110 Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay Thực trạng, Kinh nghiệm và Giải pháp - Pdf 25

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
-----------------------
Nguyễn sỹ
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn tỉnh bắc ninh
từ năm 1986 đến nay:
Thực trạng, kinh nghiệm và giảI pháp
Luận án tiến sĩ kinh tế

Hà Nội - 2007
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
-----------------------
Nguyễn sỹ
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn tỉnh bắc ninh
từ năm 1986 đến nay:
Thực trạng, kinh nghiệm và giảI pháp
Chuyên ngành: Lịch sử kinh tế
Mã số : 5.02.04
Luận án tiến sĩ kinh tế
NgƯời hƯớng dẫn khoa học
1- GS-TS Nguyễn Trí Dĩnh
2- PGS-TS Lê Công Hoa
Hà Nội - 2007
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu
trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa
từng được ai công bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

3.1 Những thuận lợi, khó khăn và thách thức đối với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Bắc Ninh …………………………………
132
3.2. Những quan điểm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc
Ninh trong giai đoạn tới …………………………………
136
3.3. Phương hướng đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Bắc Ninh đến năm 2015
……………………………………………………..
139
3.4. Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc
Ninh đến năm 2015 .....................................
148
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 184
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ . ................. 186
DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO ................................................................. 187
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
EU European Union
Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Gross National Product
Tổng thu nhập quốc dân
ICOR Incremental Capital Output Ratio
Hệ số gia tăng vốn đầu ra
KCN Khu Công nghiệp
NGO Non-Governmental Organizations

Bảng 2.6: Giá trị sản xuất, cơ cấu và tốc độ phát triển nông nghiệp
86
Bảng 2.7: Hiệu quả sản xuất nông nghiệp năm 2005
88
Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu cây trồng chủ yếu giai đoạn 1996 - 2005
88
Bảng 2.9: Số làng nghề và lao động trong các làng nghề
97
Bảng: 2.10: Tổng hợp hoạt động trong các làng nghề (năm 2005)
99
Bảng 2.11: Các loại máy móc chủ yếu, năm 2003 (bình quân 100 hộ)
103
Bảng 2.12: Mức độ cơ giới hóa các khâu sản xuất ở Bắc Ninh
104
Bảng 2.13: Cơ cấu hộ nông thôn Bắc Ninh so sánh với các tỉnh đồng
bằng sông Hồng và cả nước
108
Bảng 2.14: Một số chỉ tiêu của Bắc Ninh so sánh với vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ và cả nước năm 2005
115
Bảng 3.1: Dự báo một số chỉ tiêu đến năm 2020
141
Biểu đồ 1: Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh năm 2000 và năm 2005
84
Biểu đồ 2: Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp
87
Biểu đồ 3: Cơ cấu lao động qua các giai đoạn
95
Đồ thị 2.1: Chỉ số phát triển tổng sản phẩm giai đoạn 1997-2005
84

nông thôn và mang lại những thành tựu quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội.
Tuy nhiên, xét động thái công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn tỉnh Bắc Ninh vẫn bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập về cơ chế
chính sách và những giải pháp hữu hiệu cần phải được quan tâm giải quyết.
1
Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề ra chủ
trương, chính sách và những giải pháp cho quá trình đẩy nhanh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, nghiên cứu sinh chọn đề tài luận án
tiến sĩ: “Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay: thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp”
làm nội dung nghiên cứu của luận án.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Những năm qua vấn đề nông nghiệp, nông thôn đã được nhiều nhà
khoa học, tập thể quan tâm nghiên cứu. Đã có khá nhiều công trình thuộc
nhiều chuyên ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau đề xuất phương hướng và đưa
ra những giải pháp tích cực nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn như:
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá IX
tháng 3 năm 2002 về: “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn, thời kỳ 2001 - 2010”.
- Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn: “Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam”. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2002.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam: “Một số vấn đề về
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
thời kỳ 2001 – 2020”. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội năm 2001.
- GS.TS Đỗ Hoài Nam: “Một số vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Việt Nam”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2004.
- GS.TS Nguyễn Kế Tuấn: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, con đường và bước đi”. Nhà xuất bản Chính

3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở hệ thống hoá và làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Luận án phân tích thực trạng và đề ra phương hướng, mục tiêu và những giải pháp
chủ yếu để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn Bắc Ninh trong giai đoạn tới: Phấn đấu đến năm 2010 Bắc Ninh là một tỉnh
phát triển khá trong cả nước, đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp
theo hướng hiện đại.
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận án lấy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Bắc Ninh làm đối tượng nghiên cứu.

