132
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2015
3.1 NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH
THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
TỈNH BẮC NINH
Tỉnh Bắc Ninh bước vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 trong điều
kiện điểm xuất phát thấp. Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng
sau gần 10 năm xây dựng và phát triển (1997-2005), nhưng nhìn chung
kinh tế Bắc Ninh còn gặp không ít khó khăn và đang đứng trước nhiều
thách thức. Bước vào thời kỳ mới, trong bối cảnh cả nước đang hội nhập
ngày càng sâu và toàn diện với nền kinh tế thế giới, tình hình quốc tế và
trong nước sẽ có những tác động rất mạnh đến phát triển kinh tế-xã hội
của tỉnh. Bắc Ninh cũng sẽ có nhiều cơ hội lớn để phát triển như năng lực
sản xuất và kết cấu hạ tầng đã phát triển một bước, tiềm lực kinh tế khá
phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; nguồn lực về
lao động, khả năng tăng năng suất chất lượng cây trồng, vật nuôi còn lớn.
Đó là những điều kiện tốt để Bắc Ninh đẩy nhanh tốc độ phát triển, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
3.1.1 Những thuận lợi đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh
- Bắc Ninh có vị trí địa lý thuận lợi gắn với vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ và nằm cạnh thủ đô Hà Nội; có hệ thống giao thông kết nối Hà Nội, cảng
hàng không quốc tế Nội Bài, các cảng biển quan trọng của vùng (cảng Cái
Lân và cảng Hải Phòng), nằm trên các trục hành lang kinh tế Vân Nam - Hà
Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hải Phòng đưa lại những cơ hội
mới cho sự phát triển kinh tế-xã hội của Bắc Ninh.
trong từng ngành còn lạc hậu, chưa theo kịp sự biến động của thị trường trong
và ngoài nước.
+ Nông nghiệp Bắc Ninh nhìn chung chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ,
phân tán, manh mún, chuyển dịch cơ cấu còn chậm, vùng chuyên canh có giá trị
và hiệu quả kinh tế cao còn ở quy mô nhỏ; giá trị trồng trọt chiếm tỷ trọng còn cao
134
trong GDP. Trong ngành trồng trọt thì cây lương thực vẫn là chủ yếu, chất lượng
các loại nông sản chưa đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu. Sự phát triển
thời gian qua mới chỉ dựa vào nhân tố chiều rộng (nhân tố thô) như đất đai; hàm
lượng chất xám trong sản phẩm nông nghiệp chưa cao; công nghệ kỹ thuật ở khu
vực nông nghiệp, nông thôn còn yếu kém; trình độ sản xuất hàng hoá còn thấp.
+ Công nghiệp phát triển nhanh trong những năm qua, nhưng cơ cấu nội
bộ ngành còn lạc hậu, thiếu vắng các ngành công nghiệp có kỹ thuật, hàm
lượng chất xám cao; thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn chưa được
nhân rộng, tạo hạt nhân của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
thôn. Sự phát triển của công nghiệp nông thôn, các làng nghề còn mang yếu
tố tự phát, lại đang phải đối mặt với những thách thức mới: sản phẩm, nhãn
mác, thương hiệu sản phẩm, yêu cầu mới về chất lượng sản phẩm, ô nhiễm
môi trường, thiếu nguồn nguyên liệu, trong khi trình độ quản lý kinh tế của
đội ngũ cán bộ các cấp còn nhiều hạn chế. Khả năng thay đổi để tạo ra thị
trường mới và có được những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của khách hàng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn chưa cao.
+ Khu vực dịch vụ còn gặp nhiều khó khăn, chưa khai thác tiềm năng về
dịch vụ du lịch, văn hoá của một tỉnh vốn có truyền thống lâu đời và vị trí của
một tỉnh giáp Thủ đô Hà Nội. Chưa hình thành đồng bộ các loại thị trường
nhất là thị trường khoa học-công nghệ, lao động, tư vấn…
- Cơ sở hạ tầng nông thôn và dịch vụ nông nghiệp có mặt còn yếu kém,
phát triển chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hoá theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
nạn về ma tuý chưa giảm.
