LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP ở TỈNH bắc NINH HIỆN NAY - Pdf 38

MỤC LỤC
Trang
3

MỞ ĐẦU

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT

12

NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH

1.1.

Đất nông nghiệp và vai trò của đất nông nghiệp đối với

12

sản xuất
1.2.

Quan niệm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, tiêu

19

chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp
1.3.



62

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH

3.1.

Quan điểm cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng

62

đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
3.2.

Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng

71

đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
KẾT LUẬN

89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

90

PHỤ LỤC


KT-XH

Tư bản chủ nghĩa

TBCN

Ủy ban nhân dân

UBND


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với tất cả các quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý
giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là bộ phận hợp thành quan trọng của môi
trường sống, là địa bàn phân bố và tổ chức các hoạt động KT-XH, an ninh,
quốc phòng. Trong nông nghiệp, đất đai không những là đối tượng lao động
mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng
tăng về lương thực, thực phẩm, nhà ở, trường học, bệnh viện, đường sá, cùng
các nhu cầu khác về văn hóa, xã hội, v.v. Con người đã tìm mọi cách để khai
thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó. Đất đai, đặc
biệt là đất nông nghiệp, có hạn về diện tích, nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái
dưới tác động của thiên nhiên và của con người trong quá trình sản xuất. Đó
là chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị
hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn
chế. Do vậy, việc đánh giá HQSD đất sản xuất nông nghiệp, để từ đó lựa chọn
cách sử dụng đất có hiệu quả, đảm bảo cho sự phát triển bền vững đang trở
thành vấn đề mang tính chất toàn cầu.
Tỉnh Bắc Ninh nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc, có vị trí

trong một phạm vi hạn chế của một số luận văn, luận án, các đề tài nghiên
cứu, hay sách chuyên khảo, đã công bố, chủ yếu được đề cập dưới dạng
những tác động của chính sách đất đai. Dưới đây là một số công trình, sách,
báo khoa học có liên quan đến đề tài, được tác giả chia thành ba nhóm:
* Các sách chuyên khảo có liên quan đến đề tài
Trước hết, phải kể đến cuốn sách của Nguyễn Ngọc Bình (2007), Đất và
những kiến thức sử dụng đất cho nông dân, Nxb Nông nghiệp Hà Nội. Trong
công trình khoa học này, tác giả Nguyễn Ngọc Bình đã trình bày những kiến
thức cơ bản về đất, như: khái niệm về đất, các thành phần cấu tạo và tính chất
4


của đất. Trên cơ sở đó, tác giả đã cung cấp những kiến thức cơ bản để sử dụng
đất có hiệu quả và bền vững, như: phải phân loại đất thích hợp với từng loại cây
trồng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác. Tác giả cũng đã trình bày các
biện pháp để độ phì nhiêu của đất được bảo toàn và bền vững cả về kinh tế, xã
hội, môi trường. Cuốn sách này giúp chúng ta hiểu sâu hơn về đất, làm cơ sở cho
việc lựa chọn cây trồng phù hợp với từng loại hình đất, biết cách cải tạo đất để
nâng cao độ phì của đất, thiết thực góp phần nâng cao HQSD đất nông nghiệp.
Thứ hai là cuốn sách Lâm Quang Huyên (2007), Vấn đề ruộng đất ở
Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Trong cuốn sách này, tác giả Lâm
Quang Huyên đã trình bày có tính hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về ruộng đất và đường lối, quan điểm của
Đảng, chính sách về ruộng đất của Nhà nước ta qua các thời kỳ; trong đó có
bàn và phân tích sâu thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay. Tác giả đã hệ thống lại
quá trình thực hiện cách mạng ruộng đất ở Việt Nam, đánh giá những thành
công, thất bại và nguyên nhân của những thành công, thất bại đó. Tác giả cũng
đã nêu một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề ruộng đất ở một số nước trên thế
giới và kinh nghiệm sử dụng ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp ở một số địa
phương, như: xây dựng cánh đồng 50 triệu/ha/năm ở Thái Bình; xây dựng vùng

Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên. Trong công
trình nghiên cứu này, tác giả Lê Thanh Minh đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận
và thực tiễn về mối quan hệ giữa đô thị hóa với HQSD đất nông nghiệp; phân
tích, đánh giá đặc điểm và HQSD đất nông nghiệp đối với từng hộ gia đình,
từng loại cây trồng, vật nuôi trong quá trình đô thị hóa. Điều đáng chú ý là tác
giả đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao HQSD đất nông nghiệp trong quá
trình đô thị hóa, như: thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước về chính
sách đất đai; đẩy mạnh hoạt động tín dụng cho nông dân vay vốn, ứng dụng
khoa học - kỹ thuật trong sản xuất, tìm thị trường cho nông dân; chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, v.v.
Nguyễn Thị Hiền (2011), Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc
6


Ninh, Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội.
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã tập trung làm rõ một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam, trình bày các quan
điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững, các yếu tố chi phối đến HQSD đất
nông nghiệp. Tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế, hiệu
quả xã hội và hiệu quả môi trường khi sử dụng các loại hình đất nông nghiệp
của huyện Quế Võ; trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả
các loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Trong đó,
đáng chú ý là các giải pháp về thực hiện cơ chế chính sách, tài chính; dồn điền
đổi thửa, cải tạo đất, vốn và thị trường nông sản, v.v.
Bùi Nữ Hoàng Anh (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong
sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Yên Bái giai đoạn 2012-2020, Luận án tiến sĩ
nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả
Bùi Nữ Hoàng Anh đã tập trung trình bày những nội dung về đất nông
nghiệp, như: khái niệm đất nông nghiệp, phân loại và đặc điểm kinh tế của đất

pháp nâng cao HQSD đất nông nghiệp. Vì vậy, đây là các tài liệu tham khảo
rất có giá trị đối với học viên. Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu của học viên
không trùng lặp với các luận văn, luận án đã công bố.
* Các bài báo khoa học có liên quan đến đề tài
Trần Thị Minh Châu (2011), "Chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam",
Tạp chí Cộng sản, số 824; Nguyễn Mạnh Tuân (2011), "Chính sách về đất đai
trong nông nghiệp ở Việt Nam : thực trạng và những kiến nghị", Tạp chí Nghiên
cứu kinh tế, Số 396 (5/2011); Nguyễn Sinh Cúc (2008), "Ổn định đất nông
nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia", Tạp chí Lý luận chính trị, số 9.
Trong những bài viết trên, các tác giả đã trình bày vai trò của đất nông
nghiệp, chính sách đất nông nghiệp, sự hình thành, phát triển chính sách đất
nông nghiệp, phân tích làm rõ những thành công và hạn chế về chính sách đất
nông nghiệp của nước ta qua các thời kỳ; trên cơ sở đó, đề xuất một số giải
pháp lớn đối với chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay nhằm nâng
8


cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực,
phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Phạm Văn Vân và Nguyễn Thanh Trà (2010), “Đánh giá HQSD đất
nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ - Hà Nội”, Tạp chí Khoa học và Phát triển,
tập 8, số 5, trang 850-856, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. Trong bài
viết này, nội dung đáng chú ý là các tác giả đã chỉ ra những tiêu chí đánh giá
HQSD đất nông nghiệp; trên cơ sở kết quả khảo sát, điều tra, phân tích kết
quả, tác giả đã đánh giá khá chi tiết hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường
đối với từng loại hình đất nông nghiệp, từng vùng sản xuất, từng loại cây
trồng chính ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Bùi Nữ Hoàng Anh, Trần Chí Thiện (2013), “Phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Yên Bái”,
Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, Số 423-8/2013, trang 36 - 45. Bài viết này của hai

trong những năm qua.
- Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao HQSD
đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu HQSD đất để sản xuất nông nghiệp trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh, với chủ thể sử dụng đất là người được giao quyền sử
dụng đất nông nghiệp; có tính đến chủ thể sở hữu là nhà nước khi bàn các
nhân tố chi phối và giải pháp nâng cao HQSD đất nông nghiệp.
Việc phân tích thực trạng HQSD đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh được
giới hạn trong thời gian từ năm 2009 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; quan
điểm, đường lối, chính sách về sử dụng đất nông nghiệp của Đảng và Nhà
10


