Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn đến nay, thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp - Pdf 32

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, MÔ HÌNH MỞ ĐẦU
1
Chương 1: M
ỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG
THÔN VÀ KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC ……………..

6
1.1.
Một số vấn đề lý luận về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ……
6
1.2.
Mô hình và bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước………………….
45

Chương 2: THỰC TRẠNG CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH
BẮC NINH TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY …………………………………..

132
3.1
Những thuận lợi, khó khăn và thách thức đối với quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh ……………………

132

3.2. Những quan điểm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tới …………………………………

136

3.3.
Phương hướng đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Bắc Ninh đến
năm 2015 ……………………………………………………..

139

3.4.
Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015 .....................................

148KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................................

184

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ . .................

này trong giai đoạn tới.
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà
Nội, là một trong tám tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Những
năm đổi mới vừa qua, cùng với những chính sách của Đảng và Nhà nước về
nông nghiệp và nông thôn, tỉnh Bắc Ninh đã có những chủ trương, chính sách
và biện pháp tác động thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn và mang lại những thành tựu quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội.
Tuy nhiên, xét động thái công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn tỉnh Bắc Ninh vẫn bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập về cơ chế
chính sách và những giải pháp hữu hiệu cần phải được quan tâm giải quyết.

2
Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề ra chủ
trương, chính sách và những giải pháp cho quá trình đẩy nhanh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, nghiên cứu sinh chọn đề tài luận án
tiến sĩ: “Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay: thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp”
làm nội dung nghiên cứu của luận án.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Những năm qua vấn đề nông nghiệp, nông thôn đã được nhiều nhà
khoa học, tập thể quan tâm nghiên cứu. Đã có khá nhiều công trình thuộc
nhiều chuyên ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau đề xuất phương hướng và đưa
ra những giải pháp tích cực nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn như:
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá IX
tháng 3 năm 2002 về: “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn, thời kỳ 2001 - 2010”.
- Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn: “Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam”. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2002.

chưa có một luận án, công trình nào nghiên cứu, đánh giá về công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh theo một quá
trình lịch sử từ năm 1986 đến nay một cách tương đối đầy đủ và có hệ
thống. Trong quá trình nghiên cứu và qua thực tiễn công tác của mình, tác
giả luận án mong muốn được góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về lý
luận, đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp để thúc đẩy
nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở hệ thống hoá và làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Luận án phân tích thực trạng và đề ra phương hướng, mục tiêu và những giải pháp
chủ yếu để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn Bắc Ninh trong giai đoạn tới: Phấn đấu đến năm 2010 Bắc Ninh là một tỉnh
phát triển khá trong cả nước, đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp
theo hướng hiện đại.

4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận án lấy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Bắc Ninh làm đối tượng nghiên cứu.

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là vấn đề rất
rộng lớn và phức tạp, phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào những
nội dung cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn;
phát triển các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, phát triển các khu, cụm
công nghiệp làng nghề; xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn;
phát triển nguồn nhân lực…thời gian từ năm 1986, mà chủ yếu từ năm 1997
đến nay (sau khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập).
5. Phương pháp nghiên cứu


6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN VÀ KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG
NGHIỆP, NÔNG THÔN
1.1.1. Thực chất và sự cần thiết công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn
1.1.1.1. Quan niệm về công nghiệp hoá
- Các quan niệm về công nghiệp hoá
Mỗi phương thức sản xuất đều có cơ sở vật chất - kỹ thuật thích ứng
với nó. Cơ sở vật chất kỹ thuật là hệ thống các yếu tố vật chất của lực
lượng sản xuất để sản xuất ra của vật chất, nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày
càng đa dạng của xã hội.
Sự biến đổi và phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, của tiến bộ
khoa học - kỹ thuật, năng lực và quy mô tích luỹ, sự tác động của quy luật
nhân khẩu, quan hệ kinh tế đối ngoại... là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất
lớn đến trình độ của cơ sở vật chất - kỹ thuật. Ngoài ra, tính chất và trình độ
của các quan hệ sản xuất, có ảnh hưởng không nhỏ và có mối quan hệ hữu cơ
đối với cơ sở vật chất - kỹ thuật.
Nói đến cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó
là nói đến trình độ, sự vận động và biến đổi của nó theo xu hướng nào.
Đặc trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của phương thức sản xuất trước
chủ nghĩa tư bản là kỹ thuật thủ công, lạc hậu.
Chủ nghĩa tư bản xuất hiện, với những bước chuyển biến có tính quy
luật của nó, tất yếu đưa sản xuất dựa trên kỹ thuật thủ công lên hiện đại, công
nghiệp đại cơ khí. Vì vậy, đặc trưng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư

tra tấn để ghép vào một kỷ luật cần thiết cho chế độ làm thuê...”
[12]