- Tài nguyên khoáng sản ít, mật độ dân số cao, đất nông nghiệp ít phì
nhiêu, dễ bị lũ lụt.
3.1.2.2. Thách thức
- Thách thức lớn nhất là nguy cơ tụt hậu của tỉnh so với sự phát triển
kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trong khi Bắc Ninh là một tỉnh
có vị trí rất thuận lợi, nhiều lợi thế. Vì vậy, cần đẩy nhanh nhịp độ tăng
trưởng, tạo sự đột phá trong phát triển kinh tế, đảm bảo phát triển bền vững.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh tuy cao, năng suất lao động có tăng
136
lên so với một số tỉnh trong vùng, nhưng GDP bình quân đầu người năm 2005
mới đạt 83% so với cả nước và 85,9 % so với vùng đồng bằng sông Hồng.
- Quá trình hội nhập và tự do hoá thương mại (nhất là khi Việt Nam là
thành viên của WTO) là thách thức lớn đối với Bắc Ninh, trong khi điểm xuất
phát về kinh tế của tỉnh thấp, khả năng cạnh tranh sản phẩm nông sản hàng
hóa và công nghiệp địa phương yếu.
- Sự cạnh tranh giữa các địa phương trong cả nước và các tỉnh trong
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ về thu hút đầu tư trong và ngoài nước trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
3.2. NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI
HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN BẮC NINH TRONG GIAI ĐOẠN TỚI
3.2.1. Tiếp tục quán triệt và thực hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước
về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Một là, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một
trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và
phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đến năm 2015
Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn; xuất phát từ những điều kiện về tự nhiên, kinh tế -
xã hội của địa phương, quan điểm về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tới được xác định là:
Một là, phát huy lợi thế so sánh, hình thành các vùng kinh tế trọng điểm
của tỉnh, hình thành vùng nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, nông
nghiệp đô thị. Mở rộng phát triển không gian, hình thành vùng nông nghiệp
chuyên canh sản xuất hàng hoá, dịch vụ cho nhu cầu trong tỉnh, thủ đô Hà
Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
.
Duy trì tốc độ phát triển kinh tế với
nhịp độ cao và bền vững, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế gắn với phân
công lao động nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ, đạt tỷ suất hàng hoá cao. Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn phải đảm bảo phát triển toàn diện và tăng
trưởng bền vững, nâng cao mức sống, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần
của dân cư, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Bắc Ninh.
138
Hai là, để thực hiện tốt chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn của tỉnh cần khuyến khích phát huy tất cả các thành phần
kinh tế để tạo sức mạnh tổng hợp và đồng bộ. Đa dạng hoá loại hình tổ chức
sản xuất kinh doanh ở nông thôn phát triển trong môi trường vừa hợp tác, vừa
cạnh tranh lành mạnh với nhau. Chú trọng đến việc mở rộng phạm vi áp dụng
các mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh đa lĩnh vực trên cơ sở quan hệ liên
kết, thích ứng giữa các chủ thể kinh tế.
Ba là, phát triển nông nghiệp, nông thôn cả về qui mô và phương thức
sản xuất kinh doanh, xác lập mối liên kết lâu dài giữa sản xuất và thị
trường. Nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản
gian thực hiện những nội dung cơ bản theo mục tiêu đã định. Về cơ bản,
việc rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn cũng đồng nghĩa với việc đẩy nhanh quá trình này. Với những tỉnh
đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn thì việc rút ngắn quá trình này chính là việc đẩy nhanh tốc độ thực
hiện những nhiệm vụ còn lại để thực hiện mục tiêu hướng đích. Vì vậy, thứ
nhất: cần phải đẩy nhanh tốc độ thực hiện các nội dung và các bước đi
mang tính chất tuần tự của quá trình chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp
sang nền kinh tế công nghiệp; thứ hai: là rút ngắn bằng cách “đi tắt” đối
với những nội dung đã được đề cập ở phần trên.
