nước theo đường lối, chủ trương
của Đảng nhằm xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong
điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng mạnh bởi Nhà nước mạnh. Do đó, người công nhân có
YTCT cao còn phải biết được và có thái độ đúng đắn trước những bất cập hiện nay của Nhà
19
19
nước ta; những yêu cầu về cải cách nền hành chính nhà nước để xây dựng Nhà nước ta trong
sạch, vững mạnh, từ đó, người công nhân có trách nhiệm tham gia vào tổ chức công đoàn,
thực hiện công tác quản lý, giám sát hoạt động quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp theo luật định.
Đối với Công đoàn, người công nhân có YTCT phải là người tham gia vào tổ chức
công đoàn. Đồng thời, phải nhận thức được rằng, cùng với các cơ quan Nhà nước, Công
đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của GCCN và của người lao động, là tổ chức xã hội chăm
lo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người công nhân, lao động; tham gia
quản lí Nhà nước và xã hội; tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước;
giáo dục cán bộ, công nhân viên chức và những người lao động khác ý thức xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Người công nhân có YTCT còn phải tích cực tham gia xây
dựng tổ chức Công đoàn; hiểu được những vấn đề cơ bản trong Luật Công đoàn…
Ngoài những yếu tố trên thì việc nhận thức đúng về vị trí, vai trò của hệ thống chính
trị cũng đồng thời yêu cầu GCCN phải ý thức sâu sắc về tính tất yếu, mục đích, nội dung
Do đó, người công nhân có YTCT là những người nhận rõ các dạng quan điểm sai
trái và những hiện tượng tiêu cực về chính trị đang nảy sinh trong xã hội; luôn khẳng định
lập trường GCCN của Đảng và Nhà nước ta trước những biến động phức tạp trên thế giới và
trong nước. Từ đó củng cố nhận thức chính trị, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhạy
bén, tỉnh táo, nhận thức đúng và đầy đủ tính chất gay gắt và phức tạp của cuộc đấu tranh
chống “diễn biến hòa bình”, âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá cách
mạng của các thế lực thù địch, phản động; kịp thời phát hiện và đấu tranh kiên quyết, hiệu
quả trước các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, các hành vi gây phương hại đến sự ổn định,
vững mạnh và phát triển của chế độ XHCN, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân.
Năm là, nhận thức, tình cảm, ý chí và niềm tin chính trị của người công nhân đối
với khối liên minh công – nông – trí thức, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chủ nghĩa
quốc tế của GCCN.
Muốn thực hiện được SMLS to lớn của mình, GCCN buộc phải liên minh với các
giai tầng khác để tập hợp lực lượng. Do vậy, có YTCT khi người công nhân nhận thức được
rằng, cùng với GCCN, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là những lực lượng cách mạng
đông đảo, quan trọng; nắm được tính tất yếu cũng như những nội dung cơ bản của liên minh
công – nông – trí thức. Có YTCT, người công nhân còn phải nhận thức được, liên minh giữa
GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là cơ sở xã hội chủ yếu nhất của Đảng và
Nhà nước ta, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và là cơ sở vững chắc thực hiện
thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên
CNXH ở nước ta; vận dụng được phần nào vào nhìn nhận trong thực tiễn ở doanh nghiệp
của mình, làm cơ sở để xây dựng liên minh công – nông – trí thức trên phạm vi toàn xã hội;
phối hợp làm tốt công tác vận động quần chúng; tích cực đóng góp sức lực, trí tuệ thực hiện
21
21
22
22
Về vấn đề này, người công nhân có YTCT phải nhận thức được rằng, trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, sự hợp tác với giới chủ là tất yếu.