nước ta; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh cùng những chủ
trương, biện pháp của địa phương trong những năm gần đây về quản lý, sử
dụng và nâng cao HQSD đất nông nghiệp.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học của kinh tế
chính trị Mác - Lênin để làm sáng tỏ cơ sở lý luận về HQSD đất nông nghiệp;
sử dụng các phương pháp: kết hợp lô-gíc với lịch sử, so sánh, phân tích, tổng
hợp, thống kê, khảo sát trực tiếp tại địa phương, phỏng vấn cán bộ Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn và bà con nông dân tại các địa phương đến
khảo sát, phương pháp chuyên gia cùng một số phương pháp khác để phân

tác động của nước, không khí, sinh vật”, và “ Đất đai là phần bề mặt của trái
đất có đặc điểm bao gồm tất cả những thuộc tính tương đối ổn định của sinh
quyển trên và dưới bề mặt đó, từ khí quyển đến thổ nhưỡng, địa hình, địa
mạo, thủy văn, quần thể động, thực vật, cho đến những kết quả của hoạt động
con người trong quá khứ và hiện tại, trong chừng mực những thuộc tính đó có
ảnh hưởng, có ý nghĩa đến sử dụng đất của con người trong hiện tại và tương
lai” [27, tr.170]. Dưới góc độ kinh tế chính trị, đất đai là một loại tư liệu sản
xuất cơ bản, thiết yếu của quá trình sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất
nuôi sống con người (sẽ làm rõ hơn ở 1.1.2). Loại tư liệu sản xuất này ở nước
ta có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng; trong đó, Nhà nước
với tư cách là người chủ sở hữu giao quyền sử dụng có thời hạn cho các tổ
chức, cá nhân sử dụng theo quy định của pháp luật.
Như vậy, đất là một vật thể tự nhiên độc lập, có những quy luật phát
sinh, phát triển riêng theo không gian và thời gian, như các vật thể tự nhiên
khác. Nhưng từ sau khi loài người xuất hiện, thì đất là đối tượng lao động, là
12


tư liệu sản xuất của con người, và còn là sản phẩm lao động của con người.
Bởi vậy, qua các hoạt động sản xuất của mình, con người cũng là một yếu tố
quan trọng trong quá trình hình thành đất. Cho nên, các loại đất xấu hay tốt
không phải đơn thuần chỉ do các quy luật của tự nhiên, mà con người khi sử
dụng đất, dựa vào các đặc tính của nó, có thể làm cho đất xấu trở thành đất
tốt, đất tốt ngày càng tốt hơn qua quá trình sử dụng và ngược lại.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng là tổ hợp các ngành gắn liền với các quá
trình sinh học, bao gồm cả nông nghiệp theo nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi),
lâm nghiệp (trồng và khai thác bảo vệ tài nguyên rừng), ngư nghiệp (đánh bắt
và nuôi trồng thủy sản), diêm nghiệp (làm muối). Thực tiễn cho thấy, trong
một thời gian dài của lịch sử, nông nghiệp là một ngành kinh tế chủ yếu của
hầu hết các quốc gia. Nông nghiệp là khu vực duy nhất sản xuất ra lương

trại chăn nuôi hoặc nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi, đất ươm tạo
cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh” [20, tr.120]. Như vậy, nói đến
đất nông nghiệp, hiện nay người ta thường hiểu sẽ bao gồm:
Đất sản xuất nông nghiệp: bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất
trồng cây lâu năm;
Đất lâm nghiệp: bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất
rừng đặc dụng;
Đất nuôi trồng thủy sản: đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi
trồng thủy sản nước lợ, nước mặn và nước ngọt;
Đất làm muối: là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối;
Đất nông nghiệp khác: gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các
loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt
không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và
các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi,
nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm
tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh. Trong phạm vi nghiên
cứu của luận văn này, do vị trí địa lý của Bắc Ninh không có biển, nên đất nông
nghiệp ở Bắc Ninh không có loại hình đất làm muối.
14