3.3. PHƯƠNG HƯỚNG ĐẨY NHANH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG
NGHIỆP, NÔNG THÔN BẮC NINH ĐẾN NĂM 2015
Đại hội lần thứ X của Đảng (4/2006) đã xác định nội dung công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn tới là :
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, giải
quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Chuyển
dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và cơ cấu nông thôn theo hướng tạo ra giá
trị gia tăng ngày càng cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực
hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học-kỹ
thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất; nâng cao năng suất, chất lượng
và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng địa phương.
Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp
140
và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp. Sớm
khắc phục tình trạng manh mún về đất canh tác của các hộ nông dân,
khuyến khích việc “dồn điền, đổi thửa”, cho thuê, góp vốn cổ phần bằng
đất; phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao, vùng trồng trọt và chăn
nuôi tập trung, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn với hình thành
các ngành nghề, làng nghề, hợp tác xã, trang trại, tạo ra những sản phẩm có
141
trong nhng tnh dn u trong vựng kinh t trng im Bc B.
[46]
3.3.1. Phng hng y nhanh cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ nụng
nghip, nụng thụn Bc Ninh n nm 2015
3.3.1.1. Chuyn dch mnh m c cu kinh t nụng nghip, nụng thụn
Chuyn dch mnh m c cu kinh t nụng nghip, nụng thụn Bc Ninh
theo hng a dng hoỏ ngnh ngh, sn phm trong nụng nghip, nụng thụn;
ng thi va t chc c cu kinh t nụng thụn hp lý da trờn tim nng v
li th so sỏnh ca tnh v xu hng phỏt trin kinh t t nc v quc t.
Bng 3.1: D bỏo mt s ch tiờu n nm 2010, 2015, 2020
Nhịp độ tăng trởng (%)
Chỉ tiêu 2010 2015 2020
2006-
2010
2011-
2015
2016-
2020
1. Dân số (1.000 ng
i
) 1.051,00 1.102,00 1.152,00 0,95 0,95 0,90
Nông thôn 840,70 716,20 633,80 -1,00 -3,20 -2,40
% so với tổng số 80,00 65,00 55,00
2. GDP (tỷ đồng) 9.677,10 17.829,40 31.421,48 15,20 13,00 12,00
Nông, lâm nghiệp 1.481,30 1.717,26 1.971,52 4,20 3,00 2,80
Công nghiệp, xây dựng 5.240,70 10.540,86 18.576,60 19,00 15,00 12,00
Dịch vụ 2.955,10 5.571,27 10.873,36 16,70 13,50 14,31
142
nghiệp làng nghề góp phần tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động khu
vực nông thôn. Chú trọng đến các ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế
biến nông sản, thực phẩm trong nông thôn.
Đối với lĩnh vực thương mại, dịch vụ: phát huy vị trí địa lý của tỉnh, tập
trung phát triển các loại hình dịch vụ như du lịch, dịch vụ cải tiến kỹ thuật,
dịch vụ thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ, thị trường nông sản. Đẩy
mạnh phát triển các sản phẩm xuất khẩu, nhất là việc phát triển các sản phẩm
làng nghề để tăng nhanh xuất khẩu tại chỗ, đồng thời phát triển tốt du lịch và
ngược lại. Đối với nông nghiệp: tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ
cao, có giá trị kinh tế và giá trị hàng hoá lớn. Tiếp tục đầu tư thúc đẩy mạnh
mẽ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng
sản xuất hàng hoá nông sản có chất lượng và hiệu quả, gắn sản xuất với nhu
cầu thị trường. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn trên cơ sở gắn kết chặt chẽ giữa 3 khâu: sản xuất- chế biến- thị trường
trong sản xuất nông nghiệp.
3.3.1.2. Phát triển thị trường nông thôn để trên cơ sở phát huy lợi thế so
sánh của tỉnh tạo nên thế mạnh theo cơ cấu kinh tế hợp lý, gắn với thị
trường trong nước và quốc tế
Phương hướng chung là phát triển đồng bộ các loại thị trường tiêu thụ:
thị trường nội tỉnh, thị trường xuất khẩu tại chỗ và thị trường ngoại tỉnh, trong
đó tập trung khai thác các thị trường ngách ở thị trường trong và ngoài tỉnh để
các sản phẩm của tỉnh có thể tiêu thụ tốt. Đối với thị trường nông thôn trong
tỉnh, chú trọng phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống, xây dựng các
điểm du lịch làng nghề để mở ra thị trường tiêu thụ tại chỗ các sản phẩm của
tỉnh. Phát triển các thị trường cung ứng vật tư, các yếu tố đầu vào như khoa
học, công nghệ, lao động, thị trường vốn…cũng như thị trường đầu ra trong
phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn.