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là vấn đề rất
rộng lớn và phức tạp, phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào những
nội dung cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn;
phát triển các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, phát triển các khu, cụm
công nghiệp làng nghề; xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn;
phát triển nguồn nhân lực…thời gian từ năm 1986, mà chủ yếu từ năm 1997
đến nay (sau khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập).
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử; phương pháp lịch sử và lôgíc; phương pháp phân tích, tổng hợp;
phương pháp thống kê, mô hình hoá và tiếp cận hệ thống; phương pháp khảo
sát, điều tra thực tế.
6. Những đóng góp khoa học của luận án
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn và kinh nghiệm một số nước, một số tỉnh .
- Phân tích, đánh giá thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn và tác động của nó đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội

- Các quan niệm về công nghiệp hoá
Mỗi phương thức sản xuất đều có cơ sở vật chất - kỹ thuật thích ứng
với nó. Cơ sở vật chất kỹ thuật là hệ thống các yếu tố vật chất của lực
lượng sản xuất để sản xuất ra của vật chất, nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày
càng đa dạng của xã hội.
Sự biến đổi và phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, của tiến bộ
khoa học - kỹ thuật, năng lực và quy mô tích luỹ, sự tác động của quy luật
nhân khẩu, quan hệ kinh tế đối ngoại... là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất
lớn đến trình độ của cơ sở vật chất - kỹ thuật. Ngoài ra, tính chất và trình độ
của các quan hệ sản xuất, có ảnh hưởng không nhỏ và có mối quan hệ hữu cơ
đối với cơ sở vật chất - kỹ thuật.
Nói đến cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó
là nói đến trình độ, sự vận động và biến đổi của nó theo xu hướng nào.
Đặc trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của phương thức sản xuất trước
chủ nghĩa tư bản là kỹ thuật thủ công, lạc hậu.
Chủ nghĩa tư bản xuất hiện, với những bước chuyển biến có tính quy
luật của nó, tất yếu đưa sản xuất dựa trên kỹ thuật thủ công lên hiện đại, công
nghiệp đại cơ khí. Vì vậy, đặc trưng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư
bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá với trình độ khoa học - kỹ thuật cao.
Đối với những nước xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một trong những nhiệm vụ kinh tế to
6
lớn và là một yêu cầu khách quan. Bởi vì, cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền
sản xuất lớn hiện đại đòi hỏi phải dựa trên trình độ kỹ thuật, công nghệ ngày
càng cao hơn, hiện đại hơn. Điều đó không chỉ dừng lại ở chỗ, những yếu tố
của tư liệu sản xuất được cơ khí hoá và ngày càng hiện đại hoá, mà còn ở
trình độ công nghệ tiên tiến và thường xuyên đổi mới.
Vậy có thể khái quát: “Cơ sở vật chất của nền sản xuất hiện đại, chỉ có
thể là nền đại công nghiệp cơ khí hoá cân đối và hiện đại dựa trên trình độ
khoa học – công nghệ ngày càng phát triển cao...”[20]. Để có được cốt vật chất