Đất nông nghiệp có những đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, đất nông nghiệp có vị trí cố định không di chuyển được.
Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu, nhưng lại có vị trí cố định,
không thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, gắn liền với điều kiện tự
nhiên, điều kiện KT-XH của mỗi vùng. Đặc tính này đồng thời quy định tính
giới hạn về quy mô theo không gian gắn liền với môi trường mà đất đai chịu
sự chi phối; gắn liền với nguồn gốc hình thành của đất đai, địa hình, khí hậu,
kết cấu đất, độ màu mỡ, vị trí của đất, v.v. Vị trí của đất nông nghiệp có ý
nghĩa lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác sử dụng đất. Thông thường,

Ba là, đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm
của lao động.
Đất nông nghiệp vốn là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện và tồn tại ngoài ý
muốn của con người. Đất nông nghiệp được hình thành do quá trình phong hoá
đá và sự tác động của vi sinh vật, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng... và do con người
tiến hành khai phá, đưa vào sử dụng nhằm phục vụ lợi ích của con người. Trong
quá trình lịch sử lâu dài đó, lao động của con người qua nhiều thế hệ đã được kết
tinh vào đó. Do đó, ngày nay đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa
là sản phẩm của lao động. Đặc điểm này đặt ra trong quá trình sử dụng, con
người cần phải không ngừng cải tạo và bồi dưỡng, đồng thời phải khai thác đất
nông nghiệp cho hợp lý để làm cho đất ngày càng màu mỡ hơn.
Bốn là, đất nông nghiệp có chất lượng không đồng đều.
Đất nông nghiệp không đồng nhất về chất lượng do sự khác nhau giữa
các yếu tố dinh dưỡng vốn có của nó. Trước hết, đó là kết quả của quá trình
hình thành đất và đây chính là một điều kiện dẫn đến hình thành địa tô
chênh lệch I; mặt khác, quan trọng hơn là quá trình canh tác của con người.
Nếu trong quá trình sử dụng, khai thác đất nông nghiệp, người sử dụng đất
thường xuyên đầu tư cải tạo và bồi dưỡng cho đất, thì sẽ bảo tồn và nâng cao độ
màu mỡ của đất nông nghiệp ở từng cánh đồng, từng khu vực. Từ đó sẽ đạt
được năng suất cây trồng cao. Đây cũng chính là một điều kiện dẫn đến hình
thành địa tô chênh lệch II mà C. Mác đã chỉ ra trong lý luận địa tô TBCN. Vận
dụng trong điều kiện hiện nay, đó cũng chính là phương thức nâng cao HQSD
đất nông nghiệp. Điều đó đòi hỏi người sử dụng đất nông nghiệp phải xác định
16


tỷ lệ hợp lý về các nguồn lực như: vốn, nhân lực, loại cây trồng, vật nuôi…
trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Có như vậy thì mới có thể đem lại hiệu
quả kinh tế cao cho mình.
1.1.2. Vai trò của đất nông nghiệp đối với sản xuất