Hơn nữa, nước Anh vì là nước đầu tiên tiến hành công nghiệp hoá, nên
phải bắt đầu tự nghiên cứu, tự sáng tạo, tự áp dụng vào sản xuất và công nghiệp
hoá là một con đường vừa dài, vừa gian nan. Nước Anh đã mất khoảng 100
năm với sự bóc lột, tước đoạt tàn bạo hàng triệu người lao động mới đạt được
nền công nghiệp dẫn đầu thế giới vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.
Nước Mỹ đi sau đã học tập kinh nghiệm công nghiệp hoá của nước
Anh, đã nhập khẩu được kỹ thuật, đã thu hút được vốn, lao động, kỹ thuật

8
công nghệ từ Châu Âu chuyển sang và có thị trường Châu Âu, Châu Á, Châu
Mỹ. Đó là những lý do chính làm rút ngắn thời gian công nghiệp hoá ở Mỹ
xuống còn khoảng 80 năm.
Nước Nhật tiến hành công nghiệp hoá khoảng 60 năm với những đặc
điểm nổi bật là: Nhật đã kế thừa kỹ thuật, công nghệ và vốn thị trường của
Châu Âu và Châu Mỹ. Đồng thời, người Nhật đã sử dụng những ưu thế vốn
có của nền văn hoá và xã hội Nhật vào quá trình công nghiệp hoá.
Ở Liên Xô (cũ), quan niệm cho rằng: công nghiệp hoá là quá trình xây
dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Đó là
phát triển các ngành công nghiệp nặng mà cốt lõi là ngành cơ khí, do đó tỷ
trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng lớn.
STa-Lin viết: “Quan trọng hơn, vì nếu không phát triển công nghiệp
nặng, thì chúng ta không thể xây dựng được ngành công nghiệp nào cả, chúng
ta không thể thực hiện được một công cuộc công nghiệp hoá nào cả”.
[41]

Theo V.I.Lê Nin: “Chỉ có đại công nghiệp cơ khí mới có thể làm cho
công nghiệp và nông nghiệp hoàn toàn tách rời nhau... chính nền sản xuất

tâm là chế tạo máy. Với đường lối công nghiệp hoá như vậy, công nghiệp nặng
có vai trò đặc biệt quan trọng và trong một chừng mực nhất định nó phù hợp
với hoàn cảnh Liên Xô khi bước vào thời kỳ công nghiệp hoá: chủ nghĩa đế
quốc bao vây, chống đối, không có sự trợ giúp từ bên ngoài, trong khi yêu cầu
phải xây dựng một nền sản xuất lớn, hiện đại và bảo vệ chủ nghĩa xã hội.
Liên Xô cần thực hiện công nghiệp hoá với tốc độ nhanh, phải tập trung
vào phát triển công nghiệp nặng, nhằm đảm bảo các nhu cầu trong nước. Do vậy,
chủ trương về công nghiệp hoá này chỉ đúng với giai đoạn lịch sử Liên Xô lúc đó.
Sẽ sai lầm nếu hiểu công nghiệp hoá như vậy trong mọi hoàn cảnh, mọi phương
diện. Bởi vì, công nghiệp hoá không chỉ đơn thuần là phát triển đại công nghiệp.
+ Quan niệm mới về công nghiệp hoá: năm 1963, tổ chức phát triển
công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra quan niệm:
Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế. Trong quá trình này, một
bộ phận nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế
nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế
này, có một bộ phận công nghiệp chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư
liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế -xã hội
[23].10
Do đó, công nghiệp hoá không chỉ hiểu là quá trình phát triển nền
kinh tế dựa trên trình độ kỹ thuật, công nghệ hiện đại mà còn là quá trình
phát triển, đảm bảo tạo ra cơ cấu sản phẩm vật chất, bao gồm các điều
kiện sản xuất và điều kiện sinh hoạt, đảm bảo các mục tiêu phát triển
kinh tế và sự tiến bộ xã hội.
- Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Kinh nghiệm về công nghiệp hoá của các nước đi trước và qua thực tế
kiểm nghiệm, kết hợp với sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ và