có của nền văn hoá và xã hội Nhật vào quá trình công nghiệp hoá.
Ở Liên Xô (cũ), quan niệm cho rằng: công nghiệp hoá là quá trình xây
dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Đó là
phát triển các ngành công nghiệp nặng mà cốt lõi là ngành cơ khí, do đó tỷ
trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng lớn.
STa-Lin viết: “Quan trọng hơn, vì nếu không phát triển công nghiệp
nặng, thì chúng ta không thể xây dựng được ngành công nghiệp nào cả, chúng
ta không thể thực hiện được một công cuộc công nghiệp hoá nào cả”.[41]
Theo V.I.Lê Nin: “Chỉ có đại công nghiệp cơ khí mới có thể làm cho
công nghiệp và nông nghiệp hoàn toàn tách rời nhau... chính nền sản xuất
bằng máy móc, đã cắt đứt hẳn mối quan hệ giữa công nhân với ruộng đất”
[54]. Như vậy, công nghiệp hoá ở Liên Xô (cũ) trong giai đoạn đó là phù hợp
với bối cảnh lịch sử của thế giới và tình hình trong nước. Mô hình công
nghiệp hoá này đã đem lại những kết quả đáng kể, song bên cạnh đó cũng còn
nhiều hạn chế mà đến thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX đã có sự điều chỉnh cho
hợp lý.
Các nước và lãnh thổ (NICs) Đông Á đi sau, rút ngắn quá trình công
nghiệp hoá hơn nữa, chỉ còn khoảng 40 năm. Do họ đã tiếp thu được kinh
nghiệm của cả Châu Âu, Châu Mỹ và Nhật Bản. Ngày nay, một số nước
ASEAN còn có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá này xuống còn khoảng
30 năm, trong đó Đài Loan là vùng lãnh thổ tiến hành công nghiệp hoá thành
công.
Từ thực tiễn về công nghiệp hoá của đất nước, có thể khái quát một số
quan niệm về công nghiệp hoá:
+ Quan niệm đơn giản nhất cho rằng: công nghiệp hoá là đưa tính đặc
8
thù công nghiệp cho một hoạt động (của một vùng, một nước) với các nhà
máy, các loại hình công nghiệp. Theo quan điểm này, có những điểm chưa
hợp lý, vì thứ nhất là nội dung quan niệm này gần như đồng nhất quá trình
công nghiệp hoá với quá trình phát triển công nghiệp. Thứ hai là không thể

phát triển, đảm bảo tạo ra cơ cấu sản phẩm vật chất, bao gồm các điều
kiện sản xuất và điều kiện sinh hoạt, đảm bảo các mục tiêu phát triển
kinh tế và sự tiến bộ xã hội.
- Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Kinh nghiệm về công nghiệp hoá của các nước đi trước và qua thực tế
kiểm nghiệm, kết hợp với sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ và
quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng, quan niệm về công nghiệp
hoá, hiện đại hoá được hiểu như sau: Công nghiệp hoá chính là một cuộc
cách mạng về lực lượng sản xuất, làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ
sản xuất, tăng năng suất lao động. Hiện đại hoá là quá trình thường xuyên
cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới nhất trong quá
trình công nghiệp hoá. Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá luôn gắn
liền với hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình trang bị kỹ thuật và công
nghệ hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành giữ vị trí quan
trọng, biến một nước có nền kinh tế kém phát triển thành một nước có nền
kinh tế phát triển, có công nghiệp hiện đại.
Hiện nay, ở Việt Nam công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam là:
Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là
chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện
và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và
tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao [22].
Quan niệm này nói lên phạm vi và vai trò đặc biệt quan trọng của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển kinh tế - xã hội, gắn liền được hai
phạm trù, không thể tách rời là công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Xác định vai
trò không thể thiếu được của khoa học-công nghệ trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hóa.Công nghiệp hoá và hiện đại hoá có mối quan hệ mật
10