Tập trung mở rộng thị trường xuất khẩu, theo đó vừa đa dạng hoá thị
trường, vừa hình thành những thị trường xuất khẩu trọng điểm ở khu vực
thôn, mở rộng các hình thức kinh tế hỗn hợp. Tạo môi trường thông thoáng để
thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, khuyến khích các dự án phát
triển kinh tế nông thôn.
3.3.2. Mục tiêu cơ bản của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng
(khoá IX) đã xác định mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện
144
đại hoá nông nghiệp, nông thôn là: “Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất
hàng hoá lớn, hiệu quả và bền vững, có năng xuất, chất lượng và sức cạnh
tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ tiên tiến đáp
ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu
đẹp, dân chủ, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp,
kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phát triển ngày càng hiện đại”
[21]
. Như vậy,
thời gian 10 đến 15 năm nữa cả nước phải tập trung mọi nguồn lực để thực
hiện một bước về cơ bản mục tiêu tổng quát, lâu dài đó.
Đối với tỉnh Bắc Ninh, để thực hiện phương hướng đẩy nhanh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn phải thực hiện các mục tiêu chính sau:
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh sản phẩm hàng
hóa nông nghiệp, nhất là trong điều kiện gia nhập và thực hiện cam kết của
WTO và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp để tăng nhanh tỷ trọng giá trị chăn
nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp thuần. Đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản.
- Phát triển mạnh mẽ công nghiệp, ngành nghề thủ công nghiệp và dịch vụ
ở nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến để vừa tạo ra giá trị gia tăng cao cho
nông nghiệp, vừa tạo việc làm và thu nhập cho người dân ở nông thôn.
- Nâng cấp và xây dựng mới hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội để
Phấn đấu xây dựng Bắc Ninh đạt mục tiêu cơ bản trở thành tỉnh công
nghiệp vào năm 2015 với một hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội tương đối
hiện đại và đồng bộ giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong tỉnh và phù
hợp với xu hướng phát triển của khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.
Về phát triển xã hội
- Nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm, tăng tỷ lệ
thời gian sử dụng lao động ở nông thôn trên 80% vào năm 2010. Giải quyết
việc làm bình quân hàng năm từ 22 đến 24 nghìn lao động, chuyển dịch mạnh
cơ cấu lao động xã hội theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông
nghiệp. Đến năm 2010 tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp đạt khoảng
50%, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt khoảng 50%. Tỷ lệ lao động qua đào
tạo nghề đạt khoảng từ 39 đến 40%, đến năm 2020 khoảng từ 50 đến 60%.
Năm 2010, có 80% lao động có việc làm sau khi đào tạo.
- Phấn đấu đến năm 2010 hoàn thành cơ bản phổ cập giáo dục bậc trung
học, 100% các trường được kiên cố hoá; bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hoá truyền thống vật thể và phi vật thể, đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao
quần chúng, thể thao thành tích cao. Giảm tỷ lệ nghèo còn dưới 7% (theo
146
chuẩn năm 2005). Tỷ lệ đô thị hoá ít nhất đạt khoảng từ 45 đến 50%,
Về bảo vệ môi trường
- Môi trường được giữ vững, không còn tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề.
Đến năm 2010 khoảng 98% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh, thu gom và xử lý
100% rác thải sinh hoạt, quản lý và xử lý 100% chất thải công nghiệp, chất thải y tế.
- Bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa
dạng sinh học, bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể.
3.3.3. Bước đi cơ bản đến năm 2015
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn theo con đường
lan toả, khuyếch tán. Do vậy, cần lấy những vùng, địa phương có trình độ
thành loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh chiếm ưu thế ở nông thôn.