hiện đại hoá. Việc tiến hành công nghiệp hoá phụ thuộc nhiều vào điều
kiện và hoàn cảnh của mỗi nước và tình hình chung của khu vực và thế
giới. Xu hướng hiện nay ở các nước đang phát triển là vừa tiến hành công
nghiệp hoá theo những kinh nghiệm truyền thống, nhưng đồng thời cũng
thường xuyên cập nhật, hội nhập những thành tựu khoa học- kỹ thuật mới
nhất, để vừa đảm bảo phát triển tuần tự, vừa phát triển nhảy vọt ở những
thời điểm, những ngành nghề có điều kiện và khả năng.
1.1.1.2. Thực chất công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển
nền nông nghiệp truyền thống phát triển thành nông nghiệp hiện đại, về
thực chất là hiện đại hoá các biện pháp sản xuất nông nghiệp, hiện đại
hoá công nghệ sản xuất, hiện đại hoá quản lý sản xuất kinh doanh và
hiện đại hoá lực lượng lao động ngành nông nghiệp; làm thay đổi căn
bản tính chất, phương thức sản xuất, cơ cấu sản xuất, hình thức tổ chức
quản lý sản xuất của một nền nông nghiệp sản xuất tự cung, tự cấp, dựa
chủ yếu vào điều kiện tự nhiên với kỹ thuật thủ công sang một nền nông
nghiệp sản xuất hàng hoá với kỹ thuật công nghệ tiên tiến, trong điều
kiện thương mại hoá toàn cầu và phải đảm bảo cho sự phát triển bền
vững về tự nhiên, kinh tế- xã hội.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là một bộ phận của công
nghiệp hoá nông thôn. Nội dung chủ yếu của nó là đưa máy móc thiết bị và
phương pháp sản xuất công nghiệp cùng với các hình thức tổ chức sản xuất kiểu
công nghiệp vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nhằm khai thác triệt để lợi thế
của mỗi ngành, trên cơ sở đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm tiêu dùng
và xuất khẩu. Nội dung này được cụ thể hoá trên các mặt cơ giới hoá, điện khí
hoá, thuỷ lợi hoá, sinh học hoá trong các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp,
thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đồng thời làm
tan rã dần nền nông nghiệp chậm phát triển và nông nghiệp truyền thống.


giãn và giải trí cho các tầng lớp dân cư và cộng đồng các dân tộc.

13
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình thay đổi căn bản
phương thức hoạt động, cơ cấu kinh tế của nông thôn và thay đổi căn bản tầng
lớp gắn liền với sản xuất nông nghiệp là nông dân.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn làm thay đổi căn bản khái
niệm về nông thôn truyền thống: Nông thôn là một xã hội được tổ chức trên
nền tảng sản xuất nông nghiệp và dân cư của nó là những người làm ruộng.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra cùng với quá trình đô thị hoá,
đã làm thay đổi hệ thống xã hội ở các phương diện: tập trung hoá sản xuất, do
đó tập trung hoá dân cư, tăng một cách căn bản các quá trình trao đổi, giao
dịch dịch vụ, sự phát triển của xã hội tiêu dùng, phát triển mạnh hạ tầng kinh
tế - xã hội. Sự thay đổi này đã dẫn tới sự thay đổi căn bản trong phương thức
sản xuất và phương thức sinh hoạt xã hội, văn hoá.
Cùng với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã cải tổ toàn bộ xã hội
theo diện mạo công nghiệp-thương mại hoà nhập vào xu thế toàn cầu hoá và sự
biến chuyển của xã hội nông thôn cũng không thể nằm ngoài xu hướng chung
này. Cơ cấu nghề nghiệp thay đổi, xu hướng cơ bản là chuyển từ hoạt động
nông nghiệp sang cơ cấu dân cư nghiêng về phi nông nghiệp, tỷ lệ hộ ở nông
thôn làm nông nghiệp giảm, tỷ lệ hộ phi nông nghiệp tăng lên. Tuy nhiên, ở các
nước phát triển, dân cư chuyển vào sống trong các đô thị ngày càng tăng cùng
với dân cư nông thôn giảm đi đáng kể (tỷ lệ dân nông thôn ở các nước công
nghiệp phát triển chỉ còn 10 – 25%).
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn liền với
yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ: tăng tỷ
trọng công nghiệp và dich vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Vì vậy, công
nghiệp hoá không thể thiếu phát triển nông nghiệp, các ngành nghề phi nông
nghiệp trên địa bàn nông thôn, áp dụng phương pháp công nghiệp vào sản

