1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mấy thập kỷ qua, xung đột sắc tộc mang màu sắc tôn giáo nổ
ra gây mất ổn định ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới. Các thế lực thù
địch đã lợi dụng, cấu kết với số cầm đầu các tôn giáo trong âm mưu phá
hoại, xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô cũ và ngày
nay đang tiếp tục lợi dụng tôn giáo để thực hiện chiến lược "Diễn biến hòa
bình" đối với các nước còn lại - trong đó Việt Nam là một trong những mục
tiêu trọng điểm của chúng.
Ở nước ta, từ giữa thập kỷ 80, tình hình tôn giáo có những diễn biến
khá phức tạp, trong đó nổi lên vấn đề đạo Tin Lành phục hồi, phát triển
nhanh chóng, bất bình thường đối với các đồng bào dân tộc ở khu vực
Trường Sơn - Tây Nguyên nói chung, tỉnh Kon Tum nói riêng đã gián tiếp
tạo nên những nhân tố mất ổn định xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến sản
xuất, đời sống và an ninh trật tự ở nhiều vùng.
Để giải quyết vấn đề cấp bách này được tốt, các cấp ủy Đảng, các
ngành liên quan đặc biệt quan tâm, tìm mọi biện pháp để quản lý tốt hoạt
động của đạo Tin Lành, nhưng cho đến nay thực tế vẫn chưa có gì khả
quan. Các đối tượng đang thay đổi phương thức hoạt động nhằm trốn tránh
sự kiểm soát, quản lý của chính quyền để chống đối ta. Trong khi đó việc
giải quyết vấn đề tôn giáo ở cơ sở còn nhiều lúng túng, thiếu thống nhất từ
nhận thức đến chủ trương, biện pháp hành động; những điển hình kinh
nghiệm tốt bước đầu chưa được phổ biến nhân rộng; công tác phòng ngừa
chưa chủ động, hiệu quả hạn chế, chưa vững chắc và có những khuyết điểm
sai lầm chưa được uốn nắn kịp thời.
Vốn là người sống và làm việc trong vùng có Tin Lành hoạt động,
tác giả hiểu được phần nào những lo âu trăn trở của các địa phương trước
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cùng các cơ quan khác triển khai thực hiện
3
trong những năm gần đây có nhiều, nhưng ở cấp vĩ mô, phần lớn là ở khu
vực phía Bắc, còn ở các tỉnh khác do nhiều nguyên nhân nên chưa tiến
hành được. Đây cũng là một thiệt thòi cho địa phương và là trở ngại cho tác
giả khi tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề. Thiếu sót này của chúng ta là thể hiện
ở sự bỏ ngỏ về nhận thức trước một vấn đề có tính thời sự khi mà những
quần chúng là tín đồ Tin Lành chiếm một bộ phận lớn ở Kon Tum và trong
tương lai nó sẽ còn là một vấn đề bức xúc, phức tạp.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích:
Luận văn đi sâu nghiên cứu về sự phục hồi, phát triển của đạo Tin
Lành hiện nay, đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa
công tác quản lý nhà nước, góp phần ổn định tình hình chính trị, văn hóa,
xã hội, an ninh trật tự ở địa bàn tỉnh Kon Tum.
* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu quá trình du nhập, phát triển của đạo Tin Lành đến địa
bàn tỉnh Kon Tum.