Hình thành những đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, cụm dân cư, khu đô thị ngay trong
các khu, cụm công nghiệp làng nghề, trung tâm các xã, vùng liên xã theo hướng đô
thị hóa nông thôn. Thực hiện tốt chương trình giảm nghèo, đến năm 2010 số hộ
nghèo còn dưới 7%. Mỗi năm giải quyết việc làm cho 22 đến 24 nghìn lao động.
Giai đoạn 2010 - 2015: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, hình thành
nền nông nghiệp đô thị, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ có giá trị kinh tế
lớn và khả năng cạnh tranh cao; chuyển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn lên
trình độ hiện đại; tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa
đô thị và nông thôn.
Phát triển lực lượng sản xuất ở nông thôn lên trình độ hiện đại: cơ sở hạ
tầng được hình thành đồng bộ với trình độ kỹ thuật cao; hoàn thành thủy lợi
hóa, cơ giới hóa và điện khí hóa; ứng dụng ngày càng rộng rãi công nghệ
thông tin trong sản xuất, quản lý kinh tế và xã hội. Quan hệ sản xuất được xây
dựng phù hợp với trình độ và tính chất lực lượng sản xuất với các hình thức sở
hữu khác nhau: hợp tác xã, trang trại và doanh nghiệp ở nông thôn. Nâng cao
chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm cho lao động trong nông thôn,
nâng tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đến năm 2015 từ 80 - 85%. Tỷ
lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động khoảng 60 - 65%, tỷ lệ qua
đào tạo nghề từ 45 - 50%.
Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn trong tỉnh được
nâng cao. Mạng lưới đô thị phát triển, hình thành mô hình làng xã - đô thị
sinh thái, đưa tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2015 đạt khoảng 40 - 45%. Môi trường
được giữ vững nhất là trong các làng nghề.
148
3.4. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2015
3.4.1. Rà soát, điều chỉnh và bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế nông
thôn Bắc Ninh
nghề trong các làng nghề truyền thống, làng nghề mới có lợi thế và sức cạnh
tranh đi đôi với bảo vệ môi trường. Xây dựng các mô hình phát triển công
nghiệp nông thôn bền vững, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp bổ trợ
làm nâng cao giá trị các sản phẩm, phát triển các sản phẩm mới đi ngay vào
công nghệ hiện đại. Về bố trí quy hoạch không gian, chuyển dịch dần công
nghiệp ở dọc các tuyến hành lang đường quốc lộ vào những vùng đất xấu, để
dành đất tốt cho sản xuất nông nghiệp, tránh sự tập trung công nghiệp vào các
khu đô thị, khu dân cư.
Tập trung phát triển mạnh hơn và toàn diện ngành dịch vụ trong các lĩnh
vực: tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch, khoa học-công nghệ, viễn
thông, thị trường bất động sản, thị trường vốn. Xây dựng các trung tâm dịch
vụ khoa học-công nghệ, văn hoá, xã hội, tăng cường liên kết giao lưu với các
tỉnh trong vùng để phát triển dịch vụ vận tải công cộng.
Theo định hướng này, Bắc Ninh cần nghiên cứu và thực hiện quy hoạch
các vùng sản xuất nông sản có triển vọng, có lợi thế so sánh và có khả năng
nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường và đầu tư các nguồn lực để thực thi.
Để khai thác cao lợi thế của nông nghiệp, nông thôn, một trong những
biện pháp quan trọng là tạo nên các vùng chuyên canh nông sản không chỉ có
quy mô lớn, mà còn phải đảm bảo cả về chất lượng, chủng loại và giá cả có
thể cạnh tranh được. Quy hoạch sản xuất phải gắn với quy hoạch chế biến,
bảo quản, thu gom, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm cũng như quy hoạch
phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn. Giải pháp này sẽ mang lại cho sự phát
triển của thị trường nông thôn, trước hết tạo ra nhu cầu có quy mô lớn để phát
triển thị trường hàng hoá trên các mặt. Trên cơ sở mở rộng quy mô sản xuất
nông sản để đạt hiệu quả cao sẽ tạo điều kiện nâng cao thu nhập và sức mua
cho nông dân. Đây là giải pháp có tính quyết định trong việc phát triển thị
trường nông thôn. Việc chuyên môn hoá sản xuất sẽ cho phép phân bổ nguồn
lực hợp lý, mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao, cho phép nông dân
tăng thu nhập để mở rộng tiêu dùng và tái đầu tư mở rộng sản xuất. Để thực
hiện tốt giải pháp này cần tập trung vào các vấn đề sau:
xây dựng các làng, xã có cuộc sống ấm no, văn minh, sạch đẹp gắn với việc hình
thành các khu dân cư đô thị hoá, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững. Phát huy
dân chủ, bài trừ các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh ở nông thôn.