Nam. Vì vậy, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là nhân tố quan
trọng hàng đầu để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, nhờ đó thúc đẩy nhanh
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thực hiện phân công lại lao
động xã hội hợp lý hơn. Không chỉ ở Việt Nam, mà ngay cả các nước Đông
Á, sự phát triển nông nghiệp vẫn được coi là một trong các nhân tố quan trọng
tạo nên sự thần kỳ của họ trong nửa cuối thế kỷ trước.

15
Quy mô dân số Việt Nam ngày càng tăng nên nhu cầu về lương thực,
thực phẩm cũng tăng lên rất nhanh, trong khi đó quỹ đất nông nghiệp của
nước ta lại ít. Do đó, để đáp ứng đầy đủ nhu cầu lương thực cho hơn 80 triệu
dân đòi hỏi nông nghiệp phải được công nghiệp hoá, hiện đại hoá để tạo sự
phát triển vượt bậc về năng suất, cây trồng, vật nuôi. Vả lại, nếu nông
nghiệp không sản xuất đủ lương thực thì việc dùng ngoại tệ để nhập khẩu
lương thực sẽ đè nặng lên chi tiêu của Chính phủ, do đó sẽ ngăn cản việc
nhập khẩu máy móc, công nghệ, nguyên nhiên vật liệu phục vụ công nghiệp
hoá đất nước. Thực tế nói lên rằng, nếu trong cơ cấu kinh tế quốc dân mà
không có một nền nông nghiệp phát triển để đảm bảo đầy đủ lương thực cho
con người thì toàn bộ nền kinh tế sẽ gặp không ít khó khăn trong việc tạo ra
tốc độ tăng trưởng cao. Do đó, vấn đề an ninh lương thực là nhiệm vụ
thường xuyên của quốc gia cũng như từng địa phương.
Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu của sự phát triển công nghiệp và dịch vụ
Nông nghiệp và nông thôn không chỉ sản xuất ra sản phẩm tiêu dùng trực
tiếp cho con người, mà còn là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp,
trước hết là cho công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp hàng
tiêu dùng và hàng suất khẩu. Vì vậy, sự lạc hậu hay tiến bộ của nông nghiệp,
nông thôn có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển công nghiệp và dịch vụ.
Thực tế nhiều nước đã chỉ ra rằng, sự lạc hậu của lực lượng sản xuất tại
nông thôn đã hạn chế đến sự tăng trưởng của công nghiệp thành thị, vì nguồn
tích luỹ thấp, mức đầu tư bị giảm xuống. Trong trường hợp đó, khu vực công

động ra khỏi nông nghiệp để chuyển nhanh sang lĩnh vực công nghiệp và dịch
vụ, do đó công nghiệp và dịch vụ sẽ có cơ hội phát triển nhanh.
Học thuyết kinh tế và kinh nghiệm các nước đã qua công nghiệp hoá đều
chỉ ra rằng, quá trình phát triển kinh tế theo hướng hiện đại đều gắn liền với việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động từ nông thôn ra thành thị, từ nông nghiệp
sang phi nông nghiệp. Trong vòng 30 năm từ 1965-1995, tại nhiều nước châu Á
thực hiện công nghiệp hoá, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm đi khá nhanh và số
lao động đó được chuyển vào các ngành công nghiệp và dịch vụ có năng suất
cao hơn. Ở những nước có tốc độ công nghiệp hoá nhanh, tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao thì tốc độ chuyển dịch lao động nông nghiệp ngày càng lớn.
Công nghiệp hoá gắn liền với đô thị hoá và thu hút phần lớn lao động
từ nông nghiệp chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp, chủ yếu từ dịch
vụ. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tuy không đòi hỏi tăng nhanh số