- Tìm hiểu thực trạng của đạo Tin Lành ở Kon Tum hiện nay, chỉ ra
những nguyên nhân và dự báo xu hướng phát triển của đạo Tin Lành trong
những năm tới; đồng thời trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước về tôn giáo để có những giải pháp phù hợp với
tình hình mới.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn đi sâu nghiên cứu về một tôn giáo cụ thể là Tin Lành từ
sau thời kỳ đổi mới (1986) đến nay, trong phạm vi địa bàn tỉnh Kon Tum.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 1
QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN
ĐẠO TIN LÀNH VÀO ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
1.1. KHÁI QUÁT NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG Ở KON TUM CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN ĐẠO TIN LÀNH
1.1.1. Đặc điểm điều kiện địa lý tự nhiên
Kon Tum ở vị trí địa lý từ 107 020’ đến 108033’ kinh độ đông và từ
13055’ đến 15027’ vĩ độ bắc, là tỉnh miền núi vùng cao nằm ở cực bắc Tây
Nguyên; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam dài 152,5 km; phía Nam giáp tỉnh
Gia Lai dài 157,8 km; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi dài 78,8 km; phía
Tây giáp tỉnh Atôpư, Sê Kông (Lào); phía đông Bắc giáp tỉnh Ratanakiri
(Campuchia) dài 280,7 km [12, tr. 5].
Tỉnh Kon Tum có diện tích tự nhiên theo Nghị quyết Quốc hội
khóa VIII, kỳ họp lần thứ 9 thông qua ngày 12/8/1991 là 13.000 km 2; phần
lớn là rừng núi và cao nguyên, địa hình hiểm trở, vùng cao đất dốc, đồi núi
bị chia cắt mạnh [12, tr. 6].
Khí hậu Kon Tum có hai mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10,
mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình trong năm
là 230C. Mùa đông khô và ít lạnh, mùa hè mưa ẩm ướt, dịu mát, không có
bão và lũ lụt lớn, sương muối nhẹ, thời tiết tương đối dễ chịu đối với con
người, rất thuận tiện cho sự phát triển của cây trồng và vật nuôi [12, tr. 8].
Đất ở Kon Tum bao gồm nhiều loại trên nền đá mạc Granít, Giơrai,
Bazan. Những vùng bình nguyên bằng rộng có độ phì nhiêu cao thích hợp
cho các loại cây trồng như: cao su, cà phê, cây ăn quả các loại...Đất xám
pha cát nằm rãi rác ở thung lũng các sông suối như: Krông, Pô Cô, Đăk
Bla, Đăk Bơxy, H’drây, Đăk Pơne và có nhiều suối nhỏ rất thích hợp cho
cây lương thực như: lúa, mùa, đỗ, đậu... [12, tr. 9].
(Lào) dài 132km, qua Pắc Xế - giáp Thái Lan, đây cũng là con đường giao
lưu quan trọng của nhân dân hai tỉnh Nam Lào và Đông bắc Campuchia
7
(hiện nay đã mở cửa khẩu quốc tế tại xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi để nhân
dân 3 nước có điều kiện mở rộng buôn bán, trao đổi hàng hóa) [12, tr. 18].
Ngoài các quốc lộ chính, ở Kon Tum còn có đường ngang - chủ yếu
là đường cấp phối, chạy len lỏi, quanh co, cheo leo giữa các dãy núi cao,
tạo thành các nhánh nối quốc lộ đến các huyện trong tỉnh, các tỉnh đồng
bằng phía Đông với hạ lưu Đông bắc Campuchia.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế
Hoạt động kinh tế của các tộc người tỉnh Kon Tum bao gồm những
hoạt động kinh tế sản xuất, kinh tế khai thác tự nhiên, nhưng nhìn trên tổng
thể thì hầu hết các cư dân ở đây đều lấy kinh tế nông nghiệp làm phương
thức sinh sống chính. Do đó, khi nói đến các đặc điểm của hoạt động kinh
tế người ta thường bắt đầu từ hoạt động nông nghiệp.
- Canh tác nương rẫy: Các dân tộc ở Kon Tum đã tiến sâu vào giai
đoạn nông nghiệp trồng trọt. Trong nền kinh tế truyền thống, rẫy có vị trí
quan trọng hàng đầu, là nguồn sống chủ yếu của con người. Tại khoảnh
rừng đã chọn, trên cơ sở xem xét độ dốc, đất đai và đã tiến hành các nghi
thức tôn giáo xin phép thần linh suôn sẻ, việc đầu tiên là đốn cây, phát cỏ,
khai quang mặt bằng. Khi sắp đến thời vụ gieo trồng, người ta chỉ dọn rẫy,
rồi có thể dùng cây vót nhọn chọc hốc để tra hạt giống. Sau đó, rẫy được
rào giậu, trông coi. Cuối cùng là đến kỳ thu hoạch với đặc điểm nổi bật là
dùng đôi bàn tay trần tuốt lấy thóc. Ngoài ra, trên rẫy còn trồng nhiều thứ
khác để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống nặng tính tự cung tự cấp, nhưng
cây lúa giữ vị trí chủ đạo.