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp, vì nó có vai
trò quyết định trong việc tạo ra các loại nông sản. Nếu không có đất thì không
thể tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp được; và do đó cũng không
thể có nông sản được. Cho đến nay, nơi duy nhất để sản xuất ra lương thực,
thực phẩm nuôi sống con người vẫn cơ bản là đất nông nghiệp.
Thứ hai, đất nông nghiệp là môi trường sống, môi trường không gian
quan trọng để sản xuất nông nghiệp.
Chúng ta đều biết rằng, đất là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống. C.Mác đã chỉ ra rằng: “ Đất là không gian, yếu tố cần thiết của
tất thảy mọi sự sản xuất và mọi hoạt động của loài người” [16, tr.473]. Sản
xuất nông nghiệp có đặc thù là hoạt động sản xuất cơ bản diễn ra ở ngoài trời,
phải tiếp xúc với tự nhiên. Mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra đều
cần phải có đất. Cây trồng, vật nuôi đều phải dựa vào đất và mặt nước để phát
triển. Tất cả những yếu tố đó chính là môi trường sống, là không gian để sản
xuất nông nghiệp. Thực tế lịch sử cho thấy: đất là yếu tố không thể thiếu
trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của các thế hệ con người. Hiện nay,
khoa học - công nghệ phát triển, con người có thể sản xuất ra một số sản
phẩm nông nghiệp mà không cần sử dụng đất nông nghiệp; song trên thực tế,
điều đó chưa phải là phổ biến, vì sản xuất theo phương pháp đó có chi phí quá
cao, không hiệu quả, không thể tạo khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn. Cho
đến nay, hình thức sản xuất này chưa thể mở rộng một cách phổ biến được. Và
suy cho đến cùng, dù có ứng dụng khoa học - công nghệ bao nhiêu đi chăng
nữa, thì sản xuất nông nghiệp vẫn cần phải có không gian đất nông nghiệp nhất
định. Vì vậy, đất nông nghiệp vẫn đóng vai trò hàng đầu trong sản xuất nông
nghiệp hiện nay.
Thứ ba, quyền sử dụng đất nông nghiệp được coi là phương tiện góp
vốn để phát triển sản xuất.
18




cái mà con người mong đợi và hướng tới khi thực hiện một công việc so với
mục đích được kỳ vọng.
Khái niệm hiệu quả có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác
nhau. Trong sản xuất, nói đến hiệu quả có nghĩa là nói đến hiệu suất, năng
suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra
một đơn vị sản phẩm; hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian. Trong kinh doanh, hiệu quả được thể hiện ở lãi suất,
lợi nhuận trên một đơn vị vốn đầu tư. Trong các hoạt động xã hội phi lợi
nhuận, thì hiệu quả ở đây là hiệu quả xã hội, được coi là kết quả đạt được
so với mục đích đặt ra của hoạt động xã hội đó.
Nhìn chung, hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so
sánh giữa kết quả đạt được và chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó trong
một thời kỳ nhất định.
* Quan niệm về sử dụng đất nông nghiệp và các nguyên tắc sử dụng
đất nông nghiệp.
Sử dụng đất nông nghiệp là hệ thống các biện pháp của người được
giao quyền sử dụng đất thực hiện để tác động vào đất nông nghiệp nhằm đạt
được các lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường. Do đất đai có hạn; vừa là
sản vật của tự nhiên, vừa là sản vật của lao động; vừa là tư liệu lao động, vừa
là đối tượng lao động, nên quá trình sử dụng đất nông nghiệp cũng là quá
trình tác động của con người vào giới tự nhiên. Do vậy, quá trình sử dụng đất
nông nghiệp đòi hỏi người được giao quyền sử dụng đất phải tuân theo những
nguyên tắc nhất định. Cụ thể là:
Thứ nhất, đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý. Điều này
có nghĩa là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cần được sử dụng hết vào sản
xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng
loại đất, nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi.
Thứ hai, đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao. Đây là kết
quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai. Việc xác định HQSD đất nông

Thứ hai, chi phí bỏ ra là những chi phí mà người sử dụng đất bỏ ra
trong quá trình sản xuất nông nghiệp, bao gồm: chi phí lao động sống và lao
động quá khứ. Những chi phí thường được tính đến là: chi phí lao động và
21