17
lượng lao động vào các hoạt động thuần tuý công nghiệp, nhưng nó đòi hỏi
nhiều lao động dịch vụ hỗ trợ như: vận chuyển hàng hoá, đóng gói, phân loại
sản phẩm, thông tin thị trường, tiếp thị, y tế, văn hoá, giáo dục…khi các hoạt
động này tăng nhanh cả về số lượng và năng lực thì nó đòi hỏi nguồn lao
động bổ sung rất lớn từ nông nghiệp.
Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu tích luỹ vốn cho nền kinh tế-điều kiện tiên
quyết để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Là một nước nông nghiệp với đa phần dân số sinh sống ở nông thôn,
thế mạnh của nước ta là thế mạnh về nông nghiệp và các ngành nghề phi nông
nghiệp ở nông thôn. Đây là tiềm năng to lớn cần khai thác để tạo nguồn vốn
tích luỹ và cũng là mục tiêu của chủ trương dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn sẽ
cho phép khai thác triệt để và có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông, lâm,
ngư nghiệp ở nước ta nhằm tạo giá trị thu nhập cao. Việc phát triển công nghệ

Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu của phát triển bền vững, nâng cao đời
sống xã hội nông thôn
Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp và kinh tế nông thôn do công
nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho
gần 80% dân số sinh sống tại nông thôn, do đó là điều kiện căn bản để tạo
nên sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Một chân lý rút ra từ thực
tiễn: dân có giàu thì nước mới mạnh, 73% dân số sống ở nông thôn (năm
2005) mà chủ yếu là nông dân, nếu nông dân không giàu thì đất nước làm
sao giàu mạnh được? Do vậy, phải làm cho nông dân giàu lên, tăng sức mua
ở nông thôn chính là tạo ra thị trường thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Đó cũng là bài học rút ra từ kinh nghiệm công nghiệp hoá ở
các nước đi trước như Bắc Mỹ, Tây Âu, Singapo, Hàn Quốc. Nông thôn phát
triển, đời sống nông dân no đủ, họ sẽ tin tưởng vào cuộc sống, vào chế độ xã
hội. Do đó mà yên tâm làm giàu, xây dựng nông thôn giàu đẹp, ổn định. Sự
ổn định của nông thôn sẽ có tác động rất lớn đến sự ổn định của cả nước.
Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua nhiều
năm bị chiến tranh tàn phá, do đó đang tồn tại sự chênh lệch khá xa về kinh
tế và văn hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng trung du và miền
núi, do đó tiềm ẩn nguy cơ sự bất ổn định.

19
Hơn nữa, sự lạc hậu của nông nghiệp và nông thôn đã làm tăng thêm
làn sóng di cư tự do từ nông thôn ra thành thị, tạo nên hiện tượng quá tải ở
thành thị. Quá trình đô thị hoá ồ ạt đặt ra những thách thức về môi trường
đối với thành phố, như vấn đề vệ sinh, ô nhiễm môi trường sống, nhu cầu
nước sạch, giao thông vận tải, rác thải, trật tự trị an... Do vậy, tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không thể không coi trọng đầu tư cho
nông nghiệp và nông thôn, không thể không gắn công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp với công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn để giảm dần
sự cách biệt về trình độ phát triển giữa các vùng trong nước. Bài học rút ra

ta vẫn đang phải dựa vào nông nghiệp trong nhiều năm tới nữa. Điều đó nói
nên rằng, vấn đề phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn sẽ là mối
quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước.
Nền nông nghiệp lạc hậu thì năng suất, sản lượng thấp, không đủ sức
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nông sản, thực phẩm của xã hội, thậm chí
cho chính bản thân nông thôn. Điều đó đòi hỏi nông nghiệp phải trở thành
một nền nông nghiệp phát triển toàn diện, hiện đại và nông thôn trở thành một
nông thôn giàu có, văn minh. Nhưng bản thân nông nghiệp và nông thôn lại
không thể tự mình tạo ra quá trình đó, không thể đổi mới cơ sở vật chất - kỹ
thuật và công nghệ để trở thành nền nông nghiệp hiện đại; cũng không thể có
khả năng tạo ra sức tăng trưởng nhanh để tạo thêm nhiều việc làm cho người
lao động... Những bất cập đó cho thấy, lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn
không thể thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá bản thân nó, mà đòi hỏi
phải có sự tác động của công nghiệp và đô thị.
Thứ sáu, xuất phát từ tiềm năng, lợi thế của đất nước hiện nay
Việt Nam là một nước nông nghiệp. Tiềm năng và lợi thế của Việt Nam
cũng là tiềm năng về phát triển nông nghiệp, bao gồm: tài nguyên đất, tài
nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên mặt nước và yếu tố con người... Đây
vừa là điều kiện, vừa là mục đích của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn hiện nay. Việc tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn là nhằm khai thác triệt để và phát huy các tiềm năng này,
nhưng mặt khác công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hiện tại
cũng chỉ có thể dựa chủ yếu vào những tiềm năng đó.
Nguồn tài nguyên phong phú của Việt Nam cho phép phát triển nền
nông nghiệp đa dạng. Diện tích đất nông nghiệp nước ta chiếm 39,2% diện