- Canh tác ruộng nước: Tuy không phổ biến nhưng nó có mặt trong
đích: để cúng và để ăn, nhưng chỉ ăn sau khi cúng, chứ người dân không
giết thịt chúng nhằm cải thiện bữa ăn. Đó là nếp truyền thống của người Tây
Nguyên.
Ngoài ra, ở Kon Tum chúng ta thấy còn có nghề đan lát, làm mộc,
dệt vải, rèn, làm gốm... nhưng đó chỉ là các hoạt động nhằm đáp ứng nhu
9
cầu cuộc sống của bản thân từng gia đình và chưa xuất hiện - dù chỉ một
làng, những người chuyên làm nghề thủ công để kiếm sống, mặc dù có nơi
sản phẩm của họ có phần trở thành hàng hóa. Chợ không phải là địa điểm
quan hệ giao lưu hàng hóa trong xã hội truyền thống, mà việc đó thường
diễn ra tại nhà. Với họ không có sự khác biệt giữa cái đem bán và cái mình
dùng. Họ không có tư duy của người sản xuất hàng hóa trong thương
trường. Hơn nữa, những thứ trở thành hàng hóa được họ làm ra không
nhằm mục đích hàng hóa đơn thuần, mà ở đó còn ẩn chứa cả lòng tự trọng,
tình hữu hảo trong quan hệ với người mua và người sử dụng.
1.1.3. Đặc điểm văn hóa xã hội
Trong lịch sử, cư dân các dân tộc tỉnh Kon Tum tự mình hình thành
nên một phong cách đặc trưng, tập quán văn hóa riêng mang đậm bản sắc
dân tộc với những truyền thống tốt đẹp, tạo nên sự phong phú, đa dạng của
nền văn hóa Việt Nam.
- Kết cấu dân cư và thành phần dân tộc: Qua tìm hiểu, nghiên cứu
những địa danh, dấu tích di chỉ khảo cổ học, những yếu tố văn hóa cổ xưa
còn lại trong lòng đất và đời sống của cư dân, "các nhà khoa học đều xác
định rằng ở Tây Nguyên từ ngàn xưa có người nguyên thủy sinh sống. Lớp
cư dân bản địa đầu tiên giả định là giống người tóc quăn, vóc dáng lùn, da
đen thuộc chủng tộc Ôxtraoit, đến nay chỉ còn lại những vết tích nhân
chủng ở cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa hiện đang sinh sống trên địa
đến cư trú trước kia chỉ xảy ra với các trường hợp: cá nhân hay gia đình có
sẵn người thân ở làng mà họ muốn nhập cư, hoặc đó là dâu, rễ của làng.
Mỗi làng có tên gọi riêng. Tên làng thường trùng với tên địa danh hoặc gọi
theo tên người hay dòng họ cụ thể đáng ghi nhớ, hoặc thể hiện đặc điểm
nơi cư trú hay lập làng. Trong làng người dân đều sống theo nếp tự quản,
có Trưởng làng quản lý chung. Trưởng làng là người già, nên thường được
mệnh danh là "Già làng" và nhân vật này cũng cần phải có một số ưu thế
khác người: hoạt bát, am hiểu về phong tục tập quán, giàu kinh nghiệm.