11
Lịch sử phát triển nông nghiệp thế giới và các nước trong khu vực đều
chứng minh rằng, muốn có một nền nông nghiệp bền vững, năng suất lao
động cao không thể dựa vào nông cụ thô sơ và sức kéo trâu bò là chủ yếu. Chỉ
có cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá mới tạo ra nền nông
nghiệp hàng hoá, có chất lượng sản phẩm cao, có quy mô lớn gắn với công
nghiệp chế biến và xuất khẩu. Mặt khác, nông nghiệp không thể tự cải tạo kỹ
thuật, không thể tự mình giải quyết vấn đề phát triển. Sự phát triển của nông
nghiệp được quyết định bởi bản thân quá trình nền sản xuất xã hội thực hiện
được, quá trình phát triển với hai tiến trình thị trường hoá và công nghiệp hoá.
Đó là quá trình chuyển từ làn sóng nông nghiệp sang làn sóng công nghiệp.
Sự phát triển này khiến cho nông nghiệp mất vị trí nền tảng của nền kinh tế.
Quy luật chung của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là làm giảm tỷ lệ
GDP của nông nghiệp trong cơ cấu chung nền kinh tế, lao động ngành nông
nghiệp có tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu lao động chung của các ngành kinh tế.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp diễn ra đồng thời với công
nghiệp hoá, hiện đại hoá các ngành kinh tế của đất nước. Không thể tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp bó hẹp trong quan niệm phát triển
trong phạm vi ngành nông nghiệp, mà nó phải gắn với sự phát triển và sự
chuyển đổi cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế. Chính sự phát triển công nghiệp, du
lịch, dịch vụ, cơ sở hạ tầng trong điều kiện hiện đại hoá làm thay đổi phương
thức sản xuất, cơ cấu của nền sản xuất xã hội và là sự thay đổi bản chất kinh tế
của nông nghiệp. Chuyển từ lĩnh vực tất yếu thành lĩnh vực kinh doanh, thành
cực tăng trưởng và bắt buộc phải tồn tại phát triển trong cơ chế thị trường.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp phải đảm bảo vai trò
duy trì và phát triển cảnh quan thiên nhiên, xã hội cho phù hợp với yêu cầu của
cuộc sống ở trình độ văn minh cao, trình độ văn hoá cao. Tái sản xuất hệ sinh thái,
duy trì phát triển môi trường sống bền vững. Giữ gìn và phát triển truyền thống
lâu đời của cộng đồng các dân tộc. Tham gia đắc lực trong việc hình thành sự kết
hợp hài hoà giữa cuộc sống công nghiệp, đô thị và thiên nhiên, giữa lao động thư

thêm việc làm để tăng thu nhập cho dân cư nông thôn.
Qua quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến trình phát triển xã
13
hội đã có sự thay đổi căn bản, đó là quá trình phát triển đô thị hoá kèm theo
thu hẹp xã hội nông thôn, về mặt cơ sở hạ tầng cho sản xuất, cơ sở hạ tầng
văn hoá, đời sống (hạ tầng về kinh tế và xã hội) là sự thay đổi về chất của xã
hội nông thôn. Sự chênh lệch thu nhập, đời sống vật chất, văn hoá xã hội của
dân cư ở nông thôn và dân cư thành thị được thu hẹp.
Như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là xây dựng nông
thôn mới có nông nghiệp hiện đại, công nghệ kỹ thuật cao, dịch vụ phát
triển theo hướng văn minh, hiệu quả. Quan hệ sản xuất tiên tiến phù hợp
với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, cơ sở hạ tầng nông thôn
hoàn thiện, đời sống vật chất tinh thần của nông dân không ngừng được cải
thiện, xã hội ổn định và công bằng.
1.1.1.3. Sự cần thiết của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Trong khi coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm
trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng ta vẫn xác
định nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong những năm
trước mắt là: “coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn”[20]. Điều đó bắt nguồn từ vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong quá
trình phát triển kinh tế-xã hội và những lợi thế phát triển của Việt Nam hiện
nay. Cụ thể, việc tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn ở nước ta xuất phát từ những cơ sở chủ yếu sau:
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Lương thực là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu đối với cuộc sống con
người, nhất là đối với một nước có truyền thống tiêu dùng lúa gạo như Việt
Nam. Vì vậy, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là nhân tố quan
trọng hàng đầu để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, nhờ đó thúc đẩy nhanh
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thực hiện phân công lại lao
động xã hội hợp lý hơn. Không chỉ ở Việt Nam, mà ngay cả các nước Đông