151
Quy hoạch này biểu hiện sự bố trí không gian các hoạt động kinh tế - xã
hội nông thôn ở mỗi vùng. Định hình các mô hình đô thị ở nông thôn phù hợp
với điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá của từng vùng. Song cần phải tính đến
các khía cạnh sau:
- Có hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, trong đó một số yếu tố cơ sở hạ
tầng phải đi trước như giao thông, điện, trường, trạm...làm cơ sở tổ chức các
hoạt động trong đô thị này.
- Đô thị ở nông thôn phải dựa trên hạt nhân là hoạt động kinh tế, cần chú
ý đến vấn đề liên vùng, liên khu và điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng,
phát triển lan toả kinh tế.
- Đảm bảo môi trường sinh thái tốt, chú trọng đầu tư đến các vấn đề môi
trường và đa dạng sinh học (chú trọng đầu tư xử lý chất thải, xác định mật độ
dân số hợp lý ...).
- Tổ chức quản lý đô thị hợp lý, kết hợp hài hoà giữa giá trị truyền thống
và hiện đại.
- Điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội
đảm bảo tính đồng bộ và đi trước một bước, trước hết là phát triển đồng bộ và
từng bước hiện đại hoá. Chú trọng phát triển giao thông nông thôn, giao thông
nội thị, cảng sông. Hiện đại hoá mạng lưới chuyển tải điện, mạng viễn thông,
công nghệ thông tin, Internet. Mở rộng hệ thống cấp thoát nước tới các vùng
nông thôn, giải quyết dứt điểm tình trạng ngập úng tại các vùng trong tỉnh.
Quy hoạch đầu tư các khu xử lý chất thải, các nhà máy xử lý chất thải cho các
khu đô thị. Tiếp tục điều chỉnh quy hoạch phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng,
giáo dục, y tế, trung tâm hoạt động văn hoá nhằm giữ gìn và phát huy giá trị
văn hoá truyền thống Kinh Bắc, dân ca Quan họ, giảm thiểu tệ nạn xã hội và
trong nông thôn thì vấn đề tiên quyết là ưu tiên phát triển công nghệ sinh
học, công nghệ chế biến, công nghệ kỹ thuật cao. Dưới đây đề cập mấy
vấn đề chủ yếu:
3.4.2.1. Phát triển công nghệ sinh học trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của tỉnh
Yêu cầu của việc phát triển công nghệ sinh học trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh trong những năm tới là:
153
- Vừa khai thác tối ưu, vừa bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên sinh
học đa dạng của tỉnh.
- Tăng năng suất cây trồng, vật nuôi gắn liền với việc đảm bảo chất
lượng theo yêu cầu thị trường, giảm chi phí sản xuất nhằm tăng khả năng
cạnh tranh của hàng nông sản.
- Góp phần vào phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ sức khoẻ con
người và giữ gìn môi trường, hướng tập trung vào các công nghệ tiên tiến
cùng với việc hiện đại hoá công nghệ truyền thống.