Trên cương vị của mình, Trưởng làng quán xuyến đời sống mọi mặt trong
12
cộng đồng, chi phối cuộc sống của làng, cả về dân sự lẫn quân sự, cả đối
nội lẫn đối ngoại, cả trong sinh hoạt kinh tế lẫn sinh hoạt cộng đồng. Ngoài
ra, khi nói đến bộ máy tự quản, người ta phải kể đến các bô lão, các thầy
cúng, những người giỏi về các hoạt động tín ngưỡng, giỏi về chỉ huy quân
sự thời còn "chiến tranh làng"....Một đặc trưng khác nổi bật trong quan hệ
xã hội là chế độ tự quản vận hành trên cơ sở luật tục. Đó là những quy ước,
quy tắc xã hội chỉ dẫn cách đối nhân xử thế, xác định hành vi tội phạm theo
truyền thống văn hóa của cư dân, xác lập hệ thống tôn ti trật tự, chế định
các mối quan hệ xã hội. Luật tục không chỉ có giá trị khi phân xử mà còn là
"kim chỉ nam" khuyên răn, hướng dẫn nhằm làm cho mọi người sống đúng
theo tập tục truyền thống của cha ông mình.
- Gia đình: Mỗi buôn làng luôn hội tụ nhiều gia đình. Là những vi
tế bào xã hội, các gia đình hợp thành từng cộng đồng cư trú - buôn làng.
Mỗi gia đình bao gồm những thành viên vài ba đời sinh thành từ một ông
bà tổ, nghĩa là có nhiều cặp vợ chồng với con cái họ, mà mối quan hệ trong
đó rất đa dạng: có quan hệ vợ-chồng, quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ
anh chị - em, quan hệ cô dì, chú bác - các cháu....Họ chung sống với nhau
nhiều tộc người còn có thiết chế họ nữa. Trong khi ở người Ba Na, Brâu,
Rơ Mâm, nhiều nhóm Xê Đăng không có họ kèm theo tên thì ở người Ja
Rai, Mnông, Giẻ-Triêng...có họ, và có một số tộc chia ra thành họ nam A
và nữ là Y (ví dụ tên nam là A Huân, tên nữ là Y Bé).
- Về hôn nhân, cưới xin: Việc kén chồng, chọn rễ ở người dân tộc
luôn được chú trọng đến năng lực, sức khỏe và đức hạnh. Tuổi lập gia đình
thông thường là từ 15 đến 20. Thanh niên nam nữ tự mình tìm hiểu bạn đời.
Họ không bị ép duyên, nhưng luật làng cấm những người trong họ không
được lấy nhau. ở người Giẻ-Triêng trai gái cùng Choong (cùng họ) không
14
thể là vợ chồng của nhau. Người Xê Đăng quy định cháu chắt sinh ra từ
một ông tổ thì 3 đời sau có thể lấy nhau, không phân biệt dòng cha hay mẹ.
Phong tục cưới hỏi ở người dân cũng thuần phát, đơn giản. Trai gái tỏ tình,
cầu hôn bằng cách trao tặng chiếc vòng đeo tay. Khi hai bên quyết định
tiến tới hôn nhân thì nghi thức hợp cẩn với ý nghĩa kết hợp đôi trai gái hòa
hợp với nhau là trọng tâm trong lễ cưới, hoặc họ đổi vòng cho nhau, hoặc
cùng ăn nắm cơm, miếng gan gà, uống chung một bát rượu.... Khi thành vợ
chồng chính thức, theo quan niệm người dân thì phải sau một năm mới
được có con, bằng không sẽ quy vào tội chửa hoang. Người ngoại tình và
người khởi xướng ly hôn phải bị nạp phạt theo quyết định xét xử của cộng
đồng [47, tr. 32].
1.1.4. Đặc điểm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo
Đối với người dân ở Kon Tum, tuy đời sống vật chất còn nghèo
nàn, lạc hậu, nhưng đời sống tinh thần lại phong phú, đa dạng, luôn làm
cho con người sống tràn ngập trong bầu không khí lễ hội như để tiếp thêm
sức mạnh, giúp họ tự tin, vững vàng hơn trong cuộc sống.