dịch vụ; chi phí: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi,
thuốc chữa bệnh cho gia súc, gia cầm, khấu hao nông cụ (máy móc), chuồng
trại, xăng dầu, điện, nước, v.v.
Thứ ba, HQSD đất nông nghiệp được xem xét cả về định tính và định
lượng. Về mặt định lượng, đó là so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ ra,
người ta chỉ thu được hiệu quả khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra. Độ
chênh lệch, hay tỷ lệ đó càng lớn thì hiệu quả sử dụng đất càng cao và ngược
lại. Về mặt định tính, mức độ hiệu quả sử dụng đất phản ánh nỗ lực của từng
khâu, của mỗi lực lượng trong cả quá trình sản xuất; phản ánh trình độ quản lý,
sử dụng đất nông nghiệp; sự gắn kết, phối hợp trong việc giải quyết những yêu
cầu về mục tiêu kinh tế với yêu cầu mục tiêu chính trị, xã hội và môi trường.
Thứ tư, việc đánh giá HQSD đất nông nghiệp được xác định trong
không gian và thời gian cụ thể (diện tích, mùa vụ hay một năm). Do vậy,
HQSD đất nông nghiệp còn được thể hiện ở việc tận dụng tối đa diện tích đất
nông nghiệp hiện có, không để đất bỏ hoang và ở việc tăng hệ số sử dụng đất,
tăng vòng quay sử dụng đất.
1.2.2. Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Để đánh giá HQSD đất nông nghiệp, người ta thường vận dụng 3 tiêu
chí về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Trước hết, về hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất nông nghiệp.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạt
động kinh tế. Bàn về vấn đề này cũng có nhiều quan điểm và tiếp cận dưới
nhiều góc độ khác nhau. Theo ngành thống kê định nghĩa, thì hiệu quả kinh tế
là một phạm trù kinh tế, biểu hiện của sự tập trung phát triển theo chiều sâu,

Thứ hai, hiệu quả xã hội của việc sử dụng đất nông nghiệp.
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế
và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người. Việc lượng hoá các chỉ
tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nên hiệu quả xã hội
chủ yếu thể hiện ở các chỉ tiêu định tính, như: giải quyết việc làm cho người
lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao
mức sống của người dân, nâng cao trình độ dân trí của người dân, v.v.
23


Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp phản ánh mối tương quan
giữa kết quả thu được về mặt xã hội mà việc sử dụng diện tích đất nông nghiệp đó mang lại
so với các chi phí bỏ ra. Khi đánh giá về hiệu quả xã hội của việc sử dụng đất nông nghiệp,
người ta thường quan tâm đến chỉ tiêu khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện

tích đất nông nghiệp.
Thứ ba, hiệu quả môi trường của việc sử dụng đất nông nghiệp.
Ngày nay, giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường là vấn đề mang tính
toàn cầu. Vì thế, việc đánh giá tác động môi trường là điều không thể bỏ qua
trong những hoạt động của con người tác động đến giới tự nhiên. Quá trình sử
dụng đất nông nghiệp là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên, nên
quá trình đó được coi là có hiệu quả, khi nó không gây tổn hại hay có những
tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí
cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học.
Hiệu quả môi trường của việc sử dụng đất nông nghiệp là mức độ ảnh
hưởng đến môi trường do quá trình sử dụng đất nông nghiệp sản sinh ra dưới các
tác động vật lý, hóa học, sinh học, v.v. Tiêu chí này thường được xem xét ở chỉ
tiêu: mức độ ô nhiễm môi trường (nước, không khí, đất) do quá trình sử dụng đất
nông nghiệp và ở mức độ giảm (tăng) độ phì nhiêu của đất nông nghiệp. Cụ thể
hơn, người ta thường xem xét tiêu chí này ở việc đảm bảo cho chất lượng đất

nhưỡng, chất lượng của đất nông nghiệp, hình thành nên điều kiện cho người
sản xuất nông nghiệp trên những mảnh đất đó đạt được lợi nhuận siêu ngạch.
Thêm nữa, nó chi phối đến quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp sao cho có
hiệu quả. Nắm vững yếu tố khí hậu thời tiết để bố trí cây trồng, vật nuôi hợp
lý, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, sẽ tránh được những thiệt hại
do khí hậu gây ra; đồng thời, giảm được tính thời vụ trong sản xuất nông
nghiệp, từ đó có thể nâng cao hệ số (vòng quay) sử dụng đất nông nghiệp.
Thứ hai, là phương thức canh tác, bao gồm các biện pháp kỹ thuật canh
tác. Đó là những tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm
tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để đạt hiệu quả kinh
tế cao. Điều này thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status