Để có thể phát triển mạnh mẽ công nghệ này điều tiên quyết cần phải tập
trung vào các lĩnh vực sau: đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn đảm bảo đồng bộ về cơ cấu ngành nghề ở nông thôn, cơ
cấu trình độ. Tăng cường năng lực ứng dụng triển khai thông qua việc nâng
cao năng lực của đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ sinh học. Xây dựng các
chương trình, dự án phát triển công nghệ sinh học một cách cụ thể. Trước mắt
đẩy mạnh chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ về nông thôn nhất
là áp dụng công nghệ giống, công nghệ bảo quản, chế biến nông sản, tạo bước
đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Hình thành vùng sản
xuất nông nghiệp ven đô thị, bảo đảm an toàn thực phẩm, cải thiện môi
trường sinh thái thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Tăng cường cải tiến,
áp dụng kỹ thuật đối với các công nghệ truyền thống, tận dụng lao động, đất
quản lý an toàn thực phẩm, kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thuốc trừ sâu và các
chất kháng sinh trong sản xuất và chế biến nông sản, cũng như cung cấp thông
tin qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm ở các thị trường trong và ngoài tỉnh.
3.4.2.4. Phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Hình thành và thúc đẩy phát triển của thị trường khoa học và công nghệ
là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế
Bắc Ninh nói riêng và của Việt Nam nói chung. Phát triển thị trường khoa học
công nghệ là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công chiến lược công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Bắc Ninh đến năm 2015.
Thực tế cho thấy, thời gian qua ở Bắc Ninh cũng như nhiều địa phương
khác các yếu tố cấu thành thị trường khoa học và công nghệ cũng đã được
hình thành và phát triển. Tuy nhiên, thị trường này vẫn đang ở mức sơ khai,
thực trạng mua bán khoa học- công nghệ ở Bắc Ninh hiện vẫn còn mang tính
chất của một nền kinh tế vừa đang phát triển, vừa đang chuyển đổi. Môi
trường cho thị trường khoa học và công nghệ vận hành còn chưa hoàn thiện.
155
Vì vậy, để thị trường khoa học và công nghệ phát triển, cần tập trung vào các
giải pháp sau:
Nhóm giải pháp kích cầu, tập trung vào các biện pháp xây dựng môi trường
cạnh tranh để thúc đẩy các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đổi mới công
nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời tạo nhu cầu đối
với hoạt động khoa học và công nghệ. Cần hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh
doanh nâng cao năng lực đổi mới công nghệ, thúc đẩy ứng dụng công nghệ phục vụ
phát triển sản xuất, kinh doanh ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Nhóm giải pháp tăng cung, tập trung vào các biện pháp đổi mới
phương thức quản lý khoa học phù hợp với cơ chế thị trường nhằm tạo
động lực cho các tổ chức, các hoạt động khoa học- công nghệ đẩy mạnh
nghiên cứu và chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Khuyến khích các doanh nghiệp giới thiệu công nghệ, thúc đẩy đổi mới
Khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả đầu tư là một trong những
nhân tố quan trọng hàng đầu để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn và đẩy
nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Song, đây là vấn đề
hết sức nan giải, vì vậy địa phương có vai trò hết sức quan trọng trong vấn đề
này thể hiện ở chỗ: trực tiếp đầu tư và phát triển nông nghiệp, nông thôn, tạo
môi trường thúc đẩy việc tái tích luỹ và thu hút các nguồn vốn để phát triển
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, trong giải
pháp này cần phải tập trung vào các vấn đề sau:
3.4.3.1. Tăng tỷ lệ vốn đầu tư từ ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn
phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đây là kênh vốn hết sức quan trọng vì nguồn vốn từ ngân sách vừa là
yếu tố vật chất để tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất nông
nghiệp, vừa là để xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng nông thôn nhằm thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời đẩy nhanh tốc độ chuyển đổi cơ cấu kinh
tế. Vốn đầu tư từ ngân sách còn tạo ra động lực thu hút nguồn vốn đầu tư từ
các thành phần kinh tế khác để đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Hơn thế,
trong điều kiện hiện nay khi năng lực tích luỹ của các chủ thể kinh tế ở khu
vực nông thôn còn thấp và nông nghiệp, nông thôn chưa phải là địa bàn hấp
dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, vốn đầu tư từ ngân sách cần phải đề
cập đến các vấn đề sau:
- Bảo đảm đầu tư tập trung theo lĩnh vực và theo vùng. Đây là điều kiện
cần thiết để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, khai thác nhanh tiềm năng, thế mạnh của các vùng có lợi thế vì vậy