Tất cả dân tộc đều thống nhất một điểm bao trùm và chi phối quan
Ở người dân tộc, khái niệm Yàng được dùng phổ biến để chỉ đa số
các siêu nhiên mà trong tiếng Kinh thường gọi là Thần. Có loại thần thiện
phù hộ, đem lại lợi ích cho con người, có loại thần ác luôn gây tai họa.
Người dân tộc đều tin có tinh linh trong mỗi người đang sống, giống như
"hồn", "vía" ở người Kinh. Khi chết đi, hồn biến hóa khác nhau theo tín
ngưỡng của từng dân tộc. Người Brâu cho rằng "hồn" ở đỉnh đầu, sau khi
người chết thì hóa ra ma gây tai họa cho người sống. Người Giẻ-Triêng gọi
hồn là phol, cho rằng phol ẩn náu trong lỗ tai, sau khi người chết đi thì phol
biến thành chim teh hay chim king cang bay về với tổ tiên ở vùng Giằng
bên Quảng Nam. Người Ba Na tin mỗi người có 3 hồn, hồn chính ở xoáy
đầu, còn 2 hồn phụ ở trán và thân thể; hồn người chết hóa ra ma (atâu) và
qua 8 lần biến hóa, bắt đầu từ thành hổ, thành mèo rừng, thành chồn, cheo,
16
chuột, chuột không đuôi, sương mù và tan vào thiên nhiên. Thế giới người
chết được người dân mường tượng mô phỏng cuộc sống của chính họ,
nhưng có sự trái ngược, đối lập nhất định giữa đằng người và đằng ma, nếu
bên này là đêm thì bên kia là ngày. Vì vậy, cả cộng đồng phải thực hiện
những lễ thức tôn giáo và kiêng cử nhất định, với sự ảo vọng nhận được sự
bình yên, tránh được rủi ro, hiểm họa. Đó là dịp để cúng quải, hiến tế của
tập thể, định kỳ và không định kỳ do buôn làng tổ chức. Trước các thần, dù
để tạ ơn hay tạ lỗi, dù hứa hẹn hay xin điều gì, khi ấy lời cầu khấn phát ra
với tư cách cộng đồng và cả cộng đồng đang trông chờ chung sự linh
nghiệm ở những gì sẽ đến trong cuộc sống của buôn làng mình [77, tr. 18].
Như vậy, qua phân tích những đặc điểm chung của tỉnh Kon Tum,
chúng ta thấy rằng dù có ít nhiều sự khác biệt giữa các dân tộc, nhưng cái
chung lớn nhất được họ thể hiện rõ là tính cộng đồng cao trong lĩnh vực
sinh hoạt tín ngưỡng; đó là sợi dây liên kết ràng buộc con người lại với
phụ ông Mục sư hoặc Truyền đạo trong mọi công việc của Hội thánh.
- Truyền đạo: Có nhiệm vụ đi giảng đạo để truyền rao Tin Lành,
những người này phải học qua lớp kinh thánh. (ở Việt Nam học tại trường
Đà Nẵng).
- Mục sư: Các vị truyền đạo sau một thời gian phục vụ ít nhất là 2
năm có thể được Hội thánh phong Mục sư. Việc phong Mục sư do Hội
đồng phong chức gồm ít nhất 7 vị vừa là Mục sư vừa là giáo sĩ. Lễ tấn
phong Mục sư được tổ chức long trọng, một Mục sư thay mặt Hội đồng
nhân danh đức Chúa trời truyền đạt sứ mệnh cho tân Mục sư [2, tr. 30].