Mối quan hệ này vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh trên cơ sở thấu tình đạt lý, đúng quy
định của pháp luật, đặc biệt là Bộ luật Lao động; phải động viên mọi người thực hiện tốt
các quy định của pháp luật; đồng thời có thái độ rõ ràng, dứt khoát, kiên quyết đấu tranh
với những việc làm sai trái và những biểu hiện vi phạm mối quan hệ giữa người lao động
và người sử dụng lao động trên cơ sở pháp luật; không vì lợi ích trước mắt của mình mà
đánh mất đi danh dự, nhân phẩm của người công nhân Việt Nam. Từ đó, góp phần xây
dựng mối quan hệ lao động hài hòa và ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự phát triển của
doanh nghiệp, vì lợi ích chính đáng của hai bên và do đó, của xã hội.
Tóm lại, những biểu hiện nêu trên đã phản ánh nội dung cốt lõi YTCT của GCCN
Việt Nam và giữa chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy và ảnh hưởng lẫn nhau, từng
bước hình thành, phát triển và tác động trở lại đối với hoạt động thực tiễn của GCCN Việt
Nam. Từ tổng thể của các biểu hiện ấy giúp chúng ta có thể nhận ra YTCT của người công
nhân trong thực tế.
1.2. Vai trò ý thức chính trị đối với giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Ý thức chính trị sẽ quyết định đến các hoạt động chính trị. Vì vậy, YTCT cao hay
thấp sẽ dẫn đến những hành động chính trị đúng hay sai, từ đó quyết định đến việc đạt hay
không đạt được lợi ích chính trị.
Đối với GCCN Việt Nam, YTCT là cơ sở quan trọng để GCCN phát huy vai trò lãnh
đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng là cơ
sở quan trọng để GCCN Việt Nam thực hiện thắng lợi SMLS của mình. Tầm quan trọng này
được thể hiện ở một số điểm sau:
1.2.1. YTCT là cơ sở để GCCN Việt Nam nhận thức rõ vai trò của mình trong đời
Trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay, các tổ chức chính trị - xã hội cơ bản
gồm có: tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên. Thông qua hoạt động của mình, các tổ
chức chính trị - xã hội này sẽ thực hiện chức năng lãnh đạo, giám sát (thông qua các cơ
chế, chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước…) các doanh nghiệp trong việc thực
hiện đúng hợp đồng lao động và thoả ước lao động giữa chủ doanh nghiệp và người lao
động, bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp tuân thủ pháp luật; đại diện, bảo vệ quyền, lợi
ích chính đáng cho người lao động; là môi trường để bồi dưỡng nhận thức chính trị - xã
hội, chăm lo đời sống văn hoá và tay nghề cho người lao động theo hướng nâng cao vai trò
và năng lực làm chủ của người lao động; tạo ra mối quan hệ bình thường giữa người sử
dụng lao động và hệ thống chính trị trong doanh nghiệp… Sẽ không có các tổ chức chính
trị - xã hội vững mạnh, hoạt động có hiệu quả khi các thành viên không hiểu gì về nó, cũng
như không tích cực tự giác tham gia hoạt động trong các tổ chức đó.
Do vậy, có YTCT sẽ giúp người công nhân hiểu đúng, đầy đủ hơn vị trí, vai trò,
chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp; giúp cho
người công nhân nhận thức được rằng, chỉ có tham gia vào các tổ chức đó mới có thể thực
hiện đầy đủ nhất, đảm bảo đầy đủ nhất các quyền và lợi ích cơ bản của mình, từ đó người
công nhân sẽ tự nguyện, tự giác tham gia vào các tổ chức đó. Có YTCT giúp người công
nhân phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của mình, mạnh dạn nói lên những tâm tư,
tình cảm, nguyện vọng của mình, chỉ ra những ưu khuyết điểm, những hoạt động cần thiết
đối với người công nhân… để qua đó các tổ chức chính trị - xã hội của công nhân không
ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động cho phù hợp, hiệu quả. Đồng thời, có
YTCT sẽ giúp người công nhân tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng trong các
25
25
tổ chức chính trị - xã hội của mình để không ngừng trưởng thành về mọi mặt.
Đặc biệt, có YTCT sẽ giúp đội ngũ cán bộ lãnh đạo gồm những người kiên định