có cơ hội phát triển, và đến lượt nó công nghiệp sẽ thúc đẩy trở lại đối với sự
phát triển nông nghiệp và các ngành khác. Như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn đã tạo ra quy mô và tốc độ tăng trưởng của các
nguồn nguyên liệu nông nghiệp, là nhân tố có tác động quan trọng đến quy mô
và tốc độ tăng trưởng của công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác.
Mặt khác, nông nghiệp, nông thôn là địa bàn rộng lớn tiêu thụ các sản
15
phẩm của công nghiệp, từ tư liệu sản xuất, vật tư thiết bị đến các sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng. Nhiều nhà kinh tế đã khẳng định rằng, với vai
trò là thị trường tiêu thụ hàng hoá cho lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nông
nghiệp, nông thôn đã trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp, dịch vụ phát
triển, và như vậy nó còn quan trọng hơn cả vai trò nguồn cung cấp “đầu vào”
cho công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng thu nhập và quy mô dân số trong lĩnh
vực nông nghiệp sẽ tác động đến dung lượng của thị trường nội địa đối với
hàng hoá của khu vực công nghiệp. Nói cách khác, tăng trưởng của lĩnh vực
công nghiệp phụ thuộc vào tăng trưởng của khu vực nông nghiệp và kinh tế
nông thôn. Do đó, “bóc lột” lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vượt quá mức
đầu tư trở lại cho nó thì sẽ làm cho khu vực này rơi vào tình trạng trì trệ, dẫn
tới giảm sút tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng đã từng xác đinh: “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế
nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính”[26].
Ngoài ra, nông nghiệp, nông thôn còn là nơi cung cấp nguồn nhân lực
dồi dào cho các ngành kinh tế khác. Dưới tác động của khoa học và công
nghệ, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ giải phòng một bộ phận lao
động ra khỏi nông nghiệp để chuyển nhanh sang lĩnh vực công nghiệp và dịch
vụ, do đó công nghiệp và dịch vụ sẽ có cơ hội phát triển nhanh.
Học thuyết kinh tế và kinh nghiệm các nước đã qua công nghiệp hoá đều
chỉ ra rằng, quá trình phát triển kinh tế theo hướng hiện đại đều gắn liền với việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động từ nông thôn ra thành thị, từ nông nghiệp
sang phi nông nghiệp. Trong vòng 30 năm từ 1965-1995, tại nhiều nước châu Á

tích luỹ tư bản cho công nghiệp hoá. Trong nhiều năm trước đây, nông nghiệp
đã tạo ra trên 40% thu nhập quốc dân và hiện nay ngành này đã tạo ra gần
30% GDP và hơn 45% giá trị xuất khẩu của các nước, chưa kể các sản phẩm
công nghiệp lấy nguyên liệu từ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp là chủ yếu. Vì
vậy, nông nghiệp phát triển mạnh, năng suất hàng hóa nhiều về số lượng, đa
dạng về chủng loại và tốt về chất lượng, là tiền đề vật chất quan trọng của
công nghiệp hoá nói chung và công nghiệp chế biến nói riêng. Mặt khác,
những năm qua, cùng với sự phát triển của sản xuất, tỷ lệ để dành (tích luỹ)
trong khu vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn tăng dần từ 5,2% năm 1990
lên 10% năm 1995 và khoảng 14,15% năm 2000. Tích luỹ đó chủ yếu do kết
17
quả của phát triển nông nghiệp và ngành nghề thủ công trong nông thôn.
Ở các nước đang phát triển, ngoài nguồn vốn từ viện trợ và đầu tư nước
ngoài thì cần thiết phải có nguồn vốn từ tiết kiệm trong nước, trong đó nguồn
thặng dư nông nghiệp là quan trọng. Đối với Việt Nam, trong giai đoạn đầu,
nguồn vốn tất yếu phải dựa vào nông nghiệp và nông thôn, vì đây là khu vực
rộng lớn, xét cả về khía cạnh lao động và tổng sản phẩm quốc dân. Nguồn
vốn do nông nghiệp, nông thôn tạo ra sẽ được đầu tư trước hết và chủ yếu vào
các hoạt động kinh doanh nông nghiệp và một số hoạt động phi nông nghiệp
và kinh tế nông thôn. Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp và kinh tế nông
thôn sẽ làm tăng đáng kể nguồn vốn tích luỹ cho nền kinh tế, tạo điều kiện
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu của phát triển bền vững, nâng cao đời sống
xã hội nông thôn
Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp và kinh tế nông thôn do công
nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho
gần 80% dân số sinh sống tại nông thôn, do đó là điều kiện căn bản để tạo
nên sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Một chân lý rút ra từ thực
tiễn: dân có giàu thì nước mới mạnh, 73% dân số sống ở nông thôn (năm
2005) mà chủ yếu là nông dân, nếu nông dân không giàu thì đất nước làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status