Cơ cấu tổ chức Hội thánh
Hội thánh Tin Lành được tổ chức theo chính thể cộng hòa, nghĩa là
mọi công việc của Hội thánh không do một thành viên nào tự quyết định,
nhưng cũng không phải mọi tín đồ đều có quyền tham gia bàn bạc, mà do
đại biểu các Chi hội công cử, gồm:
- Chi hội
18
- Địa hạt liên hội
- Tổng liên hội
- Chi hội: Nơi nào có tín đồ thì nơi đó đều có một Chi hội của Hội
thánh, có thể xem Chi hội là đơn vị cấp cơ sở nhỏ nhất của giáo hội có tư
cách pháp nhân. Chi hội do ông Mục sư nơi đó điều khiển và có một Ban
Trị sự. Ban Trị sự do tín đồ bầu ra. Mỗi Chi hội có một Ban Chứng Đạo do
vị Mục sư, Truyền đạo hoặc một tín đồ thành khẩn làm Trưởng ban. Thông
thường vào chiều chủ nhật, Ban Chứng Đạo đi phát và mời tín đồ đến dự
thính các giờ giảng Tin Lành. Hoạt động đáng ghi nhớ nhất của Chi hội là
Hội đồng thường niên, trong phiên họp này, tất cả tín đồ đều tham dự dưới
sự chủ tọa của Mục sư để bàn bạc, thảo luận công việc trong năm tới. Hội
tín đồ đạo Tin Lành đều được sử dụng, nói và làm theo kinh thánh. Riêng
trong bộ kinh Cựu ước có 46 quyển, tín đồ Tin Lành chỉ công nhận 36
quyển, còn lại họ cho là con người viết thêm vào nên không có ý nghĩa.
2. Giáo lý đạo Công giáo và Tin Lành về cơ bản giống nhau: cả hai
đều thờ Thiên chúa, tin theo thuyết Thiên chúa 3 ngôi (Cha - Con và Thánh
thần); tin vũ trụ, muôn vật đều do Thiên chúa tạo dựng, điều khiển; tin con
người do Thiên chúa tạo dựng một cách đặc biệt và có tội Tổ tông truyền;
tin có Ngôi Hai Thiên chúa là đấng Giêsu Kitô xuống trần chịu nạn chết
chuộc tội cho con người; tin có ngày Phục sinh và Phán xét.
3. Đạo Tin Lành tin có sự hoài thai Chúa Giêsu một cách mầu
nhiệm của bà Maria, nhưng cho rằng bà không phải là mẹ của Thiên chúa
và chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Giêsu, sau đó không còn đồng trinh nữa.
4. Đạo Tin Lành tin có thiên sứ, thánh tông đồ, các thánh tử đạo và
các thánh khác, nhưng không sùng bái lạy họ. Đạo Tin Lành không thờ
tranh ảnh, hình tượng cũng như các di vật, không tôn sùng và thực hiện
hành hương đến thánh địa kể cả ở Giêsuxalem, Nuixinai hoặc đền thánh
Phêrô và Phaolô.
20
5. Đạo Tin Lành tin có thiên đàng, địa ngục nhưng không quá coi
trọng tới mức dùng nó làm công cụ khen thưởng, răn đe, trừng phạt đối với
con người. Đạo Tin Lành đề cao lý trí trong đức tin, cho rằng sự rỗi chỉ đến
bởi đức tin chứ không phải vì những "hình thức ngoại tại" (ý nói các luật lệ,
lễ nghi). Do đó, các luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo của đạo Tin Lành
cũng đơn giản, không cầu kỳ, rườm rà như đạo Công giáo.
6. Tín đồ đạo Công giáo xưng tội trong tòa kín với Linh mục là
hình thức chủ yếu nhất, còn tín đồ Tin Lành xưng tội trực tiếp với Thiên
chúa. Khi xưng tội, cũng như cầu nguyện, họ có thể đứng giữa bàn thờ,
chịu lễ này. Người nào chưa tin Chúa, muốn vào đạo phải học hết giáo lý
cơ bản về đạo, sẽ được khảo hạch bởi một tiểu ban do Mục sư chủ tọa. Mục
sư này nếu thấy được sự xứng đáng thu nhận lễ Bắp têm thì sẽ nhân danh
đức Chúa 3 ngôi để làm lễ cho họ. Hội thánh không làm lễ này cho trẻ con,
mà phải từ 18 tuổi trở lên.