21
tích tự nhiên, trong đó đất có độ màu mỡ chiếm tỷ lệ tương đối cao (chủ yếu
tập trung ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long
và một số tỉnh vùng Trung Bắc Bộ). Đây là điều kiện để phát triển các vùng

đại hoá từ nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với
điều kiện thực tiễn và cũng phù hợp với quy luật phát triển từ sản xuất nhỏ
lên sản xuất lớn hiện đại. Phải công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn thì mới vực dậy được cả khu vực nông thôn, và nhờ đó đẩy
mạnh phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Việc Đảng ta đặt ra nhiệm
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn lên hàng đầu
trong những năm trước mắt là vừa hợp với quy luật, vừa hợp với yêu cầu
của thực tiễn nền kinh tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Nếu
muốn công nghiệp hoá gấp thì là chủ quan. Cho nên, trong kế hoạch phải
tăng tiến nông nghiệp. Ta cho nông nghiệp là quan trọng, ưu tiên, rồi đến
thủ công nghiệp, sau mới đến công nghiệp nặng”. Theo Người, đó là cách
để “đi bước nào vững vàng, chắc chắn bước ấy”.
[26]

1.1.2. Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn ở nước ta phụ thuộc rất lớn vào việc xác định đúng đắn nội
dung cụ thể cho từng thời kỳ cụ thể. Theo tinh thần của Hội nghị lần thứ năm
Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay đến năm 2010 cần giải quyết tốt
những nội dung sau:

1.1.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng
hiện đại
Biến đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình căn bản của sự phát triển kinh tế.
Một sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế có liên quan đến sự thay đổi vai trò của
các khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, của các ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, của trồng trọt và chăn nuôi, của các loại cây
và các loại con... trong một thời gian dài. Những thay đổi đó được đánh giá
bằng sự thay đổi tương quan về tỷ trọng của các khu vực, các ngành, hay các

thực hiện 3 nhiệm vụ lớn và trực tiếp là: bảo đảm an ninh lương thực quốc gia;
đảm bảo tối đa nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tăng giá trị nông
sản xuất khẩu. Để thực hiện các nhiệm vụ đó, nông nghiệp, nông thôn không thể
là một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lạc hậu, mà phải là nền nông nghiệp phát
triển toàn diện, hiện đại. Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý cho nông nghiệp
và nông thôn sẽ cho phép sự lựa chọn những công nghệ thích hợp để phát huy
thế mạnh của nông nghiệp, nông thôn, do đó sẽ khai thác tốt nhất các nguồn lực

24
hiện có ở nông thôn, tạo nên một sức bật mới trong nông thôn.
Nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng cao và đa dạng thì sản xuất nông
nghiệp cũng không thể tập trung sản xuất lương thực, mà còn phải đẩy mạnh
sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi đa dạng khác để đáp ứng nhu cầu đó.
Đồng thời với đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, nông thôn còn hướng tới xây
dựng và phát triển những vùng sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn để áp
dụng có hiệu quả những thành tựu mới của khoa học – công nghệ, nâng cao
năng suất và chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường trong nước và quốc tế. Xây dựng vùng hàng hoá lớn sẽ tạo được khối
lượng lớn về nông sản với chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế
biến, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, từ đó nâng cao đời sống nông dân, tăng
cường sức mua, mở rộng thị trường hàng hoá công nghệ phẩm. Điều đó đến
lượt nó lại trở thành động lực của sự phát triển công nghiệp.
Thứ hai, chuyển nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn từ trạng thái khép
kín sang nền nông nghiệp đa hàng hoá, hướng mạnh vào xuất khẩu, mở rộng
phân công và hợp tác lao động
Phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, mở rộng
phân công và hợp tác lao động là xu thế tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển
chung của các nước đang phát triển, mà Việt Nam cũng không nằm ngoài
những vấn đề mang tính quy luật đó. Chỉ trên cơ sở sản xuất hàng hoá phát
triển mới kích thích và thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status