- Lễ Thánh thể (Lễ tiệc thánh): Cũng tương tự như Bí tích thánh thể
của Công giáo, lễ do Mục sư (hoặc Truyền đạo) chủ tọa, nhưng được thực
hiện đơn giản hơn. Sau lễ, tất cả tín đồ, giáo sĩ cùng uống rượu, ăn bánh và
dâng lời cầu nguyện tạ ơn Chúa. Những người chịu lễ Bắp têm mới được
dự lễ Thánh thể.
- Lễ Hôn phối: Các nam nữ tín đồ khi muốn kết hôn với nhau phải
được Mục sư làm lễ Hôn phối trong một buổi nhóm tại thánh đường hoặc
tư thất của tín đồ. Hội thánh Tin Lành Việt Nam không bao giờ cho phép
tín đồ ly dị trừ khi vì cớ ngoại tình.
- Lễ Dâng con: Đây là lễ để cha mẹ dâng con cho Chúa và biệt
riêng con mình cho Ngài.
- Lễ An táng: Khi một tín đồ đau ốm, gia đình báo cho vị Mục sư
hay Truyền đạo biết để đến xức dầu, cầu nguyện Chúa chữa bệnh cho. Nếu
không khỏi bệnh mà qua đời thì đó là bệnh nhân đã đẹp ý Chúa về nước
22
trời, lúc đó Mục sư phối hợp với Hội thánh làm lễ an táng cho người
chết [2, tr. 45].
Các hệ phái Tin Lành chính trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có trên 300 hệ phái Tin Lành, trong đó tập
trung nhất vẫn là các hệ phái chính sau: Phái Trưởng lão, Phái Bắp tít, Phái
Chứng nhân Giêhôva, Phái Mennônai, Phái Mooc Mông, Phái Ngũ Tuần,
Phái Giám lý, Phái Thanh giáo và Giáo hội cộng đồng, Phái Quaker, Phái
đến Đà Nẵng tá túc tại nhà của Binnet, người Pháp, lúc đó làm việc cho
Thánh
Kinh
hội, đặt vấn đề mua lại cơ sở để làm trụ sở của Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam [55, tr. 19].
Năm 1915, khi chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, mượn cớ các giáo sĩ
Tin Lành làm gián điệp (lúc này Pháp đánh nhau với Đức), nhà cầm quyền
Pháp ở Đông Dương cấm các giáo sĩ (hệ phái CMA) hoạt động, nhưng
trong lúc này, Mục sư Jaffray với tư cách là Phó hội trưởng CMA ở Trung
Quốc sang gặp toàn quyền Đông Dương để thương lượng và đề nghị cho
các giáo sĩ Tin Lành được hoạt động trở lại [2, tr. 30].
Từ ngày 5 đến 13/03/1927, Đại hội lần thứ IV ở Đà Nẵng bầu ra
Ban Trị sự Tổng liên hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam do Mục sư Hoàng
Trọng Thừa làm Hội trưởng và kiêm nhiệm Hiệu Trưởng trường Thánh
kinh Đà Nẵng [2, tr. 10].
Năm 1954, sau khi Hiệp định Giơnerver được ký kết, đất nước tạm
chia cắt ở vĩ tuyến 17, một cuộc di cư lớn diễn ra trong lịch sử với khoảng
1 triệu người từ Bắc vào Nam và khoảng 100.000 người từ Nam ra Bắc,
gây nên những xáo trộn, biến động về mặt chính trị, xã hội. "ở miền Bắc, số
đông tín đồ, giáo sĩ di cư vào Nam, cơ quan của Tổng Liên hội cũng
chuyển vào Sài Gòn, chỉ còn hơn 5.000 tín đồ và hơn chục mục sư, giảng
sư. Năm 1975, những tín đồ, giáo sĩ còn lại ở miền Bắc đã lập tổ chức giáo
hội riêng lấy trên là Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) -
24
gọi tắt là Hội Thánh Tin Lành miền Bắc, với đường hướng vừa hoạt động